October 28, 2013

Suy nghĩ về việc học - Nguyễn Huỳnh Mai

Hocthenao.vn
Học là một quyền
Tất cả trẻ em đều có quyền được đi học. “Ngọc bất trác bất thành khí, nhân bất học bất tri lý” -  ngọc mà không mài thì không tỏa sáng, người không học thì không biết lý lẽ ở đời. Con người là một con vật sống trong xã hội, và để có thể sống trong xã hội, ngày xưa, các bậc cao lão truyền hiểu biết kinh nghiệm cho trẻ. Ngày nay xã hội giao cho trường học, ít nhất, là dạy trẻ một số vốn liếng cơ sở để làm người.
Quyền được đi học là như thế. Nhưng đi học không có nghĩa là phải vào khuôn mẫu mà xã hội định đoạt, như kiểu rèn các chú lính chì. Trẻ có quyền được đi học trong sự tôn trọng bản thể của chúng, quyền của một người tự do, được kính trọng – như chúng được dạy để kính trọng người khác.
Học một cách tích cực
Không có nghĩa là phải theo “khuôn vàng thước ngọc của thánh hiền”, một kiểu “nhồi sọ”. Học là để thỏa mãn cái tò mò của trẻ, để chúng có thể giải mã môi trường sống, để sống tự do chứ không lệ thuộc người khác, để có thể suy nghĩ, quyết định với những ý thức cần thiết để có thể lựa chọn con đường mình đi. Trẻ có quyền chọn cách học, học chậm hay học nhanh, học với bạn hay với thầy. Trường học ở đó để đưa ra một số giải pháp thích hợp nhất đối với đặc thù của lớp, của trường, của nhóm học trò… Chương trình học phải được dự trù với những khả năng uyển chuyển thay đổi tùy đối tượng… Để trẻ có thể phát triển, thành người. Học để hạnh phúc nữa. Nếu không, trường học thành… nhà tù.
Học suốt đời
Đúng rồi, quá trình học không ngừng lại khi trẻ tròn 18 tuổi. Cũng không giới hạn trong sáu giờ học ở trường mỗi ngày. Trẻ cũng có quyền học… thêm với điều kiện là các em tự do chọn lựa khi các em có nhu cầu. Người lớn cũng có quyền tiếp tục đi học. Chung quanh ta, xã hội biến đổi, khoa học tiến triển… Học suốt đời để hòa hợp tốt trong xã hội đi theo đoàn tàu chứ không bị bỏ rơi trên sân ga vắng lạnh. Ở các nước như Bỉ, Pháp, giáo dục thường xuyên Education permanente là một sinh hoạt rất “nhộn nhịp”. Ngay tại các làng hẻo lánh cũng có những sinh hoạt về văn hóa sinh ngữ, âm nhạc hội họa… cho tất cả mọi người, mọi lứa tuổi… Những sinh hoạt miễn phí vì nằm trong ngân sách quốc gia hay của những cơ quan như tổ chức tương trợ Mutuelle, nghiệp đoàn…
Học với người đồng hành, với bạn
Tất cả mọi người trong xã hội đều có thể giúp ta thêm kiến thức, kinh nghiệm sống. Trẻ ở trường chơi với bạn, học cùng với bạn. Bạn có thể là một nguồn cho thêm “sinh khí”, hay “cạnh tranh” làm cho sự học sống động và có ý nghĩa hơn. Bạn cũng có thể là một người thầy tốt vì đồng hàng, đồng hội đồng thuyền, ta không bị “áp lực” như lúc ta phải nhận sự truyền hiểu biết từ thầy.
Học làm quen với đa văn hóa và với văn hóa đại đồng
Không phải đi ra nước ngoài mới đối diện với một văn hóa khác. Đa văn hóa ở đây dùng trong nghĩa rộng: văn hóa thành thị, văn hóa nông thôn, văn hóa của người lớn tuổi, văn hóa của giới trẻ…
Tôn trọng văn hóa của người khác và được người khác tôn trọng văn hóa mình phải là điều kiện cần cho mọi giáo dục. Bao nhiêu máu đã đổ vì kỳ thị. Học là để biết hòa mình vào với tất cả cách suy nghĩ hành động của người khác, đồng thời được quyền giữ “lập trường” của mình chứ không phải “bán hồn cho quỷ sứ”. Dĩ nhiên, sống trong xã hội thì phải có một số “thương lượng”, “nhân nhượng” với nhau, tìm mẫu số chung cho nhau. Vã lại, khi tranh luận, với những tiếp thu về khoa học… có thể chính bản thân ta sẽ tự nguyện thay đổi ý kiến. Trường học hay môi trường chung sẽ làm nẩy sinh ra một văn hóa chung.
Đa văn hóa còn có nghĩa là văn hóa của mỗi một trong chúng ta được tôn trọng như nhau. Không có một văn hóa áp đặt và một văn hóa bị đặt. Thỏa thuận phải là phương kế chính để thiết lập liên hệ giữa những người… “văn minh” với nhau.
Học với thầy
E-learning càng ngày càng được nhiều người theo. Thế nhưng học với thầy vẫn cần. Thầy có thể là người truyền cảm xúc, chia sẻ đam mê, tạo tình người…(1)
Thầy cũng có thể là một cái gương, một mẫu mực soi đường cho ta đi. Trong tiểu sử của mỗi một trong chúng ta có lẻ ai cũng còn giữ vài hình ảnh của một người thầy của ta lúc ta còn niên thiếu…
Quan niệm về quyền của người đi học và rộng hơn, về giáo dục nhân bản, khai phóng đã được nhiều tác giả bàn đến. Điển hình nhất là Philippe Perrenoud (2) và Jean Therer (3).
Tham khảo:
Nguyễn Huỳnh Mai là nhà xã hội học về giáo dục hiện đã nghỉ hưu. Bà Huỳnh Mai hiện đang sinh sống tại Bỉ và là cộng tác viên của ĐH Liège.

Nghệ thuật giảng dạy

Nghệ Thuật Giảng Dạy – Mortimer J. Adler, ICEVN

Hocthenao.vn
Socrates đã đưa ra một nhận định sâu sắc và căn bản về bản chất của giảng dạy khi so sánh nghệ thuật giảng dạy với nghề bà đỡ đã có từ lâu đời. Cũng giống như bà đỡ giúp cho bà mẹ sinh con, người thầy giúp cho tâm trí [của học sinh] tự tìm ra ý tưởng, kiến thức, và sự hiểu biết. Khái niệm cơ bản ở đây là: giảng dạy là một nghệ thuật có vai trò giúp đỡ khiêm tốn mà thôi. Người thầy không sản xuất ra kiến thức hay nhồi nhét những tư tưởng vào tâm trí trống rỗng và thụ động của học sinh. Chính người học, chứ không phải người dạy, mới là người sản xuất đóng vai chính trong sự sản xuất kiến thức và ý tưởng.
Người xưa đã phân biệt những kỹ năng của y sĩ và nông gia với kỹ năng của người thợ đóng giày hay thợ xây nhà. Aristotle gọi nghề thuốc và nghề nông là những nghệ thuật hợp tác, bởi vì những nghề này phụ với thiên nhiên để đạt đến những kết quả mà thiên nhiên có thể tạo ra. Giày dép và nhà cửa không thể thành hình được nếu không có bàn tay của con người; nhưng cơ thể con người vẫn đạt được sự khỏe mạnh mà không cần đến y sĩ, cây cỏ và thú vật vẫn lớn được mà không cần có bàn tay của nông gia. Tay nghề của y sĩ và của nông gia chỉ giúp cho sức khỏe và sự tăng trưởng được chắc chắn và đều đặn mà thôi.
Giảng dạy, giống như làm ruộng và chữa bệnh, là một nghệ thuật hợp tác giúp cho thiên nhiên làm những điều “tự nhiên,” và khi có sự hợp tác này thì kết quả sẽ tốt đẹp hơn. Chúng ta đã học được nhiều điều mà không có thầy nào dạy hết. Có những cá nhân kiệt xuất đã có được sự hiểu biết sâu rộng mà chỉ được đi học rất ít. Nhưng đối với đa số chúng ta, tiến trình học sẽ chắc chắn hơn, bớt nhọc nhằn hơn nếu được người thầy giúp đỡ. Sự hướng dẫn có phương pháp của thầy cô giúp cho việc học của ta – nhấn mạnh là của ta và do ta – dễ dàng và có hiệu quả hơn.
Giảng dạy có một khía cạnh căn bản nhưng lại không nằm trong hai nghệ thuật hợp tác thuận theo với bản chất của thiên nhiên. Đó là, giảng dạy luôn luôn liên quan đến một mối quan hệ giữa tâm trí của hai người. Thầy cô không chỉ là một quyền sách biết nói, một cái máy ghi và phát âm vô hồn, truyền tải thông tin đến một khán giả vô danh nào đó. Người thầy đối thoại với học sinh của mình. Cuộc đối thoại này khác xa một “cuộc nói chuyện,” vì phần lớn những gì được giảng dạy là những điều được truyền đi một cách vô thức trong cuộc trao đổi giữa thầy và trò. Ta có thể có kiến thức từ bách khoa từ điển, từ những băng ghi âm, từ những chương trình truyền hình, nhưng không có được thành tố vô hình này, một thành tố luôn luôn hiện hữu trong mối quan hệ tốt đẹp giữa thầy và trò.
Đây là mối liên hệ hai chiều. Thầy trao và trò nhận sự giúp đỡ và hướng dẫn. Người đi học được gọi là “học trò” vì chấp nhận và đi theo “học khoa” do người thầy đề ra để rèn luyện tâm trí của mình. Điều này chẳng phải là một sự quy phục thụ động trước một quyền uy độc đoán, mà là sự chủ động thu nhận của người học trò về những điều hướng dẫn do người thầy đề ra. Một người học trò giỏi xem vai trò của người thầy cũng giống như vai trò của cha mẹ, là phương tiện để đi tới sự trưởng thành và độc lập của chính mình. Một người học trò ngỗ nghịch, từ khước sự giúp đỡ của người thầy, là tự làm hại lấy mình và làm phí phạm đi thời giờ học tập.
Nói một cách giản dị và theo nghĩa rộng nhất, người thầy chỉ cho học trò cách phân biệt, đánh giá, phán đoán, và nhận thức được đâu là sự thực. Người thầy không áp đặt một khối những tư tưởng hay giáo điều cứng nhắc và bắt học trò phải học thuộc lòng. Người thầy dạy cho học sinh của mình biết cách học và suy nghĩ do chính mình. Người thầy khuyến khích chứ không ngăn chặn những đáp ứng thông minh và có tính cách phê phán của học sinh.
Sự đáp ứng trước những điều hướng dẫn của người thầy và sự phát triển tâm trí của học trò chính là phần thưởng thích đáng duy nhất cho công sức yêu thương của người thầy. Giảng dạy là một nghệ thuật hợp tác và một thiên chức cao cả, được hiến dâng để làm tốt cho người. Đó là một hành vi cực kỳ độ lượng. Thánh Augustine gọi đó là hành động của lòng nhân đức vĩ đại nhất.

Học “định” để được “tuệ”

Hocthenao.vn
Tôi mượn hai chữ “định” và “tuệ” trong Phật giáo để nói với các em một câu chuyện nhỏ. Xin các bậc phụ huynh đừng sợ tôi đưa các em vào thế giới tương chao hoặc vào triết lý cao xa. “Định” và “tuệ” là những chuyện hiển nhiên trước mắt, là kinh nghiệm thường xuyên của các em từ khi bước vào nhà trường, ngay cả trước đó nữa. Các em có học gì khác đâu? Học “định” để được “tuệ”, đơn giản chỉ có thế. Đây là chuyện giáo dục sơ đẳng, không phải chuyện lý thuyết viển vông trên chốn đâu đâu.
Hãy nhìn em bé cắn bút trước một bài toán cộng trừ. Em đang luyện tập trí óc. Mồ hôi em không chảy như người chạy bộ để luyện tập thân thể, nhưng công phu tập luyện nào ai kém ai? Sinh ra, em đã có đủ mọi khả năng để biết, nhưng mọi khả năng đều ở trong trạng thái tiềm tàng. Tập luyện, tập luyện từng phút từng giờ, để phát triển những khả năng tiềm tàng ấy thành hiện thực, đó là công việc của giáo dục.
Đánh vần, tập đọc, học thuộc lòng, cộng trừ nhân chia… tri thức nẩy nở dần, ký ức nẩy nở song song, mỗi bước tiến của tri thức dựa trên mỗi bước tiến của trí nhớ, ký ức này phát triển trên ký ức kia, cứ thế trí nhớ tích tụ cả một kho tàng ký ức, để sàng lọc, để lựa chọn, để lấy ra tri thức nào đáp ứng đúng cho mỗi tình huống, mỗi hoàn cảnh, mỗi giải đố. Có ai thấy mồ hôi toát ra trong đầu em bé đâu? Nhưng cứ thế, em trưởng thành, hôm qua bập bẹ chữ cái, hôm nay đọc sách làu làu. Bao nhiêu khổ công thầm lặng!
Bài học đầu tiên: Sự chú ý
Em tập luyện cái gì trước hết? Chú ý. Không chú ý thì không bao giờ đầu óc em bé trưởng thành, dù chỉ một bước. Ngôn ngữ Phật giáo gọi là “định”. “Định” là cố gắng đầu tiên, cho nên là căn bản. Là căn bản, cho nên cũng là khó nhất. Khó nhất cho em bé mà cũng khó nhất cho người lớn. Bởi vì người lớn sinh ra từ em bé!
Hãy xem em bé chơi: tay nắm đồ chơi này rồi vứt, nắm đồ chơi khác rồi vứt, loăng quăng không ngừng. Đến tuổi vào lớp, đố bé nào chăm chú được một cái gì trong vài phút. Có cha mẹ nào không than vãn: con tôi không ngồi yên, hết la hét thì cãi lộn, chọc ghẹo.
Cháu tôi, tám tuổi, làm bài luận tả cây chuối, đã xuống hàng với một câu kết luận bất hủ: “Em rất thích cây xoài”. Cháu chỉ có thể tập trung chú ý trên cây chuối trong mười câu, đến câu cuối thì cây chuối bay mất trong đầu, cây xoài ngang nhiên chiếm cứ.
Trên ghế nhà trường, sự chú ý của em bé rất phức tạp. Trí óc em phải liên hệ nhiều yếu tố khác nhau để nối kết chúng với nhau thế nào cho hợp lý nhất. Nếu không chú ý, em sẽ không tìm ra được mối liên hệ, mà không tìm được thì kết quả sẽ vô cùng tai hại cho tri thức, bởi vì dẫn đến lầm lẫn. Nhưng nếu lầm lẫn mà biết lầm lẫn thì đó lại là một bước tiến khác của chú ý, đưa đến việc tìm ra được đâu là đầu mối của lầm lẫn để lần sau tránh một lầm lẫn tương tự.
Cứ thế, từng bước, từng bước, từ bài toán đến bài văn, giáo dục ở nhà trường về tập trung chú ý mở ra cho em bé cánh cửa của tư tưởng. Ánh sáng đó, thuật ngữ Phật giáo gọi là “tuệ”. Như ngọn đèn đuổi tăm tối ra khỏi gian phòng, “tuệ” đuổi lầm lẫn ra khỏi trí óc. Biết thế nào là đúng thế nào là sai, tư tưởng của em bé nẩy nở.
Học toán, em dễ hiểu hơn thế nào là lầm lẫn. Hai chiếc xe lửa, chiếc trước chiếc sau, hoặc chạy ngược nhau, để cùng đến một nhà ga. Em phải tính toán vận tốc thế nào để chiếc này chiếc kia êm ru đến trước nhà ga an toàn. Tính đúng, hành khách bước xuống xe vui vẻ. Tính sai, xe cứu thương phóng đến ào ào. Học văn, đúng sai khó biết hơn, nhất là lúc lên cao, em học sinh bước vào lĩnh vực thưởng thức thơ. Nhưng dù toán hay văn, chú ý đều phải tập trung từ những chi tiết nhỏ nhất, bởi vì sai một ly đi một dặm.
Bài học từ… cái dấu phẩy
Ví dụ một chi tiết nhỏ nhất trong văn: cái dấu phẩy. Hèn mọn thế đấy, các em ạ, vậy mà cái dấu phẩy dạy cho các em bài học chú ý thường xuyên mà nếu không vận dụng cho tinh, hoặc là tư tưởng của em sẽ chạy bậy, lộn tùng phèo, hoặc là em không diễn tả được tư tưởng rõ ràng cho người khác hiểu. Tôi nhớ câu văn sau đây mà thế hệ chúng tôi học thuộc lòng vì nằm trong một bài văn in trong sách giáo khoa, câu văn của Nguyễn Bá Học:
“Đường đi khó, không khó vì ngăn sông cách núi, mà khó vì lòng người ngại núi e sông”.
Tôi không nói đùa: bao nhiêu đồng chí đồng môn của tôi hồi mười tuổi không hiểu nổi câu văn chỉ vì ê a đọc một mạch như đọc kinh, không chú ý đến hai cái dấu phẩy. Ê a như vậy, câu văn nghe như thế này: đường đi khó không khó mà khó… Con đường gì mà kỳ quái vậy, khó không khó mà khó là cái làm sao? Loạn xà ngầu, tư tưởng không tìm ra được manh mối, tối om như nhà không đèn. Chú ý đến hai cái dấu phẩy, ánh sáng mở toang! Nhà Phật nói: “định” mở cửa cho “tuệ”.
Sách báo ngày nay xem chừng không mấy chú ý đến cái dấu phẩy hèn mọn, nhưng dân gian thì có chú ý đấy. Biết đâu thầy giáo tài hoa nhất của các em là tấm bảng khẩu hiệu to tướng mà tôi đọc được trên một ngã tư lớn của thành phố: “Gia đình hai con vợ chồng hạnh phúc”. Bàn tay vô hình nào đó đã phẩy một dấu phẩy hùng hồn sau chữ “vợ”, biến hạnh phúc chung của đôi vợ chồng gương mẫu thành hạnh phúc riêng tư, kín đáo, của một đức ông chồng trịch thượng thời hoàng kim phong kiến đa thê. Một cái dấu phẩy, nghìn trùng xa cách!
Đó là những cái dấu phẩy hữu hình. Đi vào thưởng thức thơ, em học sinh còn phải biết chú ý đến những dấu phẩy vô hình mà em tự mình khám phá ra để thấy câu thơ hay hơn, tưởng tượng bay cao hơn, tư tưởng chính xác hơn. Chẳng hạn câu này trong Kiều, diễn tả nỗi lòng của Thúy Kiều trong đêm vắng, trước giờ bán mình chuộc cha:
Một mình âm ỷ đêm chầy
Đĩa dầu vơi nước mắt đầy năm canh.

Một mình bên đèn, Kiều thức suốt sáng. Nàng khóc. Trong khuya vắng, tất cả đều câm lặng, chỉ còn hai hình ảnh có hồn: đĩa dầu và nước mắt – nước mắt là nhân vật chính, đĩa dầu là chứng nhân. Đĩa dầu vơi dần, nỗi khổ đầy dần, như thử cái vơi của bên này tràn qua cái đầy của bên kia. Câu thơ hay ở cách đối chọi giữa hai chữ “vơi” và “đầy”. Câu thơ còn hay ở cách ngắt câu, ngắt ở “vơi” và ngắt ở “đầy”, khác với cách ngắt thông thường trong thể lục bát. Đọc câu thơ mà không biết ngắt như vậy, cái thần của câu thơ sẽ biến mất, hình ảnh vơi đầy mờ nhạt, tưởng tượng nghèo đi, rung động không đến. Phải đọc: Đĩa dầu vơi / nước mắt đầy / năm canh.
Đó là hai dấu phẩy vô hình làm nẩy nở khiếu thưởng thức thơ nơi em học sinh lớp mười, mười một.
Cũng vậy, với khả năng chú ý phát triển dần dần, em có thể khám phá ra một sự lạ lùng kỳ diệu trong bài “Tiếng thu” của Lưu Trọng Lư, và sẽ thấy tại sao bài thơ hay đến thế. Đây là bài thơ nổi tiếng:
Em không nghe mùa thu
Dưới trăng mờ thổn thức?
Em không nghe rạo rực
Hình ảnh kẻ chinh phu
Trong lòng người cô phụ?
Em không nghe rừng thu
Lá thu kêu xào xạc
Con nai vàng ngơ ngác
Đạp trên lá vàng khô?

Ngoài âm điệu, ngoài hình ảnh, ngoài cảm giác mà bài thơ gợi lên trong tâm hồn người đọc, em học sinh có thể tự hỏi: tại sao “Em không nghe” mà không phải “Em nghe không”? Nếu ví thử tác giả viết “Em nghe không”, thì thi tứ của bài thơ sẽ bay đi hết. “Em nghe không” chỉ là một câu hỏi. “Em không nghe” là cả một trời tưởng tượng.
Tưởng tượng nhà thơ đang thủ thỉ với bạn: lắng nghe, em, lắng nghe những hình ảnh, những âm thanh, những rung động sâu kín nhất, mong manh nhất, huyền ảo nhất của mùa thơ mộng nhất… Em không nghe? Nghe rõ hơn nữa đi, nghe rõ tự trong lòng, kìa trăng, kìa lá, kìa nai, kìa xôn xao thi tứ… em không nghe?…
Cùng với bạn của nhà thơ, em học sinh bị lôi cuốn vào chú ý, vào “định”, để nhập vào bài thơ, vì với một bài thơ chứa chan cảm giác như vậy, không nhập vào thơ thì không thấy hay đâu cả, không thấy mùa thu, không mở được “tuệ”.
Chưa hết, em học sinh còn có thể chú ý vào cấu trúc của bài thơ và khi đó mới thấy cái thần diệu của ngôn ngữ, mới thấm thía thi vị của một dấu hỏi, của cách ngắt bài thơ tài tình sau hai câu, rồi sau ba câu, rồi sau bốn câu. Hiếm có một bài thơ ngắt quãng thần kỳ như thế. Dấu hỏi sau hai câu, rồi dấu hỏi sau ba câu, rồi dấu hỏi sau bốn câu.
Tuồng như nói xong hai câu, người bạn lơ đãng vẫn chưa nghe được, phải nói ba câu để chú ý hơn; ba câu vẫn chưa hiệu quả, phải bốn câu… Bốn câu, người bạn hình như vẫn chưa nghe thấy gì vì bài thơ tận cùng bằng một dấu hỏi.
Nhưng đó mới chính là “tiếng thu”. Bởi vì chẳng có cái gì là thực trong bài thơ cả. Đố ai biết “trăng thổn thức” là trăng thế nào, đố ai thấy “chinh phu”, “cô phụ” ngoài cổ thi, mấy ai ở thành phố như bạn của nhà thơ mà thấy được nai vàng nai đỏ?
Vậy mà hãy nghe kỹ trong lòng: có đấy, có tiếng thổn thức của trăng, có tiếng rạo rực của vợ nhớ chồng, có tiếng xào xạc của lá khô. “Tiếng thu” ấy chỉ có ở trong lòng vì mùa thu đích thực là mùa thu ở trong lòng.
Mùa thu là cảm giác về thu, ấn tượng về thu, mông lung, huyền ảo, không nói nên lời, cho nên bài thơ toàn là dấu hỏi, chấm dứt bằng dấu hỏi, mỗi dấu hỏi là mỗi vỗ cánh bay vào tưởng tượng. Ai dám nói thưởng thức thơ không đòi hỏi chú ý?
Chú ý còn làm phát triển ký ức. Không chú ý, đố em học sinh nào học thuộc được bốn câu thơ. Nếu sau này em thành kịch sĩ, không chú ý, đố em học thuộc được một vở tuồng. Định tâm và ký ức gặp nhau, nâng đỡ nhau, làm sáng lên tư tưởng. “Tuệ” mở ra.
“Tuệ” mở ra khả năng lý luận
Nơi em học sinh, “tuệ” đó là khả năng lý luận. Trên ghế nhà trường, không lúc nào em không ứng dụng khả năng lý luận. Mỗi ngày tôi để dành được hai đồng, vậy trong mười ngày tôi để dành được hai mươi đồng.
Từ những lý luận đơn giản, cụ thể như vậy của bài toán đố, em đi dần vào những lý luận trừu tượng. Thực sự, không lý luận nào là không trừu tượng: em đâu cầm 20 đồng trong tay; 20 đồng ấy chỉ có trong cái đầu, nhưng em biết đó là điều chắc chắn, hiển nhiên, không cần đếm.
Em đi dần vào lý luận trừu tượng như vậy với đôi chân luôn luôn bước trên ký ức, ký ức học được ở trường, ký ức học qua sách truyện, lắm khi ký ức bâng quơ, học đâu đấy, tưởng chừng vô dụng, vô bổ.
Hình ảnh của cái cân chẳng hạn, hình ảnh con sư tử, hình ảnh con ó nắm trong chân này bó tên, trong chân kia nhánh ô liu… nếu chỉ là hình ảnh suông, không có ký ức hỗ trợ, thì tư tưởng dẫm chân tại chỗ, nhưng nếu có học đâu đó chút kiến thức, thì tư tưởng về bình đẳng, về sức mạnh, về hòa bình, chiến tranh – toàn là những khái niệm trừu tượng – trỗi lên trong óc.
Càng học cao, càng thu thập kiến thức, lý luận của em học sinh càng xông trận, trận chiến của những tư tưởng đồng và bất đồng, về chính những vấn đề mà hôm qua em chỉ mới nạp nhưng chưa suy: chiến tranh, hòa bình, sức mạnh, bình đẳng.
Tiếp cận với ý tưởng của người khác, tiếp cận với dư luận, tiếp cận với tuyên truyền, tiếp cận với những biến cố xảy ra trong lịch sử hay trước mắt, em học sinh, nhờ kiến thức tích lũy, sẽ vận dụng chú ý soi vào suy luận để tìm ra cho được phán đoán riêng của mình. Một nền giáo dục xứng đáng với tên gọi ấy là nền giáo dục biết phát triển phán đoán riêng của mỗi học sinh, xem đó như là cứu cánh.
“Cái gì suy nghĩ phân minh, cái ấy phát biểu rõ ràng”
Đó là nói chuyện cái đầu. Tư tưởng đâu có nằm mãi trong ấy. Tư tưởng đâu có chịu bị cầm tù! Trước sau gì nó cũng phát ra, hoặc bằng miệng, hoặc bằng ngòi bút. Ở đây cũng vậy, “định” vẫn là căn bản. Bút sa gà chết, thói cẩn thận ấy, người cầm bút ở xã hội ta đã biết tận xương tủy. Cái miệng cũng vậy, “nhất ngôn ký xuất tứ mã nan truy”, các cụ đã dạy. Tôi miễn nói chuyện đó, tôi nói chuyện khác.
Tôi nói về cách phát biểu, phát biểu thế nào cho rõ ràng, chính xác, mạch lạc một tư tưởng cũng chính xác, mạch lạc. Sinh viên của tôi ở đây sợ nhất môn thi “giải thích và bình luận một bài viết” trước một đoàn giám khảo.
Không những các bạn ấy phải tập trung chú ý cao độ trên từng dấu phẩy, từng chữ, từng câu để hiểu, mà còn phải nói gọn gàng, trôi chảy, khúc chiết, phân minh, trả lời những câu hỏi cũng phân minh, khúc chiết, trôi chảy, gọn gàng. Chỉ cần nghe anh sinh viên nói, biết ngay đầu óc của anh.
Tuyển chọn giáo chức, tuyển chọn nhân viên trong các xí nghiệp cũng vậy. Không ai thấy được cái gì trong đầu người khác. Mà thấy! Thấy qua lời nói. Thấy qua câu văn.
Thi hào Boileau của Pháp nói một câu giản dị mà tuyệt cú: “Cái gì suy nghĩ phân minh, cái ấy phát biểu rõ ràng” (“ce qui se conçoit bien s”énonce clairement”). Bởi vậy, mỗi khi bạn đọc cái gì mà thấy tối tăm mù mịt, khoan nghĩ rằng mình dốt, có thể người viết là lang băm.
Câu thơ nói trên của Boileau nằm trong một bài thơ dài nói về mối quan hệ khắng khít giữa tư tưởng và lời văn. Tôi dịch ra sau đây ba câu thường được xem như kim chỉ nam của bất cứ ai viết :
Viết đi viết lại hai mươi lần một tác phẩm
Mài dũa không ngừng rồi mài dũa nữa
Đôi lúc phải thêm, nhưng lắm khi phải bớt. 

Phảỉ bớt,  phải bớt… Mỗi lời, mỗi chữ thốt ra, viết ra, phải đắn đo, lựa chọn, chú ý tối đa đến mức chính xác. Vậy mà cũng phải biết bớt. Nói, cũng như viết, là lúc phải “định”. “Định” để sắp xếp tư tưởng. Rồi “định” để diễn tả tư tưởng. Không có ngôn ngữ thì không có tư tưởng.
***
Trên đây, tôi chỉ đem văn thơ để nói về chú ý, về “định”. Giá như đem toán ra nói, chắc dễ hiểu hơn. Bởi vì văn thơ là thế giới của tưởng tượng, mà tưởng tượng thì bay hoài chẳng đậu. Bay như vậy, đâu là tưởng tượng, đâu là chú ý? Nhất là đầu óc lại lang thang trong chốn nước mây của thưởng thức nghệ thuật.
Vậy mà văn thơ vẫn dạy người đọc chú ý như thường. Văn thơ giúp ta nhìn, giúp ta mở mắt. Thường thường ta nhìn mà không thấy. Vì không để ý! Văn thơ giúp ta thấy. Một cái thấy sáng hơn, lý thú hơn. Đó là cái thấy của tôi lúc nhỏ đối với cây cau trong vườn nhà. Vẫn là cây cau ấy, nhưng không hẳn cây cau ấy nữa khi lần đầu tôi đọc thơ Hàn Mặc Tử:
Sao anh không về chơi thôn Vỹ
Nhìn nắng hàng cau nắng mới lên 

Tôi nhìn: đọt cau cao vút, đón nắng ban mai đầu tiên của mặt trời vừa mọc. Nắng rực rỡ và lá cau lấp lánh bao nhiêu niềm vui. Đẹp như vậy, yêu đời như vậy, sao trước đó tôi không biết thấy? Vũ trụ tặng tôi niềm vui đầu tiên trong ngày, sao tôi không biết nhận?
Cũng lúc nhỏ, khi học bài “Hàn nho phong vị phú” của Nguyễn Công Trứ, tôi bỗng khám phá ra linh hồn của những cảnh tượng ngây ngô, tầm phào hằng ngày diễn ra trước mắt tôi. Có gì đâu, một bóng nắng, một nền nhà mưa dột:
Bóng nắng dọi trứng gà trên vách, thằng bé tri trô
Giọt mưa xoi hang chuột trong nhà, con mèo ngấp ngó

Lúc nhỏ, tôi cũng nghèo mạt như Nguyễn tướng công, nhà cũng dột, mái cũng thưa, đâu thấy bóng nắng đùa nghịch có duyên như vậy!
Sau này, cái thấy mà tôi học được trong thơ sâu kín hơn, lúc tâm hồn thật lắng đọng. Thấy rồi, thì khoái cảm rợn người. Cũng mái tranh ấy, cũng nhà trống ấy, định tâm lắm mới thấy bóng trăng khuya của Nguyễn Du:
Không ốc lậu tà nguyệt
Chiếu ngã đơn thường y

(Nhà trống trăng tà dọi, Chiếu trên áo của ta)
Lắng lòng rồi mới “thấy” trăng khuya: ánh trăng chiếu trên người vừa trở giấc, người ấy nghèo xơ, bệnh hoạn, thân thế chẳng ra gì, cùng quẫn nơi chốn quê người, tỉnh giấc sau khi nằm mộng thấy lại người vợ vừa mất. Nhà rách, mái thưa, mộng tan, người đâu mất, chỉ thấy trăng… trăng chiếu trên áo. Trăng ấy vừa thực, lại vừa gợi cảm.
Thực, vì chiếu trên áo nên người tỉnh giấc mới thấy; chiếu trên đầu, trên tóc, làm sao thấy được? Nhưng lại rất gợi cảm, vì áo của người nghèo mạt nằm kia chắc chắn phải là áo rách, áo sờn. Tả nỗi cô quạnh, thê lương của người ấy, có gì tê buốt hơn mảnh áo sờn đẫm ánh trăng khuya?
Cái thấy đó, bất cứ ai có chút tâm hồn đều biết khi ngắm một bức tranh tĩnh vật. Ba bốn quả táo trên bàn ăn. Chuyện tầm thường của cái nhìn hàng ngày, mấy ai định tâm mà nhìn quả táo? Nhưng hãy nhìn quả táo trong bức tranh của Cézanne: một chút ánh sáng trên vỏ trái cây cũng mang cả một linh hồn. Ngắm những quả táo trong tranh, tưởng chừng như mình mới thấy quả táo lần đầu! Chiếc áo sờn đắm ánh trăng khuya cũng vậy: đó là bức tranh tĩnh vật của thơ.
Và chính vì vậy mà sự thưởng thức thơ đòi hỏi hai mức định tâm: định để thấy một cảnh thực mà mình lơ đãng không biết nhìn, và định để biết cảnh thực mà mình vừa chợt thấy được thăng hoa bằng tưởng tượng, bằng cảm giác, bằng ấn tượng. Cảnh đó vừa thực, vừa “thực hơn cả thực”. Thực, như quả táo hàng ngày. Nhưng thực hơn cả thực, vì quả táo bỗng có linh hồn. Khi thấy linh hồn của bài thơ, ấy là lúc “tuệ” bừng sáng trong thưởng thức.
Bởi vậy, thơ hay thường đặt “tuệ” vào câu cuối, dồn tất cả sức sống vào câu cuối, tuồng như người đọc được bài thơ dẫn tưởng tượng và cảm giác phiêu du tận cùng non nước, và khi đến chỗ không đi được nữa thì cánh cửa bật ra, cả một rừng hoa mai hiện ra trước mắt. Hai câu thơ trên đây của Nguyễn Du là hai câu cuối trong bài Ký mộng. Thơ Nguyễn Du có nhiều câu cuối thần kỳ như vậy. Cũng như thơ Đỗ Phủ. Cũng như thơ Đường. Cũng như thơ của Anh, của Pháp, của Tây Ban Nha, của toàn thế giới.
Tôi đã bắt đầu bài viết bằng khả năng tập trung chú ý và ký ức mà các em học sinh học được từ nhà trường. Tôi chấm dứt với ý ấy. Tận cùng của “định” là “tuệ”. Giống như hoa mai nở bừng. Giống như câu cuối của một bài thơ hay.
Nguồn: Văn hóa Phật giáo

Giáo Dục: Suy nghĩ có tính phê phán – Nguyễn Hưng Quốc

Theo hocthenao.vn
Ngoài đời cũng như trên báo chí, kể cả trên blog, một số người hay đề cập đến vấn đề suy nghĩ có tính phê phán (critical thinking). Tuy nhiên, nghe hay đọc họ, rất hiếm khi chúng ta bắt gặp bất cứ dấu hiệu nào cho thấy họ có khả năng, thậm chí, thiện chí để suy nghĩ có tính phê phán. Ngược lại, trong hầu hết các trường hợp, chúng ta chỉ bắt gặp những lối suy nghĩ rất cảm tính, hơn nữa, hoàn toàn nô lệ theo quán tính.
Đọc, thấy một câu nào đó không vừa ý đã nhảy nhổm lên phản đối, bất kể lập luận chung của toàn bài, nhất định không phải là lối suy nghĩ có tính phê phán. Bất đồng với ý kiến nào đó bèn lôi tác giả ra chửi cũng nhất định không phải là lối suy nghĩ có tính phê phán. Thậm chí, đọc mà chỉ chăm chăm tìm cách để phản bác hay phê phán cũng không phải là lối suy nghĩ có tính phê phán.
Chữ “phê phán” (critical), trong tiếng Việt cũng như trong tiếng Anh, dễ gợi liên tưởng đến sự chê bai, bới móc, nghĩa là thiên về ý nghĩa tiêu cực. Thật ra, không phải. Lối suy nghĩ có tính phê phán, ngược lại, bao giờ cũng xuất phát từ thiện chí muốn tìm sự thực bằng cách lục lọi chứng cứ và thay đổi góc nhìn để xác minh tính chính xác của một ý kiến trước khi tin tưởng hoặc chấp nhận.
Trong cuốn “Critical Thinking and Everyday Argument” (Southbank: Thomson – Wadsworth, 2005), Jay Verlinden (tr. 18-19) điểm qua các định nghĩa nổi tiếng về lối suy nghĩ có tính phê phán từ trước đến nay, và nhận ra tất cả các các định nghĩa ấy đều nhấn mạnh đến năm đặc điểm chính: Một, nó có tính chủ động và tự giác cao; hai, nó liên quan đến ý tưởng và niềm tin; ba, nó tập trung chủ yếu vào lý tính và lý luận; bốn, nó giúp hình thành các phán đoán; và năm, nó gắn liền với một số kỹ năng nhất định. Jay Verlinden bổ sung thêm hai đặc điểm nữa: Thứ nhất, suy nghĩ có tính phê phán được áp dụng không phải đối với các ý tưởng của người khác mà còn đối với cả các ý tưởng của chính mình; và thứ hai, nó nhắm đến việc tiếp cận chân lý chứ không phải chỉ nhằm khẳng định những điều chúng ta đã tin tưởng từ trước.
Nói một cách tóm tắt, suy nghĩ một cách có tính phê phán là không phủ nhận cũng không chấp nhận bất cứ một ý kiến nào ngay trước khi chúng ta có đầy đủ bằng chứng và đã đi hết con đường lý luận để cảm thấy mình thực sự được/bị thuyết phục. Nói gọn hơn nữa, suy nghĩ có tính phê phán, trước hết, là một nghệ thuật đặt câu hỏi.
Xuất phát điểm của lối suy nghĩ có tính phê phán là nhiệt tình truy tìm sự thật và sự hoài nghi. Nên lưu ý: hai điểm này lúc nào cũng gắn liền với nhau. Nhiệt tình rất dễ biến thành một sự nhẹ dạ nếu không đi liền với sự hoài nghi. Nhưng nếu thiếu nhiệt tình đối với sự thật, sự hoài nghi chỉ dẫn đến thái độ phủ nhận sạch trơn để khư khư giữ lấy những thành kiến cũ kỹ cố hữu vốn rất thường thấy ở những kẻ lười biếng, cố chấp và cuồng tín.
Một sự hoài nghi gắn liền với nhiệt tình tìm kiếm sự thật như vậy không những là khởi điểm của lối suy nghĩ có tính phê phán mà còn là của kiến thức nói chung. Thánh Anselm, một nhà tư tưởng lớn thời Trung cổ, tuyên bố “Tôi hoài nghi, vậy tôi biết”. Lời tuyên bố ấy gợi hứng cho một câu nói khác, nổi tiếng hơn, của Descartes: “Tôi tư duy, vậy tôi hiện hữu”. Xin lưu ý: với Descartes, khởi thuỷ của cái gọi là tư duy ấy cũng là sự hoài nghi, hay nói theo chữ của ông, một thứ hoài nghi hệ thống (systematic doubt) hoặc hoài nghi khoa học (scientific doubt), sau này gắn liền với tên tuổi của ông: “Cartesian doubt”. Một thứ hoài nghi như vậy, thật ra, đã manh nha từ thời cổ đại với Socrates, người không ngừng đặt câu hỏi. Đặt câu hỏi về các khái niệm. Đặt câu hỏi về các tiền đề đằng sau các khái niệm ấy. Lúc nào cũng hỏi. Hỏi trở thành một trong những bài học lớn nhất mà Socrates để lại cho đời: “Socratic Questioning”.
Những bài học của Socrates và của Descartes không phải dễ thực hiện.
Trước hết, hoài nghi là một hành vi chống lại quyền lực. Theo Michel Foucault, bất cứ kiến thức nào cũng là quyền lực. Những điều chúng ta biết và tin, dù sai lầm và ấu trĩ đến mấy, cũng thường gắn liền với một số truyền thống nào đó. Mà truyền thống cũng lại là quyền lực: quyền lực của đám đông, và sau đám đông, quyền lực của cơ chế, từ các cơ chế xã hội đến các cơ chế chính trị, tất cả đều nhắm tới việc duy trì sự ổn định dựa trên tính ngoan ngoãn của con người.
Quan trọng hơn, hoài nghi cũng là một hành vi chống lại chính mình: cái “mình” nào cũng chủ yếu là sản phẩm của một nền văn hoá và một nền giáo dục nhất định, trong đó, có vô số điều không chính xác hoặc không còn chính xác nữa. Cái “mình” ấy cũng bị chi phối bởi vô số yếu tố hoàn toàn nằm ngoài lý trí và lý tính, những yếu tố hoặc mang tính bản năng hoặc gắn liền với thành kiến và quyền lợi. Bởi vậy, hoài nghi ít khi là một tính cách. Đó là một sự lựa chọn. Là một lựa chọn, hoài nghi cần sự tự ý thức, cần quyết tâm và cần tập luyện. Chỉ cần lơ đễnh một chút, người ta có thể đánh mất sự hoài nghi, nghĩa là, đánh mất sự suy nghĩ có tính phê phán, để trở thành nô lệ cho cảm tính và quán tính. Không có gì đáng ngạc nhiên khi thấy nhiều người, lúc này hoặc trong lãnh vực này thì rất có tinh thần phê phán, nhưng lúc khác hoặc đi vào lãnh vực khác thì trở thành nhẹ dạ hẳn.
Ngoài hoài nghi, lối suy nghĩ có tính phê phán còn một nguyên tắc khác nữa: lúc nào cũng cần chứng cứ. Theo nguyên tắc này, không có gì có thể được chứng minh là đúng nếu chưa có đầy đủ chứng cứ. Nhưng chứng cứ không phải là những gì có sẵn. Người biết hoặc muốn suy nghĩ có tính phê phán bao giờ cũng, trước hết, là người có khả năng tìm kiếm thông tin và biết cách xử lý thông tin. Cái gọi là xử lý thông tin ấy bao gồm bốn việc: một, xác minh tính khả tín của thông tin; hai, phân tích để tìm kiếm các quan hệ tiềm ẩn bên trong các thông tin ấy; ba, diễn dịch để tìm kiếm ý nghĩa đích thực của các thông tin ấy; và bốn, tập hợp các thông tin ấy lại theo một trật tự nhất định nào đó để tạo nên một khối tư liệu thống nhất nhằm chứng minh cho một luận điểm nào đó.
Nguyên tắc thứ ba của lối suy nghĩ có tính phê phán là phải tin cậy vào lý trí, nghĩa là: một, chỉ tập trung vào ý tưởng và sự kiện chứ không phải là con người; hai, phải tuân thủ các quy luật luận lý: không tự mâu thuẫn, không khái quát hoá vội khi chưa đủ chứng cứ, không nguỵ biện, v.v…
Nguyên tắc thứ tư là không được thành kiến. Là không được có kết luận trước khi đi hết con đường lý luận. Điều đó có nghĩa là, để suy nghĩ có tính phê phán, chúng ta phải thực sự trong sáng và cởi mở, hơn nữa, can đảm để sẵn sàng chấp nhận một trong hai điều vốn rất khó được chấp nhận trong hoàn cảnh và tâm lý bình thường: một, chấp nhận điều thoạt đầu mình tin hoặc muốn tin là sai; và hai, chấp nhận một ý kiến khác thoạt đầu mình không tin hoặc không thích, có khi xuất phát từ một kẻ hoặc một lực lượng thù nghịch, là đúng.
Dĩ nhiên, lối suy nghĩ có tính phê phán còn một số nguyên tắc khác. Nhưng kể thêm các nguyên tắc ấy, theo tôi, không quan trọng bằng nhấn mạnh lại điều này: Trong khi suy nghĩ là một điều tự nhiên (ai cũng suy nghĩ, ngay cả một đứa cực kỳ ngốc!), suy nghĩ có tính phê phán lại chỉ có thể là kết quả của giáo dục: Đó là điều người ta phải học và phải tập thường xuyên. Ngay từ nhỏ. Và kéo dài cả đời.
Nhưng học và tập không phải chỉ là chuyện của cá nhân. Cả hai đều gắn liền với hai môi trường: giáo dục và xã hội. Cả giáo dục và xã hội đều gắn liền với một yếu tố khác nữa: chính trị.
Có những nền chính trị sẵn sàng treo cổ những người suy nghĩ có tính phê phán.

Chu kỳ 60 năm từ đâu ra

Theo GS. Nguyễn Tiến Dũng
Có một điều làm tôi thắc mắc suốt nhiều năm nay, đó là chu kỳ 60 năm trên trái đất, nó từ đâu ra ?
Chu kỳ đó thể hiện qua lịch Trung Quốc (cứ sau 60 năm thì tên năm lại lặp lại như cũ). Ở một số vùng ở Ấn Độ cũng có dùng lịch 60 năm tương tự. Khi đọc các sách, thì được người ta giải thích là, đó là do các nhà thiên văn học thời cổ (vài thế kỷ trước công nguyên) quan sát chu kỳ của Jupiter (sao Mộc) và Saturn (sao Thổ), thấy cứ khoảng 20 năm các sao đó lại gặp nhau một lần trên bâu trời, và cứ khoảng 60 năm thì điểm gặp nhau lại về gần trùng với điểm của 60 trước đó, nên lấy 60 năm làm chu kỳ để tính lịch.
Chu kỳ Jupiter-Saturn thực ra không phải là chính xác 60 năm, mà chỉ là gần đúng thôi: Jupiter quay 1 vòng quanh mặt trời hết gần 12 năm (chính xác là 11.8618 năm), còn Saturn quay một vòng quanh mặt trời mất gần 30 năm (chính xác là 29.4571 năm). Như vậy, sau 60 năm thì Saturn quay được 2 vòng và thừa một chút, còn Jupiter thì quay được 5 vòng và thừa một chút, và nếu chỉ so Jupiter và Saturn với nhau, thì chúng phải mất 59.6 năm, chứ không phải là đúng 60 năm, để gặp nhau 3 lần (tạo ra cái mà các nhà thiên văn gọi là tri-synodic cycle).
Nếu chỉ dùng vị trí thiên văn của Jupiter-Saturn để làm lịch thôi thì là một cách làm lịch thông minh, không có gì đáng thắc mắc. Điều thắc mắc ở đây nẩy ra khi lịch đó gắn liền với tên gọi các năm, và trong tử vi cũng như trong văn hoá dân gian phương Đông, người ta đưa ra các đặc điểm khá cụ thể của những người sinh vào từng năm, và đưa ra các kết luật về sự hợp nhau hay xung khắc nhau của những người sinh vào các năm có tên gọi khác nhau. Ví dụ như vấn đề nhị hợp và nhị xung, chẳng hạn:
tuổi Hợi nhị hợp với tuổi Dần và nhị xung với tuổi Thân
(nếu trong một gia đình, vợ/chồng tuổi Hợi và người kia tuổi Dần thì là rất hợp nhau, còn ngược lại nếu một người tuổi Thân một người tuổi Hợi thì dễ xung khắc, vì tính cách của những người sinh năm Hợi và những người sinh năm Thân rất không hợp nhau)
Chú ý rằng, Thân cách Hợi 3 năm (modulo 12) và Hợi cách Dần cũng 3 năm. Nếu như chu kỳ của sự lặp lại các tính cách chiểu đúng theo  vị trí của Jupiter, không phải là 12 năm mà là 11.86 năm thôi, thì tức là sau nhiều vòng Jupiter thì các tính cách của các năm sẽ bị lệch đi, người được gọi là sinh năm Hợi sẽ phải có tính cách giống người được gọi là sinh năm Thân của một nghìn năm trước hơn là người sinh năm Hợi của nghìn năm trước. Tức là bộ Hợi-Dần sau một nghìn năm lại biến thành bộ Thân-Hợi. Đang từ rất hợp lại biến thành xung khắc! Mặt khác, đã qua hơn 2000 năm kể từ khi lịch 60 năm được dùng phổ biến, và tính chất của các “Địa Chi” (các con vật được dùng đặt tên cho các năm) có vẻ như không hề thay đổi sau hơn 2000 năm đó: Chó vẫn là chó (thẳng thắn, trung thành, …), Mèo vẫn là mèo (ngoại giao giỏi …), v.v. Để cho điều đó đúng, thì phải có một cái chu kỳ, không phải là xấp xỉ 60 năm, mà phải là chính xác 60 năm!
Nhiều tài liệu trên thế giới có nói về các chu kỳ 60 năm, nào là mực nước biển, nào là thay đổi nhiệt độ, nào là lãi suất, nào là hoạt động của mặt trời, nào là ngôi sao xa lắc xa lơ nào đó (không nằm trong hệ mặt trời). Tuy nhiên, các chu kỳ đó đều là các chu kỳ gần 60 năm (có khi thành đến 64-65 năm, có khi dưới 60 năm), chứ chẳng có cái nào đúng 60 năm, và cũng chẳng có cái nào có vẻ liên quan trực tiếp đến tính cách của người sinh năm Tý hay năm Dậu cả.
Trong chiêm tinh học Tây phương cũng không hề có chu kỳ nào chính xác 60 năm. Tuy nhiên, nếu ta giả sử là chiêm tinh học Đông phương có giá trị nào đó, thì ắt hẳn phải tồn tại chu kỳ chính xác 60 năm thật, nếu không thì các lá số của tử vi đẩu số có thể đem vứt đi hết vì là nhảm nhí hoàn toàn. Nhưng chẳng nhẽ tử vi đẩu số lại nhảm nhí hoàn toàn thật à? Bản thân tôi kỵ cái món tử vi đẩu số này vì thấy nó hơi giáo điều, nhưng có bao nhiêu nhân chứng cho thấy họ dùng tử vi đẩu số đoán đúng được nhiều thứ (mà họ rõ ràng không lừa tôi để làm gì, chẳng được ích gì, vì cũng chẳng bao giờ tôi cần nhờ ai xem số), nên tuy nó có giáo điều thật nhưng có lẽ không phải là hoàn toàn nhảm nhí.
Vậy thì chu kỳ chính xác 60 năm chui từ đâu ra ?
Cứ thỉnh thoảng tôi lại nghĩ lại câu hỏi đó và đi tìm lời giải đáp cho nó.
Và hôm qua, tự nhiên tôi nảy ra một ý trong đầu, là có thể lời giải đáp nằm trong lý thuyết cộng hưởng của vật lý.
Số là, năm ngoái, tôi có dạy một cua về hệ động lực cho nghiên cứu sinh ngành toán. Trong cua đó có một bài về cộng hưởng, và do đó tôi phải đi tìm các tài liệu vật lý về cộng hưởng để đọc. về mặt toán học, khi tôi làm chuẩn hoá các trường vector, thì tất nhiên luôn phải xử lý chuyện cộng hưởng, nhưng về một số khía cạnh vật lý, thì phải tìm hiểu sách vật lý mới vỡ nhẽ.
Trong các nguyên lý cộng hưởng, có một nguyên lý sau:
Mỗi vật (hay một hệ nhiều vật) đều có các tần số dao động riêng của nó (proper frequency), hay nói cách khác là có cácchu kỳ riêng (proper period) của nó. Nếu bị một vật (hay một hệ) tác động một cách tuần hoàn với một chu kỳ gần bằng  một chu kỳ riêng của nó, thì nó sẽ bị “hưng phấn” theo cái chu kỳ riêng đó của nó.
Các từ khoá ở đây là chu kỳ riêng, và gần bằng. Ví dụ, nếu cái radio của tôi để ở tần số riêng 101mhz, và có sóng radio phát ở tần số 101.1 mhz thì cái radio vẫn bắt được sóng đó. Khi bắt sóng đó, radio của tôi “rung” với tần số 101mhz chứ không phải 101.1mhz
Theo nguyên lý cộng hưởng này, ta có giả thuyết là:
60 năm là một chu kỳ riêng của trái đất (hay của hệ mặt trời – trái đất – mặt trăng), và tác động tuần hoàn của Jupiter-Saturn với chu kỳ gần 60 năm gây cộng hưởng mạnh đến chu kỳ riêng 60 năm của trái đất, tạo ra một “sóng” mạnh với chu kỳ 60 năm ảnh hưởng đến con người.
Câu hỏi tiếp theo là: tại sao hệ Sun-Earth-Moon  lại có chu kỳ riêng 60 năm?
Tất nhiên, đấy không phải là chu kỳ riêng duy nhất của nó, mà nó còn có nhiều chu kỳ riêng khác. (Ví dụ, 1 ngày cũng là một chu kỳ riêng). Nhưng nó có chu kỳ riêng là 1 năm, và từ đó sinh ra là các số chẵn năm cũng đều là các chu kỳ riêng (với độ “nhạy cảm” mạnh yếu khác nhau). Trong đó có các chu kỳ riêng 2 năm, 12 năm, 60 năm là bị kích thích mạnh (2 năm có thể coi là do sao Hoả quay một vòng mất gần 2 năm, vào tạo ra cách đánh số năm âm – năm dương, 12 năm là vòng của Jupiter)
Nếu như giả thuyết trên là đúng, thì có một hệ quả rất hay: đó là ta có thể kết hợp chiêm tinh học Đông phương và Tây phương để xem xét các thứ một các chính xác hơn! (Lúc nào có thời gian sẽ bàn tiếp chuyện này)

Bạn Có Thể Trở Thành Một Nhà Phân Tích Định Lượng Ở Tuổi 30 Không?


Theo VNquants.com


    273-ban-co-the-tro-thanh-mot-nha-phan-tich-dinh-luong-o-tuoi-30-khong

Tất nhiên là có, trong thực tế có không ít những nhà phân tích, những nhà phát triển định lượng và những chuyên viên giao dịch giỏi có thể thay đổi trong lĩnh vực tài chính chỉ ở độ tuổi khoản từ hai mươi đến ba mươi tuổi. Trong bài viết này tôi sẽ nói về cách để một người có thể đạt được điều đó.
Tuổi tác thực sự không là vấn đề trong thị trường tài chính. Vấn đề quan trọng nhất đó là năng lực, động lực và những sáng kiến. Nó là một ngành công nghiệp của các nhân tài, trong đó người làm tốt ở mọi lứa tuổi đều được khen thưởng xứng đáng. Đó là một điều tất yếu khi bước chân vào ngành công nghiệp này sau khi nảy sinh những hạn chế trong một số lĩnh vực khác. Đặc biệt là trong việc quản lý tài sản (quỹ đầu tư)…Do đó, đừng nghỉ rằng mình không thể.
Nếu bạn đang cân nhắc chuyển sang tài chính định lượng thì nhiệm vụ đầu tiên bạn phải làm là tự đánh giá một cách thẳng thắn về nền tảng, kinh nghiệm và kỹ năng. Hầu hết các loại hình tài chính định lượng đều yêu cầu phải có nền tảng vững chắc về đại số tuyến tính, giải tích, xác suất và thống kê. Bạn có thể đạt được hoặc học những kỹ năng này khi bạn học ở trình độ thạc sỹ hoặc tiến sỹ định lượng hoặc sau nữa càng tốt. Các nhà sử dụng lao động sẽ rất thích nếu bạn đã từng sử dụng các kỹ năng này trước đó.
Lĩnh vực thứ hai rất quan trọng trong tài chính định lượng là lập trình. Các nhà phân tích định lượng ngày nay dành rất nhiều thời gian cho việc lập trình. Bao gồm cả các kỹ sư, các chuyên viên giao dịch, các nrhà nghiên cứu về tài chính định lương và cả những nhà quản trị rủi ro. Vì vậy, không thông thạo một ngôn ngữ lập trình sẽ rất bất lợi cho bạn so với những ứng viên khác. Nếu bạn chưa từng lập trình thì bạn có thể bắt đầu với ngôn ngữ Python hay C++. Hãy xem qua danh sách này để có một khởi đầu tốt cho việc lập trình. (Danh sách bao gồm tài chính định lượng tổng quát, hướng nghiệp, chuẩn bị phỏng vấn, định lượng kinh doanh, toán học, phương pháp số và lập trình C++, Python, Excel, Matlab và R.)
Một vấn đề cũng khá quan trọng là phải biết được các khái niệm về tài chính. Vì bạn sẽ ứng dụng để giải quyết công việc (trừ khi bạn có thể chứng minh và nêu ý nghĩa về toán học và lập trình), bạn sẽ không cần kỳ vọng biết nhiều về tài chính phái sinh, giá quyền chọn hoặc các thuật toán giao dịch. Rất nhiều kiến thức có thể đạt được bằng cách đọc tổng hợp hay chọn một hay hai quyển sách giáo khoa, phần còn lại sẽ được tích lũy trong công việc.
Một con đường để đến với tài chính định lượng là hoàn thành chương trình thạc sỹ kỹ sư tài chính (MFE) hoặc có giấy chứng nhận kỹ sư tài chính bán thời gian, trong đó giấy chứng nhận tài chính định lượng CQF của Paul Wilmott là lựa chọn tôt nhất. Các khóa học này là cách nhanh nhất tiếp cận với các nguồn tài liệu cần thiết, nếu không sẽ phải nghiên cứu thu được trong thời gian rãnh rỗi của bạn. Các khóa học này khá tốn kém, học phí cho khóa học này khoảng 20000$ đến 50000$ một năm. Tất cả các khóa học này được thiết kế nhầm giúp bạn trở thành một kỹ sư tài chính trong đó bao gồm định giá quyền chọn và các sản phẩm phái sinh khác. Thị trường đã thay đổi phần nào từ năm 2008 và bây giờ có it nhu cầu cho các vị trí và nguồn cung thì dư thừa (vì sự phổ biến của các khóa học). Vì vậy, nó thật đáng giá khi xem xét xem bạn có thực sự muốn trở thành một kỹ sư tài chính tại một ngân hàng, hay chuyên viên giao dịch định lượng trong một quỹ đầu tư hay không.
Giả sử bạn đang thực hiện một thay đổi nghề nghiệp quan trọng, bạn nên chuẩn bị tư tưởng là bạn sẽ được học rất nhiều điều mới! Bạn sẽ phải tìm ra thời gian để dung hòa nó với cuộc sống cá nhân của bạn. Bạn cần phải thành thật tự hỏi rằng “bạn có thực sự muốn thay đổi nghề không, bởi vì có rất nhiều công việc liên quan khác đơn giản hơn để thực hiện được mục tiêu cần thiết. Bạn sẽ phải trở thành một lập trình viên giỏi và phải thực hiện một số nghiên cứu toán học. Đối với các kỹ sư tài chính,bài viết này sẽ giúp bạn xác định cuốn sách thích hợp.
Tài chính định lượng là một lĩnh vực tuyệt vời, vì nó có nhiều thách thức, kích thích trí tuệ và có mức thù lao xứng đáng cao hơn mức trung bình so với các ngành khác. Bước vào lĩnh vực này là một quyết định không hề đơn giản, do đó, bạn phải chuẩn bị tốt về tư tưởng.
Nếu bạn muốn biết thông tin hoặc những hướng dẫn trong việc chuyển đổi nghề nghiệp thì vui lòng gửi email cho tôi mike@quantstart.com. Tôi nhận được nhiều mail mỗi tuần từ các cá nhân tự hỏi liệu rằng mình có nền tảng hoặc tuổi tác có phù hợp với tài chính không. Gần như các câu trả là có nếu giả sử rằng họ đang chuẩn bị cho nghiên cứu thật nhiều.
Chúc may mắn!!!

Nguồn: QuantStart
Tác giả: Mike
Source: http://vnquants.com/bai-cua-khach/ban-co-the-tro-thanh-mot-nha-phan-tich-dinh-luong-o-tuoi-30-khong?fb_action_ids=607560729300285&fb_action_types=og.likes&fb_source=other_multiline&action_object_map=%7B%22607560729300285%22%3A240606002763163%7D&action_type_map=%7B%22607560729300285%22%3A%22og.likes%22%7D&action_ref_map=%5B%5D

October 27, 2013

Tìm học bổng bên Mỹ

Theo bshohai Blog's

TỔNG KẾT HỌC BỔNG ĐẠI HỌC MỸ

Như vậy là đã hơn 2 tháng "viết" bài về giáo dục Mỹ và học bổng du học bậc đại học Mỹ. Tôi dùng chữ "viết" là vì đa phần học bổng là chỉ copy, paste những bài viết đã có sẵn và bổ sung thêm một số thông tin cập nhật. Mấy hôm nay lại bận túi bụi, không viết được bài nào. Hôm nay chỉ cố gắng làm bài tổng kết để mọi người dễ tìm kiếm trên blog này.


Đời người rất dài mà cũng rất ngắn. Dài khi chúng ta thất nghiệp, không việc làm. Nhưng rất ngắn khi công việc chóan hết thời gian. Khi công việc không còn thời gian để thở, ta cảm thấy mình không còn thời gian để làm được gì. Vì vậy, để thấy cuộc sống có ích, ngay từ khi còn trên ghế nhà trường hãy tự xây dựng cho mình một hòai bảo. Hòai bảo đó là gì? Đó là phải học thật nhiều, học không bao giờ thừa, càng học càng thấy mình dốt. Chỉ có người ngu mới cho rằng không cần học cũng có thể hiểu biết hơn người.

Học là không chỉ học ở trường ta, mà phải đủ khả năng lấy tiền của các nước tiên tiến để học ở họ. Vì du học là không chỉ học khoa học kỹ thuật mà còn được học thêm nhiều nền văn hóa sống khác nhau để trở thành công dân thế giới, có thể phù hợp với mọi mội trường làm việc. Nhằm sau này công ăn việc làm tự mình chủ động mà không phải van xin bất kỳ ai. Và lúc ấy cuộc sống thật tươi đẹp và ngắn ngủi.


Với 36 tiểu bang và hơn 350 trường đại học Mỹ được ghi nhận đã từng có du sinh nhận học bổng để du học là một kho tàng đủ để mọi người lựa chọn từ top đến trung bình, không thiếu bất kỳ mặt hàng nào. Phải biết khả năng mình, hòai bảo mình, chiến lược học tập của mình để lựa chọn trường đại học và săn tìm đúng trường để đạt học bổng tối ưu nhất.


Hãy kiểm tra 16 tiểu bang còn lại không có trong danh sách này. Hãy kiểm danh sách 373 trường tốt nhất nước Mỹ so với danh sách các trường có trong 36 bang này, và tìm ra những trường chưa được nêu tên. Các bạn sẽ không uổng phí công sức của mình. Hai điều này không bao giờ thừa. Không lý do gì mà mình học người ta nuôi ăn, dạy và lo toan cho mình mà mình từ chối.


Đây là những tâm sự tâm huyết đến thế hệ trẻ tương lai của đất nước. Sau nữa là gửi đến các bậc phụ huynh trẻ vì tương lai con em mình. Dạy trẻ không phải là ép trẻ học, nhồi sọ trẻ. Dạy trẻ là trao cho trẻ một hòai bảo, một ước mơ và một chí hướng chân chính. Lúc đó trẻ sẽ tự vạch con đường đi và gò mình vào hòai bảo, ước mơ và chí hướng trẻ đã tự vạch ra.


Sau đây là link của 44 bài viết về giáo dục và học bổng đại học Mỹ đã được xuất bản trên blog này trong hơn 2 tháng qua:






















































Khi rảnh tôi sẽ list ra các trường đã từng có du sinh nhận học bổng du học ở Canada và Anh.


Chúc thế hệ trẻ Việt Nam tự tin, bản lĩnh và chọn được hòai bảo, ước mơ và chí hướng chân chính.

Asia Clinic, 9h25' ngày thứ Bảy, 11/12/2010