June 26, 2013

Vực dậy BĐS: Bài học tình huống – Thái Lan 1997

Vực dậy BĐS: Bài học tình huống – Thái Lan 1997

(Nguồn: cafef.vn)

Nợ xấu hiện nay chưa hấp dẫn nhà đầu tư theo giá trị sổ sách vì giá thực tế đã xuống 30-40%. Thị trường sẽ không hồi phục nếu nợ xấu chưa được xử lý tại mức giá đủ thấp.

Khi kinh tế Châu Á lâm vào khủng hoảng vào năm 1997, thị trường bất động sản Thái Lan bắt đầu suy thoái. Khi đó thực trạng thị trường BĐS Thái Lan không khác nhiều so với Việt Nam hiện nay. Vậy họ đã làm gì để có thể vực dậy thị trường?
Ông Chris Brown, CEO của Cushman & Wakefield Việt Nam vừa có một bản thuyết trình về trường hợp điển hình trong việc xử lý nợ xấu bất động sản, cũng như đề xuất những giải pháp lâu bền cho Việt Nam.
Kinh nghiệm xử lý nợ xấu của Thái Lan
Năm 1997, thị trường bất động sản Thái Lan bước vào giai đoạn khó khăn trong bối cảnh khủng hoảng tài chính Châu Á. Các TCTD tại Thái Lan khi đó gặp phải vấn đề về kiểm soát tín dụng, tín dụng nới lỏng, tỷ giá thả nổi,…dẫn đến BĐS tăng nóng và suy thoái.
GDP Thái Lan luôn trên 9% từ 1985 đến 1995, nhưng sau đó chỉ còn khoảng 4% vào giai đoạn khủng hoảng. Tháng 7/1997 Chính phủ Thái Lan phải thả nổi đồng Baht, và ngày lập tức nó mất giá tới 50%. Chỉ số thị trường chứng khoán sụt giảm từ 1.280 cuối năm 1995 xuống còn 372 cuối năm 1997. Đồng thời, mức vốn hóa thị trường vốn giảm từ 141,5 tỷ USD xuống còn 23,5 tỷ USD.
Từ đó, nợ xấu tại hệ thống ngân hàng bắt đầu gia tăng, vốn thực của các ngân hàng bị suy giảm. Các ngân hàng bắt đầu thắt chặt tín dụng dẫn đến thị trường bất động sản đóng băng, dự án không thể triển khai do thiếu vốn,…Việt Nam hiện nay đang gặp tình trạng tương tự như Thái Lan những năm 1997.
Vực dậy BĐS: Bài học tình huống – Thái Lan 1997 (1)
Quá trình dẫn đến khủng hoảng và suy thoái thị trường BĐS
Lòng tin của người mua trên thị trường bất động sản Thái Lan cũng vì thế mà suy giảm nghiêm trọng. Thị trường Thái Lan suy thoái. Vào năm 2001, nợ xấu tại Thái Lan lên tới 47,7% trong tổng nợ.
Để vực dậy thị trường, Chính phủ Thái Lan đã đưa ra hàng loạt các giải pháp mạnh. Trong đó, nhiều giải pháp tương tự như Việt Nam hiện đang áp dụng, tuy nhiên, nhìn vào cách thức thực hiện thì Thái Lan “mạnh tay” hơn nhiều.
Việt Nam đang đi theo hướng nào?
Chính phủ ban hành Nghị định thành lập Công ty quản lý tài sản Quốc gia (VAMC) vào tháng 5/2013 và có hiệu lực vào tháng 7/2013 và một bước tiến quan trọng trong việc vực dậy thị trường BĐS đang suy thoái.
Những bước đi cũng như giải pháp của Việt Nam về cơ bản gần như giống với Thái Lan trong công cuộc xử lý nợ xấu vào những năm 1997, tuy nhiên, trong cách thức thực hiện có nhiều điểm khác nhau.
AMC của Thái Lan khi đó cũng mua lại các khoản nợ xấu từ các TCTD, nhưng hoạt động dựa trên nguyên tắc chia sẻ lời – lỗ giữa AMC và các TCTD bán nợ. Các dự án BĐS có tiềm năng sẽ được cơ quan này hỗ trợ phát triển, phối hợp với TCTD lớn cung cấp vốn để tiếp tục hoàn thiện, đầu tư và bán ra thị trường trong thời gián sớm nhất.
Vực dậy BĐS: Bài học tình huống – Thái Lan 1997 (2)
Quá trình vực dậy thị trường BĐS
Theo CEO của Cushman & Wakefiled, trong quá trình xử lý nợ xấu tại Thái Lan, vào năm 2001 nợ xấu được bán ở giá $0.25 trên $1.
Còn ở Việt Nam, cũng giống Thái Lan, VAMC mua lại nợ xấu từ các TCTD bằng giá trị sổ sách, VAMC phát hành trái phiếu cho ngân hàng. Ngân hàng vẫn phải trích lập dự phòng rủi ro 20% cho khoản nợ xấu này hàng năm. Khi trái phiếu hết hạn trong 5 năm thì nợ xấu không xác lập.
Việt Nam cũng đang thực hiện giải pháp tháo gỡ khó khăn cho thị trường BĐS bằng cách bơm các gói tín dụng ra thị trường để người mua vay trung hạn với lãi suất thấp (gói 30.000 tỷ lãi suất 6%/năm trong 10 năm).
* Ngân hàng không hào hứng bán nợ xấu cho VAMC vì khoản trích lập 20%
*Nợ xấu chưa hấp dẫn nhà đầu tư theo giá sổ sách vì giá thực xuống 40%
Bên cạnh đó, giải pháp gia hạn các khoản nợ giữa chủ nợ và con nợ cũng đã được áp dụng. Hàng loạt các dự án đã được rà soát để chuyển đổi công năng, tạm dừng hay giãn tiến độ,…
Với hàng loạt giải pháp được đưa ra, thị trường BĐS Thái Lan đã chuyển từ “chạm đáy” sang “vực dậy”. Các dự án BĐS cao cấp dần chuyển hướng sang dự án trung cấp và tập trung vào người mua cuối cùng. Hệ thống cơ sở hạ tầng, giao thông được phát triển đồng bộ. Thị trường BĐS Thái Lan đã trở nên chuyên nghiệp hơn.
Vực dậy BĐS: Bài học tình huống – Thái Lan 1997 (3)
Theo Cushman & Wakefield, nợ xấu hiện nay chưa hấp dẫn nhà đầu tư theo giá trị sổ sách vì giá thực tế đã xuống 30-40%. Thị trường sẽ không hồi phục nếu nợ xấu chưa được xử lý tại mức giá đủ thấp.
Công ty này đề xuất, nên chuyển đổi các khoản nợ xấu trên cơ sở giá trị thị trường, xác định rõ các khoản nợ xấu và tăng cường quyền lực, tài chính và tính chuyên nghiệp cho VAMC.
Cùng giống với những giải pháp tháo gỡ của Thái Lan, thị trường BĐS Việt Nam kỳ vọng sẽ vượt qua được khủng hoảng để đi lên bền vừng hơn, chuyên nghiệp hơn trong những năm tới.
Kiều Thuật
Theo Trí Thức Trẻ

June 21, 2013

Tài chính hành vi - Cách phân loại nhà đầu tư


bf2

(VFpress.vn) Những thập kỉ gần đây, các chuyên gia tài chính đã cố gắng phân loại nhà đầu tư dựa trên các đặc điểm tâm lý, tính cách thái độ… của họ. Nền tảng kến thức, kinh nghiệm và thái độ của nhà đầu tư đối với rủi ro đóng vai trò vô cùng quan trọng trong quá trình ra quyết định đầu tư.

1 trong những cách phân loại cũ nhất và phổ biến nhất đó là cách phân loại các nhà đầu tư theo 2 dạng active & passive. Theo Barnewall, nhà đầu tư thụ động là những nhà đầu tư mong muốn sự an toàn nhiều hơn, sợ thua lỗ nhiều hơn so với khả năng tài chính của họ. Nhóm nhà đầu tư này thường bao gồm các luật sư, giám đốc của những công ty lớn, kế toán viên, bác sĩ & các hộ kinh doanh nhỏ. Sự thiếu thông tin & kiến thức về kinh tế tài chính khiến cho họ sợ đầu tư thua lỗ hơn so với khả năng chịu đựng rủi ro của họ. Ngược lại, nhà đầu tư năng động là những người có khả năng chịu đựng rủi ro cao & thích mạo hiểm hơn so với việc chỉ lựa chọn các cổ phiếu an toàn. Những nhà đầu tư này thường rất tự tin vào kiến thức, kinh nghiệm đầu tư của mình và thích tự nghiên cứu để ra quyết định đầu tư chứ không hoàn toàn phụ thuộc vào tư vấn của chuyên gia.
Dựa 1 phần vào kết quả nghiên cứu của Barnewall(1987), Bailard, Biehl, và Kaiser (BBK) đã phân loại nhà đầu tư cá nhân theo 2 trục: mức độ tự tin & cách thức hành động. Từ mô hình như hình vẽ, BBK phân nhà đầu tư thành 5 loại:

bf1

Mạo hiểm: (Adventurer) nhà đầu tư thuộc loại này thích 1 danh mục tập trung, bỏ trứng vào cùng 1 rỗ vì họ tin vào bản thân & quyết liều ăn nhiều. Chính sự tự tin này khiến họ thường tự chọn cổ phiếu & khiến cho nhiều chuyên viên tư vấn, môi giới không ăn được phí tư vấn từ họ.

Chạy theo đám đông: (Celebrity) nhà đầu tư này là người rất máu đầu tư nhưng không tự tin. Vì vậy họ thường đầu tư theo các cổ phiếu hot hiện tại, có nhiều cao thủ bơm thổi, hoặc nghe tin có đội lái lái con nào thì theo con đó. Đây không phải là tích cách thường thấy của 1 nhà đầu tư thành công.

Chủ nghĩa cá nhân: (individualist) họ rất tự tin & mua bán với sự cẩn trọng. Nhà đầu tư loại này hiểu mối quan hệ giữa rủi ro và lợi nhuân, thường tự mình nghiên cứu đầu tư và ít mắc sai lầm hơn nhà đầu tư mạo hiểm. Họ thường đa dạng hoá danh mục của mình & sẽ bán sạch cổ phiếu khi có hiện tượng bong bóng giá tài sản bị thổi lên quá cao. Các nhà đầu tư chuyên nghiệp phải có tính cách này mới sống lâu được trên thị trường. Chỉ cần ăn ít thôi, nhưng mà ăn hoài, ổn định năm này qua năm khác.

Quá thận trọng: (Guardian) quá cẩn thận & sợ hãi là đặc tính của nhóm nhà đầu tư này. Những người lớn tuổi thường nằm trong nhóm này. Họ cần bảo vệ thành quả lao động, kiếm dòng tiền ổn định hơn là mạo hiểm đầu tư vào các cổ phiếu hot. Ngoài ra, các nhà đầu tư mới vào thị trường với quá ít kiến thức & kinh nghiệm cũng thường rơi vào nhóm quá thận trọng (lí thuyết là vậy, nhưng có lẽ ở VN những người mới gia nhập thị trường thường liều nhất :D )

Trung lập: (straight arrow) Rất nhiều nhà đầu tư thường nằm trong loại này. Họ không quá tự tin, cũng ko quá sợ hãi, kiến thức kinh nghiệm vừa vừa. Họ có 1 số đặc điểm của nhóm này trộn lẫn 1 số đặc điểm của nhóm khác, nhìn chung là những nhà đầu tư trung bình, có kiến thức & 1 chút tự tin, nhưng vẫn chưa đủ tiêu chuẩn để nhảy sang nhóm individualist.

Còn bạn? Bạn đang thuộc nhóm nào trong 5 nhóm trên?
Đứng dưới góc độ đầu tư chuyên nghiệp, Individualist là nhóm tốt nhất & đảm bảo sống thọ lâu dài với thị trường. Tuy nhiên, nhiều nhà đầu tư không đủ thời gian và năng lượng để trang bị kiến thức, kinh nghiệm nhằm mục tiêu sinh nghề tử nghiệp với công việc đầu tư. Vì vậy, nằm ở nhóm Trung Bình cũng đã là rất tốt, vừa đảm bảo đồng vốn của mình không quá rủi ro, vừa có thể học hỏi & nếu may mắn thì kiếm ăn tốt từ thị trường. Còn nếu bạn đang nằm trong 3 nhóm còn lại thì cũng không phải thảm hoạ gì. Ai cũng có những thiếu sót về kiến thức, kinh nghiệm, tâm lý & cần phải có thời gian nếm đòn bầm mình bầm mẩy từ thị trường thì mới lớn lên & tăng level được. Chúc các bạn trước mắt đầu tư trăm trận không thua, học tập rèn luyện dần để sớm đạt cảm giới individualist, có thể kiếm tiền ổn định từ TTCK.

Tính toán mức lương thất nghiệp như thế nào

Theo Blog's Toithichdoc,

1. Nguyên tắc tính lương thất nghiệp theo ngàyVì bảo hiểm thất nghiệp chỉ trả lương thất nghiệp theo số ngày làm việc (từ thứ 2 đến thứ 6) nên bạn sẽ được nhận 5 khoản lương ngày mỗi tuần. Vì số ngày làm việc mỗi tháng khác nhau nên số tiền lương thất nghiệp bạn nhận hàng tháng cũng khác nhau. Số ngày làm việc trong tháng giao động giữa 20 và 23 ngày, trung bình là 21,7 ngày.
Về nguyên tắc, mức lương thất nghiệp được xác định căn cứ vào tiền lương bạn đóng góp trước đó vào quỹ AVS (xem giải nghĩa các từ viết tắt trong bài 1) trung bình của 6 tháng trước khi thất nghiệp, hoặc 12 tháng nếu cách tính này có lợi cho bạn hơn.
Bạn sẽ nhận được mức lương thất nghiệp bằng 80% lương trung bình của 6 tháng hoặc 12 tháng trước khi thất nghiệp nếu bạn thỏa mãn một trong các điều kiện sau:

- Bạn phải nuôi trẻ em (dưới 18 tuổi),
- Thu nhập trước đó của bạn không vượt quá 3797 CHF (khoảng 4000 đô la Mỹ);
- Nếu bạn nhận trợ cấp thương tật ở mức từ 40% trở lên;

Trong mọi trường hợp khác, bạn sẽ nhận được mức lương thất nghiệp bằng 80% lương trung bình của 6 tháng hoặc 12 tháng trước khi thất nghiệp.

sẽ viết tiếp.

June 20, 2013

Ai đã từng khóc khi xem những bức ảnh này?

Theo Toithichdoc Blog's,

- Có rất nhiều người đã rơi nước mắt khi vô tình xem được bức ảnh về một đứa trẻ bị bỏ rơi, chỉ được bọc bằng một tấm vải mỏng, bị côn trùng bâu kín khắp người, hay một người đàn ông tàn tật đang chống đỡ một cách vô vọng khi cơn mưa lớn ào đến bất ngờ…
Giữa cuộc sống xô bồ, hối hả, hãy dành một khoảng thời gian ngắn ngủi để nhìn lại những bức ảnh mà ý nghĩa và sự xúc động ẩn chứa trong nó là không thể nói hết bằng lời...
Trong khi nhiều người đang sử dụng một cách hoang phí đồ ăn, 
thì một cụ già nhặt và ăn mẩu bánh cạnh thùng rác ....
Cụ bà bán rau muống để mưu sinh bên vệ đường




Hay cố gắng vét những hạt thóc còn sót lại trên sân trước khi chúng bị nước mưa cuốn trôi.


Và chống đỡ một cách vô vọng khi cơn mưa lớn ào đến bất ngờ...


Nhưng chỉ có một giấc ngủ nhọc nhằn ...


Hay một đứa trẻ bị bỏ rơi, chỉ được bọc bằng một tấm khăn mỏng, 
đang bị côn trùng bò kín khắp người. 


Và một bức ảnh cảm động về tình yêu thương


Cho dù cha chỉ còn lại 1 tay và 1 chân...


Tình mẫu tử vẫn là tình cảm mãnh liệt nhất của con người.


Minh Minh(tổng hợp)


Đặc biệt có một tấm bị loại bỏ khỏi bài gốc trên:


Một bà cụ già tóc bạc trắng, khuôn mặt khắc khổ, làn da nhăn nheo những vết chân chim đồi mồi đang ngồi lặng trước nền nhà cũ kỹ, mắt nhìn vào đống giấy khen nhàu nát. Phải nhìn thật kỹ người ta mới nhận ra đó là giấy báo, giấy chứng nhận Tổ Quốc ghi công, giấy khen và thoáng hình ảnh lá cờ Tổ Quốc. 


"Các con ra đi đã mấy chiến trường... mang theo cả tình thương của mẹ"


Có lẽ BBT báo Vietnamnet thấy nhạy cảm quá nên sửa bài, lượt bỏ. Nguồn gốc tấm ảnh và bà cụ là ai?

Mẹ liệt sĩ mù lòa sống trong căn nhà đất

02/11/2010
(Tin tuc) - Biết mẹ buồn, anh con trai thứ vẫn hàng ngày sang động viên và mớm cháo cho mẹ, nhưng khốn nỗi đời anh cũng nghèo, cũng tàn tạ như mẹ vậy...
Đó là những gì chúng tôi tai nghe, mặt thấy đầu tiên tại nhà mẹ liệt sĩ Nguyễn Thị Tuê, (Kỳ Anh - Hà Tĩnh). Năm nay, mẹ đã bước sang cái tuổi “xưa nay hiếm” 95 tuổi, mắt mù, tai điếc, nhưng vẫn phải sống trong túp lều tranh, vách đất. Cho dù, mẹ có người con trai là liệt sĩ Trần Trọng Thể hy sinh năm Mậu Thân.
Người mẹ khốn khổ
Đang dò đường hỏi nhà mẹ Tuê, bất chợt chúng tôi bắt gặp một thanh niên xiêu vẹo, trạc tuổi 28-30 gì đó, nghêu ngao hát, “Đời mẹ nghèo, phông áo rách, áo rách nên…”. Giọng anh ta ề à, cứ lặp đi, lặp lại lẫn với mùi rượu từ trong người toát ra.
"Các con ra đi đã mấy chiến trường... mang theo cả tình thương của mẹ"
Cuối cùng, chúng tôi cũng tìm được đến nhà mẹ Tuê vào một ngày cuối tháng10/2010. Hà Tĩnh vẫn đang bị dư âm của hai cơn lũ khủng khiếp, vì thế đâu đâu cũng toàn nghe chuyện cứu trợ, cứu nạn, ủng hộ dân vùng lũ nghe mà thảm cảnh.
Ngôi nhà của mẹ Tuê rộng chừng 15m2, thấp lè tè như lều vịt, mái được lợp ngói đỏ lẫn với tranh, chỗ sáng, chỗ tối trông dột nát. Xung quanh tường được phết bằng phên tre trộn lẫn với bùn non trông lem luốc. Trong nhà hầu như không có gì đáng giá, ngoài chiếc giường kê sát vách lá, nơi mẹ Tuê nằm đã không biết bao nhiêu năm trường.
Thấy có khách lạ, mẹ cố gượng dậy mời chúng tôi ngồi chơi. Mẹ Tuê mù lòa, chân tay yếu đi đứng không vững. Ấy vậy, mẹ vẫn tinh tường bảo chúng tôi ngồi tạm xuống cạnh gường để trò chuyện cùng mẹ cho khuây. Lâu nay, ít người qua thăm mẹ. Chiếc chiếu độc nhất đêm qua bị dột mưa ướt phần nửa đã được ai đó đưa ra rào phơi giùm. Thành thể gường mẹ nằm không có chăn, chiếu.
Anh bạn đồng nghiệp của tôi chạy ù ra ngoài hỏi mua cho mẹ chiếc chiếu nhưng không được. Cảm động, mẹ cười hóm hỉnh rồi nói: “Mẹ quen rồi”, và lặng thinh không nói. Tôi bỗng thấy đôi mắt cay xòe.
Hồi lâu, mẹ kể, giọng khàn khàn, câu được, câu mất: Ngày ấy, cả gia đình mẹ tham gia cách mạng. Bản thân mẹ và chồng cùng anh em con cháu đều nêu cao khẩu hiệu “Tất cả cho tiền tuyến”, và đã được Nhà nước tặng thưởng rất nhiều huân, huy chương cùng tấm bằng “Gia đình vẻ vang” cao quý.
Di ảnh liệt sĩ Trần Trọng Thể và tấm bằng Tổ quốc ghi công
Rồi bốn người con của mẹ đều tòng quân. Người con cả của mẹ là anh Trần Trọng Thể đã ngã xuống năm 1968, trong một trận đánh oanh liệt với địch ở chiến trường B. Ba đứa còn lại, may mắn trở về nhưng phải đi xa kiếm sống mà cũng không khá giả gì.
… Và ước mơ ngôi nhà hương khói
Mấy người hàng xóm nói: Ngày trước, mẹ Tuê khỏe lắm chạy đôn, chạy đáo khắp nơi, không có chuyện gì là không đến tay mẹ, vì thế mọi chuyện trong nhà, mẹ vẫn một mình lo liệu chu tất.
Nhưng giờ mẹ già “mỏi gối, chùng chân”. Hơn nữa sống trong cảnh mù lòa, đi đứng không vững, cuộc sống mẹ chủ yếu dựa vào lũ con. Ông trời bắt tội, nên mấy đứa con của mẹ cũng nghèo, cũng khổ. Giờ chỉ có đứa con thứ là anh Trần Hưng Đạo, đau yếu liên miên do vết thương, nên ở lại với mẹ.
"Đời mẹ nghèo, phông áo rách..."
Biết có PV đến thăm mẹ Tuê, ông Trương Công Bình - Chủ tịch UBND xã Kỳ Trinh cũng sang và giải thích: Sở dĩ đến giờ mẹ Tuê vẫn phải sống trong cảnh chật chội, ẩm mục, chưa được hỗ trợ làm nhà, vì xã còn nghèo quá. Vả lại, đơn thư của mẹ Tuê chuyển lên phòng LD& TB-XH huyện Kỳ Anh xin ý kiến. Tuy nhiên, mãi đến giờ vẫn chưa thấy hồi âm...
Ông Bình còn cho biết: Năm ngoái, xã đã hỗ trợ kinh phí xóa nhà tranh tre (1 triệu) chứ không phải là hỗ trợ cho làm nhà cho gia đình chính sách.
Anh Hưng Đạo tâm sự: Mấy hôm trước mưa lũ dữ quá, khiến nhà mẹ ướt nhoẹt, anh phải chạy sang bế mẹ lên nhà trên nhưng cũng chẳng ăn thua gì, vì nhà anh cũng mối mọt gần hết, không hơn gì mẹ.
Rồi anh xót xa: Thực lòng, tôi rất muốn lo cho mẹ nơi ăn, chốn ở tử tế lúc cuối đời, nhưng ngặt nỗi nhà quá nghèo, nghề nghiệp chẳng có, trong khi bản thân đau ốm liên miên, lấy đâu ra tiền xây nhà cho mẹ”. Những giọt nước mắt trong anh – một thằng đàn ông bất lực lã chã rơi xuống. “Tôi có lỗi với mẹ nhiều…”.
Đã không biết bao nhiêu lần mẹ nhờ người viết đơn cho cơ quan chức năng kêu hộ
Căn nhà của mẹ, hầu hết bức tường đã rụng đất, còn trơ lại phên tre và tấm Bằng Tổ quốc ghi công ố vàng vì thời gian. Ngay đến cả di ảnh của liệt sĩ Trần Trọng Thể cũng phải gửi tạm lên nhà con, vì nhà mẹ chẳng có nơi nào thờ cúng...
Trước khi ra về, mẹ còn nhắn: “Đừng trách cứ gì ai các con nhé. Già chỉ mong có một ngôi nhà nhỏ thờ chồng, thờ con và để sống nốt quãng đời còn lại... là đủ “.24H.COM.VN (Theo Bee.net.vn)

Vài bà mẹ khác:


Cảnh mẹ liệt sĩ sống ở túp lều tranh
29/8/2012
Gần 90 tuổi, tóc đã bạc trắng, mắt mờ, da nhăn nheo, tay chân run rẩy nhưng người mẹ liệt sĩ ở huyện Thạch Hà (Hà Tĩnh) vẫn phải sống một mình trong túp lều tranh, vách đất xiêu vẹo.


Ước nguyện có gian nhà ngói để thờ tự đứa con đã hi sinh xương máu cho Tổ quốc bấy lâu nay vẫn chưa thực hiện được khiến cụ trăn trở, đau đáu khi ngày "về với đất" đang đến gần.

Mơ ước nhỏ nhoi tháng ngày cuối đời
Ước nguyện có gian nhà ngói thờ con trai của mẹ liệt sĩ Phạm Thị Vượng vẫn chưa thực hiện được, bao năm nay, cụ vẫn phải sống trong túp lều tranh, vách đất này.
Khi người dẫn đường đưa chúng tôi đến trước túp lều tranh, vách đất rách nát, xiêu vẹo, nằm ẩn khuất dưới khóm tre và bảo "nhà cụ Vượng mẹ liệt sĩ là ở đây".

Nghe có tiếng khách lạ, cụ bà tóc bạc trắng, da nhăn nheo, đang nằm cố gượng dậy. Tên mẹ là Phạm Thị Vượng (SN 1925) lấy chồng là ông Nguyễn Hữu Côn (SN 1915), có được 5 người con. Năm 1968 khi đứa con út mới được 2 tuổi thì chồng mất vì bạo bệnh. Một mình bà bươn chải nuôi con.

Năm 1974, anh Nguyễn Xuân Hồng (SN 1956, là người con thứ 3 trong gia đình) nhập ngũ tham gia chiến đấu ở chiến trường miền Nam, một năm sau, người mẹ như chết lặng khi nhận được giấy báo tử liệt sĩ Hồng đã hi sinh ngày 09/4/1975 tại chiến trường miền Nam trong cuộc tấn công vào Xuân Lộc.

"Trong mấy đứa con, mẹ thương thằng Hồng nhiều nhất, nó hiền lành, ít nói, ngày nhập ngũ nó còn nói vào giải phóng miền Nam xong sẽ về cưới vợ để mẹ bồng cháu. Vậy mà, sau lần đó, nó không bao giờ về được nữa. Nó hi sinh khi chưa đầy 19 tuổi..." - cụ Vượng rưng rưng trong đôi mắt sâu thẳm.

Xót xa khi mất đi người con trai yêu quý cống hiến xương máu cho Tổ quốc trong chiến tranh rồi lại đến lượt những đứa con thời bình, đau ốm, bệnh tật "ra đi" trước mẹ.


Trong túp lều tranh, vách đất xiêu vẹo, chật chội khiến mẹ liệt sĩ cảm thấy buồn tủi, ứa nước mắt khi không có được một góc sạch sẽ để đặt bàn thờ, lo hương khói cho con.
Giờ đây, người mẹ liệt sĩ chỉ còn 2 người con còn sống nhưng cả hai đều là nông dân, hoàn cảnh cũng rất nghèo khó.
Cụ Vượng cho biết, 2 đứa con đều muốn cụ về sống với chúng, nhưng cụ không đồng ý vì "ở chung con cháu ồn ào mệt mỏi, tuổi già vẫn thích nhất là sự yên tĩnh".

Thế nên từ nhiều năm nay, cụ vẫn sống một mình trong túp lều tranh này.

Chuyện trò với chúng tôi một lúc, bỗng dưng cụ Vượng lẳng lặng lụ khụ dậy lục lọi, lấy ra tấm Bằng Tổ quốc ghi công anh con trai liệt sĩ, tay run rẫy vuốt ve rồi ứa nước mắt nói trong nghẹn ngào:

"Mẹ già yếu lắm rồi, ước nguyện có gian nhà ngói thờ đứa con liệt sĩ này từ lâu lắm rồi mà khó quá. Chỉ mong những ngày cuối đời này ước nguyện đó thực hiện được, để khi nhắm mắt mẹ cũng cảm thấy yên lòng" - cụ nói.

Vì đâu nên nỗi?

Anh Nguyễn Xuân Mạo, con trai cụ Vượng tỏ ra buồn, thất vọng.

"Nhiều năm nay, trong các cuộc họp xóm, họp xã xét các trường hợp được xóa nhà tranh tre, tôi đã đề xuất chính quyền quan tâm đến mẹ mình, họ cứ hứa nhưng rồi chẳng thấy làm, mẹ tôi vẫn phải sống trong túp lều tranh hết năm này đến năm khác" - anh Mạo bức xúc.


Cầm trên tay tấm bằng Tổ quốc ghi công của đứa con liệt sĩ, hàng ngày, ước nguyện có gian nhà ngói thờ con chưa được thực hiện, khiến bà mẹ già đau đáu, sợ ngày nhắm mắt chưa thể yên lòng
Theo anh Mạo, nhiều trường hợp trong xã, không thuộc diện mẹ liệt sĩ, gia đình chính sách, con cái vẫn đông đủ nhưng khi sống riêng, một số cụ ông, cụ bà đã được hỗ trợ xóa nhà tranh tre rồi, chỉ còn mẹ anh bị ‘’bỏ quên’’.

Nguyên nhân chính quyền địa phương nhiều lần bỏ qua, không xem xét xóa nhà tranh tre cho mẹ mình, anh Mạo thông tin, do UBND xã cho rằng một phần mảnh đất nơi mẹ anh ở đang có tranh chấp với ông Phạm Xuân Đôi (có con rể đang làm Bí thư Đảng ủy xã).

Cũng theo anh Mạo, phần diện tích đất nơi mẹ anh đang ở, trước đây là của ông Đôi, nhưng từ năm 1988, ông Đôi chuyển nhà đi nơi khác, mẹ anh xin dựng nhà ở đó, nhưng rồi mẹ già yếu, không tiện đóng nộp thuế nên anh xin nhập diện tích đất của mẹ vào đất của mình để thay mẹ đi đóng nộp thuế thì UBND xã đồng ý.
Phần diện tích đó được cộng vào đất của anh và được cấp chung 1 sổ đỏ từ năm 2004.

Trong khi đó, ông Bùi Đức Thịnh Chủ tịch UBND xã Thạch Lâm cho biết, trường hợp của bà Vượng là đang sống chung với con, khi thì bà ở nhà con trai, khi ở nhà con gái.

Tuy nhiên, khi PV đưa ra những thông tin, bà Vượng là một hộ độc lập, có hộ khẩu riêng vẫn phải đóng nộp, làm các nghĩa vụ thuế và đang sống một mình trong túp lều tranh thì ông Thịnh lý giải, do miếng đất nơi nhà bà Vượng làm nhà đang tranh chấp với ông Phạm Xuân Đôi.

Vài năm nay, ông Đôi làm đơn lên xã đòi lại đất nên chưa xem xét, hỗ trợ xây nhà cho bà Vượng trên mảnh đất đó được.

Theo như lời ông chủ tịch xã, thì hiện UBND xã đang “chờ” bà mẹ liệt sỹ gần 90 tuổi đã có sổ đỏ “thoả thuận” được với người tranh chấp. Khi nào phần đất của bà Vượng không còn tranh chấp nữa thì UBND xã sẽ xem xét xóa nhà tranh tre cho bà?!

Việc bà Vượng sống trong căn nhà tranh tre nứa lá từ lâu, cả xã ai cũng biết, thế nhưng theo ông Thịnh, từ trước đến nay, do bà Vượng không có đơn trình bày nguyện vọng xóa nhà tranh tre, nếu họ có nguyện vọng thì xã sẽ lưu ý!?

Còn Trưởng Phòng LĐTBXH huyện Thạch Hà Phan Hữu Tuất cho biết, năm 2011, từng có chương trình tài trợ xóa nhà tranh tre, bà Vượng có tên trong danh sách, thế nhưng đã thực hiện được do phần đất của bà Vượng chưa rõ ràng?

Duy Tuấn - Trần Văn/ Vietnamnet

Nỗi chờ mong của mẹ Đáp
23.02.2012 
Mẹ liệt sĩ Nguyễn Thị Đáp trong căn nhà dột nát của mình.
Báo Bình Thuận số ra ngày 13/2/2012, có đăng bài “Cần sớm giải quyết đất ở cho bà Nguyễn Thị Đáp” đã phản ánh quá trình giải quyết việc tranh chấp thửa đất 13C (KP 6, phường Đức Long, Phan Thiết) giữa bà Nguyễn Thị Đáp với bà Lê Thị Bạch Tuyết cùng cư trú tại tổ 1, KP 6, phường Đức Long. 
Để góp phần làm rõ thêm vụ việc, bài viết này sẽ đề cập những thông tin liên quan đến thửa đất 13C và quá trình giải quyết tranh chấp của chính quyền các cấp đối với thửa đất nói trên.
Khoảnh đất có diện tích 1.253,3m2, thuộc tờ bản đồ số 2, tọa lạc tại KP 6, phường Đức Long, được chia làm 3 thửa, gồm: 13B; 13C; 13D, trong đó thửa đất 13C có diện tích 246,6m2 (hiện tại chỉ có hơn 120m2) được gia đình bà Nguyễn Thị Đáp sử dụng làm nơi ở từ những năm trước giải phóng. Cũng từ mảnh đất này mà bà Đáp cùng chồng (Huỳnh Ngãi) và con trai (Huỳnh Văn Đồng) đi làm cách mạng. Sau chiến dịch Mậu Thân năm 1968, do bị địch theo dõi gắt gao vì gia đình hoạt động cách mạng nên phải lánh nạn một thời gian, rồi khi giải phóng Phan Thiết (năm 1975), gia đình bà Đáp trở lại sinh sống trên thửa đất đó cho đến nay. Vậy nhưng vào năm 2004, bà Lê Thị Bạch Tuyết, địa chỉ ở tổ 1, khu phố 6, phường Đức Long (Phan Thiết) lập hồ sơ xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (CNQSDĐ) và được UBND TP Phan Thiết ra QĐ số 2984/QĐ-UBND ngày 22/6/2004, cấp giấy CNQSDĐ mang số Đ798382 cho bà Lê Thị Bạch Tuyết. Cơ sở để cấp giấy đó được cho là đất bà Tuyết có giấy tờ chứng thư kiến điền của Ty Điền địa Bình Thuận (thuộc chế độ cũ) cấp và là đất nhận di sản thừa kế của bà Lê Thị Mẹo (bà nội của bà Tuyết). Có được sổ đỏ trong tay, bà Tuyết trở thành chủ đối với thửa đất 13C, do vậy khoảng đầu năm 2005, khi nhà bà Đáp đã bị xuống cấp, quá dột nát nên được UBND phường Đức Long hỗ trợ 5 triệu đồng để khắc phục, bà Đáp tiến hành sửa chữa nhà thì bà Lê Thị Bạch Tuyết đứng ra ngăn cản. Vào tháng 4/2008, bà Tuyết đã đổ đất bồi nền và xây kiềng bao quanh thửa đất, nhưng bị UBND phường Đức Long và UBND TP Phan Thiết ngăn chặn.

Mẹ liệt sĩ Nguyễn Thị Đáp trong căn nhà dột nát của mình.

Trước nguy cơ “trắng tay”, bà Nguyễn Thị Đáp đã làm đơn khiếu nại QĐ số 2984/QĐ-UBND ngày 22/6/2004 của Chủ tịch UBND TP Phan Thiết về việc cấp giấy CNQSDĐ cho bà Lê Thị Bạch Tuyết, nhưng việc giải quyết khiếu nại lần đầu bằng QĐ số 4863/QĐ-UBND, ngày 17/6/2008 của Chủ tịch UBND TP Phan Thiết đã không chấp thuận đơn của bà Đáp. Ngày 02/7/2008, bà Đáp tiếp tục làm đơn khiếu nại lần 2 đối với QĐ số 4863/QĐ-UBND của Chủ tịch UBND TP Phan Thiết, gửi tới Chủ tịch UBND tỉnh Bình Thuận.
Đồng hành, tiếp thêm sức để góp phần đòi lại đất cho bà Đáp còn có Hội Cựu chiến binh phường cùng một số cán bộ hưu trí ở phường Đức Long đã nêu kiến nghị với chính quyền các cấp từ phường đến tỉnh, đồng thời Hội đồng xét tính pháp lý về đất của phường Đức Long đã họp và thống nhất đề xuất UBND TP Phan Thiết xem xét, công nhận QSD thửa đất 13C cho bà Nguyễn Thị Đáp.
Kết quả giải quyết khiếu nại lần 2 của bà Đáp bằng QĐ số 375/QĐ-UBND, ngày 9/2/2009 của Chủ tịch UBND tỉnh Bình Thuận đã đáp ứng lòng mong đợi của người khiếu nại và những người quan tâm bảo vệ quyền lợi cho bà Đáp. Trên cơ sở quy định của pháp luật và các hồ sơ tài liệu quản lý đất đai liên quan, QĐ 375 của Chủ tịch UBND tỉnh đã chỉ rõ: Sổ mục kê quyền SDĐ do phường Đức Long lập năm 1998 không có tên gia đình bà Lê Thị Mẹo (bà nội của bà Tuyết) đăng ký kê khai diện tích đất 5,278 sào (bao gồm cả thửa đất 13C); từ năm 1975 đến tháng 4/2006, bà Lê Thị Mẹo không thực hiện đăng ký, kê khai, không sử dụng và không thực hiện nghĩa vụ tài chính về đất. Về trường hợp đất của bà Nguyễn Thị Đáp, QĐ 375 của UBND tỉnh thừa nhận: Tuy chưa đăng ký kê khai diện tích đang sử dụng với cơ quan nhà nước và không có giấy tờ pháp lý về QSDĐ, nhưng CV số 127/UBND ngày 24/11/2008 của UBND phường Đức Long xác định bà Đáp có tác động và cất nhà trên thửa đất 13C từ sau ngày giải phóng năm 1975 đến nay. Dựa trên những cơ sở đó, tại điều 2, QĐ số 375, Chủ tịch UBND tỉnh yêu cầu Chủ tịch UBND TP Phan Thiết thu hồi QĐ số 2984/QĐ-UBND, ngày 22/6/2004 của UBND TP Phan Thiết về việc cấp giấy CNQSDĐ cho bà Lê Thị Bạch Tuyết. Xem xét việc sử dụng đất của bà Nguyễn Thị Đáp để giải quyết đất ở theo quy định của pháp luật.
Chấp hành quyết định giải quyết khiếu nại lần 2 của UBND tỉnh, UBND TP Phan Thiết đã ban hành QĐ số 2214/QĐ-UBND, ngày 3/6/2009, thu hồi và hủy bỏ giấy CNQSDĐ số Đ798382 đã cấp cho bà Lê Thị Bạch Tuyết. Mặc dù bà Tuyết có đơn khiếu nại đối với QĐ số 375/QĐ-UBND ngày 9/2/2009 của Chủ tịch UBND tỉnh và khiếu nại QĐ số 2214/QĐ-UBND, ngày 03/6/2009 của UBND TP Phan Thiết. Việc khiếu nại các QĐ đó đã được UBND các cấp liên quan giải quyết, cụ thể tại văn bản số 2952/UBND-NC, ngày 24/6/2011 của Chủ tịch UBND tỉnh Bình Thuận đã khẳng định: QĐ số 375/QĐ-UBND, ngày 9/2/2009, Chủ tịch UBND tỉnh giải quyết lần 2 đối với khiếu nại của bà Nguyễn Thị Đáp là đúng quy định của pháp luật, nay UBND tỉnh tiếp tục thực hiện quyết định này. UBND TP Phan Thiết cũng đã có QĐ giải quyết khiếu nại lần đầu của bà Tuyết bằng QĐ số 473/QĐ-UBND, ngày 19/8/2011, không chấp thuận đơn khiếu nại lần đầu của bà Lê Thị Bạch Tuyết.
Vấn đề còn lại là hiện nay bà Tuyết đã đi theo hướng nào để thực hiện quyền khiếu nại của mình, nếu khiếu nại lần 2 lên cơ quan hành chính cấp trên trực tiếp thì đến thời điểm này thời hiệu khiếu nại và thời hạn giải quyết khiếu nại lần 2 đã hết, (thời hiệu khiếu nại lần 2 là 30 ngày kể từ ngày nhận được QĐ giải quyết khiếu nại lần đầu, thời hạn giải quyết khiếu nại lần 2 là 45 ngày, đối vụ việc phức tạp là không quá 60 ngày kể từ ngày thụ lý đơn khiếu nại). Vậy nếu tính từ khi có văn bản 2952, ngày 24/6/2011 của UBND tỉnh trả lời việc bà Tuyết khiếu nại QĐ 375 của UBND tỉnh đến nay đã gần 8 tháng và từ khi có QĐ 473, ngày 19/8/2011 của UBND TP Phan Thiết đến nay đã tròn 6 tháng, chẳng lẽ sự việc chưa được giải quyết? Được biết hiện nay bà Tuyết đã khởi kiện vụ án hành chính ra TAND TP Phan Thiết.
Đôi điều về gia đình mẹ Đáp
Bà Đáp không hề kể lể gì về công lao của gia đình mình, nhưng những cán bộ hưu trí phường Đức Long; ông Trần Ngọc Giai và ông Mai Hoàng Đại (nguyên Giám đốc Công ty in Bình Thuận, cựu tù chính trị) cho biết, trước giải phóng chẳng những con trai Huỳnh Văn Đồng hy sinh (năm 1970) mà ông Huỳnh Ngãi bị địch bắt, giam cầm trong nhà lao, bị tù đày tra tấn, ảnh hưởng nhiều đến sức khỏe, do vậy giải phóng về chưa được bao lâu thì ông mất (tháng 9 năm 1976). Còn bà Đáp, trong những năm kháng chiến là người chèo đò đưa cán bộ qua sông tại bến Sông Con (thuộc KP 6 Đức Long hiện nay) cho đến ngày giải phóng.
Nhìn chỗ ở hiện tại của mẹ Đáp mà thấy não lòng, khi bà đã bước sang tuổi 90 nhưng do việc tranh chấp kéo dài nên gian nhà dột nát vẫn trùm lên cuộc đời của người mẹ liệt sĩ. Mong chính quyền các cấp và các cơ quan chức năng thật sự quan tâm để mẹ Đáp có được chỗ ở ổn định, bà đang trông đợi từng ngày.
DUY HÀ
(Theo Bình Thuận)
Giường hàng đêm bà Hoà vẫn nằm ngủ

Bà Nguyễn Thị Hòa trước căn lều lụp xụp
Chiếc bàn dùng để thờ liệt sĩ Lê Văn Đượm
 
Cụ Nguyễn Thị Mỹ (90 tuổi), mẹ liệt sỹ sinh sống một mình trong con thuyền nhỏ 


Theo: Vozforums

Tăng trưởng tín dụng

Nguyễn Vạn Phú,

Ghi chép - 3
(chuyện tăng trưởng tín dụng)

Ngân hàng Nhà nước đang cố gắng tìm mọi cách để các ngân hàng cho vay nhiều thêm, mức thêm cố gắng chừng 12% so với năm ngoái, bởi phải tăng dự nợ tín dụng tối thiểu ở mức này thì GDP mới tăng như dự tính. Nhưng thay vì thúc giục các ngân hàng thương mại, tại sao không thử hỏi các doanh nghiệp, là nơi đi vay tiền, vì sao họ không thèm vay thêm nữa.

Khác với suy nghĩ bình thường, lãi suất cao nhưng đi kèm lạm phát cao thì không làm doanh nghiệp lo ngại. Đầu năm họ vay một khoản tiền mua nguyên vật liệu về để sản xuất, giá chừng đó; giữa năm bán hàng (giá đã lên) thu tiền về. Vì tình hình lạm phát, hàng bán ra sẽ có giá cao hơn dự tính, dư sức chịu lãi suất cao mà vẫn còn có lãi.

Cái thời điểm khó khăn nhất của doanh nghiệp là giai đoạn chuyển đổi, từ lạm phát cao sang chững lại và giảm xuống. Lúc đó lãi suất cao mới là gánh nặng vì đội giá thành trong khi giá bán không tăng được nữa. Đó chính là giai đoạn hiện nay nên doanh nghiệp không vay, không mở rộng sản xuất kinh doanh.

Ngoài ra những doanh nghiệp còn làm ăn được, cũng đang tìm những nguồn vốn khác chứ không chịu vay ngân hàng nữa. Làm ăn được hiện nay chỉ có những ngành liên quan đến xuất khẩu và nông nghiệp. Cả hai đều đang tận dụng khả năng chiếm dụng vốn (hoặc của nông dân, hoặc của khách hàng bằng nguyên vật liệu) nên cũng không đụng tới tín dụng ngân hàng.

Nhiều doanh nghiệp chọn con đường bán bớt cổ phần cho nước ngoài, tiền cũng rót vào kinh doanh, không qua tín dụng ngân hàng. Kiều hối những năm trước chảy vào địa ốc, nay địa ốc đóng băng, tiền sẽ chảy vào sản xuất, kinh doanh – chảy trực tiếp, không qua tín dụng ngân hàng.

Chính vì vậy trong năm 2012, tổng phương tiện thanh toán tăng 22,38% mà tín dụng chỉ tăng 8,91%; Đến cuối tháng 5/2013, tổng phương tiện thanh toán tăng 5,46% mà tín dụng chỉ tăng 2,98%. Nói tóm lại, vẫn có tiền để duy trì mức tăng GDP như dự kiến, chỉ có điều một phần tiền này nó không chảy qua kênh tín dụng của ngân hàng (nền kinh tế phi chính thức của Việt Nam chiếm đến 30%).

Về phía ngân hàng, tín dụng không tăng nhiều khi là điều hay. Mấy năm trước có lúc huy động được 100 đồng, họ lại cho vay lên đến 116 đồng! Nay tỷ lệ này giảm còn 95% nhưng phải xuống nữa, chừng 80% mới phù hợp và 70% mới an toàn. Chứ cứ như mấy ngân hàng làm liều, vay tiền ngân hàng khác để cho vay thì sẽ sớm sụp tiệm.

*                      *                      *

Trước đó, các báo chạy tít “Mỗi tháng bơm thêm 40.000 tỷ đồng”; hay “Bơm 40.000 tỷ đồng tín dụng vào nền kinh tế mỗi tháng”… là sai rồi. Viết như thế nhiều người sẽ hiểu nhầm Chính phủ sẽ bơm một lượng tiền khổng lồ, 40.000 tỷ đồng/tháng, vào nền kinh tế. Tiền ở đâu mà “bơm” như thế?

Thật ra, tại Quốc hội, ông Nguyễn Xuân Phúc (Phó Thủ tướng) nói “…tất cả các tháng còn lại mỗi tháng chúng ta phải giải ngân được 40 nghìn tỷ/ tháng” để tín dụng cả năm tăng 12%. Chữ chúng ta ở đây phải hiểu là hệ thống ngân hàng.

Tín dụng tăng hay không là do ngân hàng (người cho vay), doanh nghiệp (người đi vay); còn chính phủ chỉ đóng vai trò thúc đẩy.

Những năm trước tín dụng tăng kỷ lục, có năm tăng trên 50%, chủ yếu đổ vào bất động sản và những ngành nghề liên quan. Nay bất động sản không hút tiền vì đang đóng băng thì tín dụng làm sao tăng được.

Giả thử năm ngoái bạn cho vay 100 đồng, muốn tăng 12% tức năm nay phải cho vay 112 đồng. Nhưng nay người vay cũ trả nợ và không vay nữa, tức duy trì 100 đồng đã khó, làm sao nghĩ đến chuyện cho vay 112 đồng. Ngân hàng cũng vậy, nợ cũ tăng nhanh, nay xẹp cũng nhanh, có cái thành nợ xấu, có cái người nào giỏi trả được nợ thì đâu dám vay nữa nên duy trì tín dụng ở mức bằng năm ngoái là đã giỏi lắm (chỉ sợ nó co hẹp lại, tăng trưởng âm nữa kìa) nói gì đến tăng trưởng. Cho nên trông chờ ngân hàng giải ngân mỗi tháng 40.000 tỷ đồng là chuyện khó, hầu như không thể thực hiện được.

Các nước cũng rơi vào tình trạng như thế nên cũng có chuyện bơm tiền ra. Và bơm hiểu theo nghĩa ngân hàng trung ương mua trái phiếu chính phủ (hay các tài sản tài chính) mà ngân hàng thương mại đang nắm giữ, đưa tiền cho ngân hàng để tiền chảy vào nền kinh tế. Thế mà ở Việt Nam đang làm ngược lại, ngân hàng thương mại bỏ tiền ra mua trái phiếu chính phủ! Và để cho khỏe Ngân hàng Nhà nước bèn tính khoản mua trái phiếu chính phủ đó cũng là tăng trưởng tín dụng!

Sự xung đột của các tư tưởng kinh tế

Lawrence H. White[1], FEE
Song Ngọc dịch, ICEVNVào mùa thu năm 1905, tại trường Đại Học Cambridge trang nghiêm của nước Anh, một sinh viên trên bậc đại học tên là John Maynard Keynes[2] bắt đầu học khoá đầu tiên và khoá duy nhất về kinh tế. Ông theo học tám tuần lễ dưới sự hướng dẫn của giáo sư nổi danh Alfred Marshall[3]. Trong mùa hè Keynes đã đọc tác phẩm (xuất bản lần thứ ba) lúc bấy giờ rất thịnh hành là Các Nguyên Tắc về Kinh Tế của Marshall, trong đó có tổng hợp các lý thuyết kinh tế cổ điển và mới, và lúc đó là cuốn sách giáo khoa kinh tế đứng hàng đầu trong thế giới nói tiếng Anh. 
Chẳng bao lâu, Marshall có những ấn tượng rất tốt về tài năng kinh tế của Keynes. Chính Keynes cũng có ấn tượng rất tốt về mình như vậy. Có lần ông ta nói với một bạn thân là: “Tôi nghĩ rằng tôi khá giỏi về kinh tế,” và nói thêm, “Rất thú vị và rất dễ dàng nắm vững nguyên lý của các vấn đề đó.” Một tuần lễ sau, ông ta viết: “Marshall cứ thúc giục tôi trở thành một kinh tế gia chuyên nghiệp.”
Tại một trại lính của quân đội Áo trên bờ sông Piave thuộc miền Bắc nước Ý, vào những tháng cuối cùng của Thế chiến Thứ Nhất, trong một lúc tạm giao chiến, một thiếu úy trẻ tuổi tên là Friedrich August von Hayek[4] mới có dịp đọc những bài viết đầu tiên về kinh tế (không kể các tờ truyền đơn về xã hội chủ nghĩa mà ông đã đọc khi còn ở đại học), đó là hai quyển sách do một người bạn đồng đội cho mượn. Về sau, ông không hiểu tại sao những cuốn sách như vậy lại “không làm cho ông chán ghét cái môn kinh tế,” bởi vì đó là “những bài viết về kinh tế nghèo nàn nhất không thể tưởng tượng được.” Sau chiến tranh, khi trở về đại học Vienna, người cựu chiến binh trẻ tuổi đó mới thật sự đam mê về kinh tế, khi ông thấy cuốn sách của một giáo sư đã về hưu tên là Carl Menger[5]. Tác phẩm Các nguyên tắc kinh tế của Menger vào năm 1871 đã đồng thời phát động một cuộc cách mạng theo chủ nghĩa biên tế và chủ quan trong lý thuyết kinh tế. Cuộc cách mạng đã cho Marshall những ý tưởng mới trong tác phẩm tổng hợp của ông. Hayek thấy tác phẩm của Menger “rất thú vị và rất hợp ý.”

Keynes và Hayek sẽ giữ những vai trò hàng đầu trong các cuộc xung đột về tư tưởng kinh tế trong cuộc Khủng hoảng Kinh tế Toàn cầu. Các tư tưởng của hai ông đã cung cấp thông tin cho các cuộc tranh luận cơ bản về chính sách kinh tế từ đó đến nay. Đến năm 2010 và 2011 sự cạnh tranh về trí thức của hai người đó còn là đề tài cho hai cuốn video dưới dạng nhạc rap lan tràn trên mạng.

Keynes thẳng tay bác bỏ chủ thuyết “bàn tay vô hình” của Adam Smith[6]. Trong đoạn mở đầu của bài thuyết trình năm 1924 xuất bản năm 1926 dưới dạng một tiểu luận, với nhan đề là Sự cáo chung của kinh tế tự do, ông nói: “Thế giới không được trị vì bởi một đấng tối cao khiến cho các quyền lợi tư và quyền lợi của xã hội luôn luôn hợp với nhau. Và thực tế là ở dưới hạ giới này thế giới đó cũng không được điều hành để những quyền lợi đó trùng hợp với nhau. Suy luận từ những nguyên tắc kinh tế cho rằng những quyền lợi cá nhân sáng suốt luôn luôn hành động thuận lợi cho quyền lợi công cộng thì điều đó không đúng.” Một cách rõ ràng Keynes phủ nhận là các lực thị trường phân tán cũng đủ để ấn định khối lượng và sự phân bố về tiết kiệm và đầu tư. Ông nói :” Tôi không nghĩ rằng, trong tình trạng hiện tại, những vấn đề này có thể hoàn toàn giao phó cho sự ngẫu nhiên của các phán đoán của giới tư nhân và theo lợi nhuận tư nhân.” Trong tác phẩm Lý thuyết tổng quát về nhân dụng và tiền lãi và tiền[7]xuất bản năm 1936, Keynes nhấn mạnh quan điểm là không có thể trông cậy vào các lực của thị trường để giao một số lượng đủ lớn về đầu tư một cách nói chung. Cần có phải sự điều phối của một chính quyền sáng suốt.

Keynes là người đứng hàng đầu chủ trương quan điểm rằng chính phủ cần phải kiểm soát nhiều hơn đối với ngành kinh tế. Hayek là người đứng hàng đầu chủ trương quan điểm rằng chính phủ cần phải bớt kiểm soát các lực của thị trường. Cả hai người đều là đại diện rất hữu ích cho hai phe đối lập bởi vì cả hai người đều có ảnh hưởng, chứ không phải bởi vì họ có một lập trường hoàn toàn đối nghịch vào lúc đó. Keynes không muốn hủy bỏ thị trường hoàn toàn như là các nhà tư tưởng cộng sản chủ trương. Keynes dứt khoát bác bỏ chủ nghĩa cộng sản của Nga vì ba lý do: (1) nó “phá hoại tự do và sự an toàn của cuộc sống bình thường;” (2) lý thuyết kinh tế Mác-xít “không những sai lầm về khoa học mà lại còn không có lợi và không thể áp dụng cho thế giới hiện đại” và các tài liệu về chủ nghĩa Mác-xít đều có ” luận điệu khoa trương rẻ tiền;” và (3) nó “đề cao giai cấp vô sản thô lậu và đặt họ lên trên giới tiểu tư sản và giới trí thức.” Nói một cách khác, chủ nghĩa Mác-xít miệt thị những người như Keynes và những người cùng một giai cấp với Keynes. Hayek cũng không muốn hủy bỏ chính quyền hoàn toàn như những nhà tư tưởng về chế độ tư bản vô chính phủ. (Vâng, thực sự là có những người muốn chủ trương một nền kinh tế thị trường không có chính phủ).

Trong phần lớn thế kỷ thứ 20, quan điểm của Keynes về việc chính phủ cần giữ một vai trò lớn hơn trong nền kinh tế đã rất phổ biến trong các giới hướng dẫn dư luận và do đó vai trò của chính quyền đã gia tăng. Tuy Keynes không chủ trương hoàn toàn kế hoạch bởi nhà nước nhưng ông ủng hộ quan điểm là cần có kế hoạch nhiều hơn. Trong một lá thư gởi cho Hayek, trả lời những sự phê bình của Hayek về vấn đề vai trò nhà nước lập kế hoạch trong tác phẩm Con đường tới chế độ nông nô[8] xuất bản năm 1944 của Hayek, Keynes đã viết: ” Tôi cần phải nói rằng không phải chúng ta không muốn có kế hoạch, hay là có kế hoạch ít hơn, thực ra tôi muốn nói là chúng ta cần phải có kế hoạch nhiều hơn.”
Kinh tế chính trị tại Mỹ trong Thời Đại Tiến Bộ

Các tư tưởng kinh tế ủng hộ sự gia tăng của vai trò chính quyền trong nền kinh tế không phải chỉ bắt đầu từ Keynes. Thực ra, không phải là chỉ tới thế kỷ thứ hai mươi những tư tưởng này mới xuất hiện. Vào cuối thế kỷ thứ mười chín chẳng hạn, Huê Kỳ bước vào một thời kỳ có thay đổi ý thức hệ chuyển sang chiều hướng chính quyền có vai trò tích cực hơn, thời kỳ này bây giờ được gọi là Thời Kỳ Tiến Bộ. Có nhiều nhà kinh tế đã giữ những vai trò quan trọng trong phong trào ý thức hệ và chính trị này, và đưa ra các lập luận cũng như cổ võ cho các dự luật để gia tăng vai trò của chính quyền liên bang trong nền kinh tế, từ những đạo luật như Đạo luật Chống Độc Quyền Sherman năm1890, Đạo luật Thực Phẩm và Dược Liệu Sạch năm 1906 và Đạo luật Ngân Hàng Dự Trữ Liên Bang năm 1913.
Vào cuối những năm 1870 và 1880 các nhà kinh tế Mỹ trẻ tuổi sau khi theo học cấp trên Đại Học từ Đức về, đã mang theo những ý tưởng và phương thức làm việc mà họ khai triển thành những trường phái tư tưởng gọi là Trường phái Kinh tế Định chế. Vào năm 1885 một nhà kinh tế 31 tuổi Richard T. Ely[9] của Đại Học Johns Hopkins University đứng đầu một nhóm các nhà kinh tế này và lập ra Hiệp Hội Kinh Tế Hoa Kỳ (American Economic Association). Hiệp Hội đã nhanh chóng trở nên và hiện nay vẫn còn là tổ chức đứng hàng đầu gồm các nhà kinh tế. Trong số các nhiệm vụ đầu tiên của tổ chức này là nhằm tập hợp các kinh tế gia chống lại các tư tưởng tự do kinh tế. Trong bản Công bố Nguyên Tắc đầu tiên của tổ chức, Hiệp Hội này xác nhận là “nhà nước là một cơ quan cung cấp những sự trợ giúp tích cực và vai trò đó là một trong những điều kiện không thể thiếu trong sự tiến bộ của nhân loại.”

Ely và những người đồng hướngg tự coi mình là những người trong “trường phái mới” bất đồng chính kiến với kinh tế cổ điển và tân cổ điển và với trường thuyết tự do cạnh tranh. Ely mô tả những người trong môn phái mới là những người tìm sự thật về khoa học; và những sự tìm tòi về lịch sử của họ đã cho thấy những lợi ích của việc lập các công đoàn và việc đình công. Họ tìm thấy trong chủ nghĩa xã hội “những sự thật quan trọng và rất hữu ích mà đáng tiếc là tới lúc đó vẫn chưa được chú ý tới,” và họ đã “lật đổ nhiều giáo điều theo môn phái chính thống vẫn được ưa chuộng” về tài chánh . Kết quả là lúc bấy giờ có nhiều “nhà kinh tế chính trị giảng dạy những chủ thuyết khác với các lý thuyết mà trước đó đã được những thành phần có ảnh hưởng trong xã hội chấp nhận.” Ely rõ ràng gắn bó trường phái mới ở Mỹ với những điều giảng dạy của các nhà lịch sử kinh tế Đức.

Sự kiện nhiều nhà kinh tế trước năm 1930 đã đưa ra các lập luận chống lại tự do kinh doanh và ủng hộ những chủ trương của phe Tiến bộ có thể là điều ngạc nhiên đối với những người cho rằng các nhà kinh tế chuyên môn hầu như luôn luôn ủng hộ quan điểm thị trường tự do, hay ít ra là họ đã chủ trương như vậy cho đến khi có Keynes. Một điều may mắn — hay không may mắn — là sự chuyên tâm của các kinh tế gia vào chủ thuyết tự do kinh doanh đã bị nhấn mạnh quá mức, đối với các nhà kinh tế trước cuộc khủng hoảng kinh tế và đối với các nhà kinh tế ngày nay. Chính Keynes cũng nhấn mạnh quá mức quan điểm của các nhà kinh tế trước thời ông và ngay cả nhà báo kiêm nhà kinh tế được giải Nobel năm 2009 là Paul Krugman cũng nghĩ như vậy khi ông viết vào năm 2007 rằng: “Cho tới khi John Maynard Keynes xuất bản cuốn Lý thuyết Tổng quát về Nhân dụng, Tiền lời và Tiềnnăm 1936 thì khoa kinh tế — ít ra là trong thế giới nói tiếng Anh — hoàn toàn bị chi phối bởi phe chính thống chủ trương thị trường tự do. Đôi khi cũng có những tư tưởng bất đồng nhưng các tư tưởng đó đều bị dẹp đi..”

Thực vậy, có một số lớn các nhà kinh tế nổi tiếng trong thế giới nói tiếng Anh đã chủ trương những tư tưởng dị biệt với tư tưởng thị trường tự do trong năm sáu chục năm trước năm 1936. Nhưng họ cũng không bị gạt bỏ ra ngoài lề của ngành kinh tế, và tư tưởng của họ không phải lúc nào cũng bị bác bỏ. (Nói cho đúng thì ngành kinh tế luôn luôn gạt sang bên lề những người nghiệp dư bất đồng chính kiến, nhưng lý do là họ là vì [họ bị coi là] những người nghiệp dư chứ không phải là vì quan điểm về chính sách của họ). Ely và các người chủ trương chủ nghĩa định chế của Mỹ là những người nổi tiếng về kinh tế. Fred Taylor[10]trong buổi diễn văn với tư cách là Chủ tịch Hiệp Hội Kinh Tế Mỹ năm 1928 đã đưa ra một đề nghị với tựa đề là Hướng Dẫn Sản Xuất trong một Nhà nước theo Chủ nghĩa Xã hội. Và ngay cả các nhà lý thuyết gia cổ điển đứng hàng đầu như Henry Sidgwick[11], Alfred Marshall và Arthur Pigou[12] tại Đại Học Cambridge hay Irving Fisher[13] tại Đại Học Yale cũng không bị gạt ra ngoài lề hoặc bị bác bỏ khi họ chỉ trích chế độ tự do kinh doanh. Trong một diễn văn năm 1907 Marshall nói rằng: “Nói chung các nhà kinh tế mong có sự gia tăng trong các vai trò của nhà nước để cải thiện xã hội.” Trong khi đó, cũng vào năm đó Fisher cũng cảm thấy hài lòng là “sự thay đổi từ môn phái hoàn toàn tự do của các nhà kinh tế cổ điển chuyển sang các lý thuyết hiện đại về sự điều hoà của chính phủ và sự kiểm soát về xã hội” đã diễn ra trong nhiều thập niên trước đó.
Cuộc xung đột tiếp diễn giữa các tư tưởng kinh tế không những phản ảnh sự khác biệt sâu xa về triết lý đối với giá trị của tự do của cá nhân mà nó cũng phản ảnh những sự khác biệt lý thuyết về những giá trị tương đối giữa thị trường tự do và sự điều hướng của chính quyền đối với nền kinh tế. Một thị trường cạnh tranh hướng dẫn bởi những lực về lời lỗ hoàn toàn không thiên vị có hữu hiệu hơn là một sự điều khiển và kiểm soát của chính quyền trong việc điều hướng đầu tư để cho phát triển mạnh hơn không ? Nhận thức then chốt của khoa kinh tế học là sự đóng góp lớn nhất để tìm hiểu cái thế giới của xã hội để tránh những chính sách có hại. Nhận thức đó cho rằng, với những điều kiện thuận lợi như quyền tư hữu, cai trị bằng luật pháp và tự do gia nhập thị trường, thì một trật tự kinh tế sẽ xuất hiện mà không cần cơ quan trung ương đưa ra. Và cái trật tự kinh tế đó thật sự phục vụ cho mục đích tối hậu của các thành phần tham gia. Theo sự phân tích và câu nổi tiếng của Adam Smith thì các người đầu tư đều được hướng dẫn bởi một bàn tay vô hình để khiến cho sự theo đuổi lợi ích cá nhân của họ hợp với việc góp phần vào sự phồn vinh của kinh tế nói chung, mặc dầu họ không có ý định như vậy. Từ đó đến nay, ý tưởng này của Smith đã được xác nhận và được khai triển bởi rất nhiều các nhà kinh tế. Mặc dầu ý tưởng đó đã bị thách thức bởi những người khác nhưng nó vẫn luôn luôn được chứng minh bằng những kinh nghiệm có được trong một trăm năm vừa qua.

Bài viết này được trích từ Lời nói đầu và Chương 1của tác phẩm Sự Xung đột của các Tư tưởng về Kinh tế: Các Tranh luận lớn về Chính sách và các Sự Thử nghiệm của một Trăm năm qua, của Lawrence H. White (The Clash of Economic Ideas: The Great Policy Debates and Experiments of the Last Hundred Years, by Lawrence H. White. Copyright © 2012 Lawrence White). Bản quyền năm 2012 của Lawrence White. Được The Freeman in lại với sự chấp thuận của Nhà Xuất bản Đại Học Cambridge.
© Học Viện Công Dân 2013 
[1] Lawrence H. White là giáo sư kinh tế học tại đại học George Mason University và là chuyên gia nghiên cứu tại trung tâm Mercatus Center.

[2] John Maynard Keynes, (1883 – 1946): nhà kinh tế người Anh. Các tư tưởng kinh tế của ông đẵ ảnh hưởng sâu xa tới lý thuyết cũng như hoạt động và chính sách kinh tế của khoa kinh tế vĩ mô hiện đại.
[3] Alfred Marshall (1842 – 1924): một trong những nhà kinh tế có ảnh hưởng lớn trong khoa kinh tế học. Tác phẩm Principles of Economics (1890) [Nguyên tắc Kinh tế] là cuốn sách giáo khoa thông dụng nhất tại nước Anh trong nhiều năm.

[4] Friedrich August Hayek (1899 - 1992), thường được biết là F. A. Hayek, kinh tế gia và triết gia nổi tiếng về tư tưởng bênh vực chủ nghĩa tự do cổ điển.

[5] Carl Menger (1840 – 1921) sáng lập ra môn phái Kinh tế Áo (Austrian School of economics), nổi tiếng về việc đóng góp vào thuyế lợi ích biên tế (marginal utility)

[6] Adam Smith (1723-1790) kinh tế gia, tác giả cuốn “Tìm hiểu về bản chất và nguyên nhân của tài sản các quốc gia” (An Inquiry into the Nature and Causes of the Wealth of Nations ‘1776)., gọi tắt là The Wealth of Nations. Ông được coi là “cha đẻ của khoa kinh tế hiện đại”.

[7] The General Theory of Employment, Interest, and Money (1936)

[8] The Road to Serfdom (1944)

[9] Richard Theodore Ely (1854-1943), kinh tế gia Hoa kỳ, lãnh đạo Phong trào Tiến bộ đòi chính quyền phải can thiệp để xóa bỏ các bất công trong chế độ tư
bản.

[10] Fred Manville Taylor ( 1855- 1932), là kinh tế gia Mỹ, nổi tiếng về đóng góp vào chủ nghĩa xã hội thị trường.

[11] Henry Sidgwick (1838 – 1900), triết gia và kinh tế gia , thuộc trường phái lợi ích có nhiều ảnh hưởng trong khoa kinh tế học.

[12] Arthur Cecil Pigou (1877 – 1959), kinh tế gia người Anh, có những đóng góp quan trọng trong ngành kinh tế phúc lợi (welfare economics).

[13] Irving Fisher (1867 – 1947), kinh tế gia người Mỹ, một trong số những nhà kinh tế tân cổ điển đầu tiên.

Nói bậy, chửi tục: Người miền Bắc thiếu kiềm chế hơn người miền Nam?

(GDVN) - Người miền Nam có “chửi” chứ không hề “bới”. Người miền Bắc nếu chửi nhau là đào cả tông ti họ hàng lên, rất chua ngoa.
LTS: Ngay sau khi đăng tải hàng loạt các clip liên quan đến vấn đề bạo lực học đường như: Sốc, 5 nữ sinh văng tục, lột áo, đánh nhau , Sốc nặng với clip nữ sinh đánh nhau vỡ đầu ... Báo Giáo dục Việt Nam có nhận được thư của độc giả Nguyễn Nhật Nam chia sẻ những suy nghĩ cá nhân về vấn đề này. Theo độc giả Nhật Nam thì học sinh miền Bắc chửi tục, đánh nhau nhiều hơn học sinh miền Nam.
Nếu là người quan tâm đến ngành giáo dục thì những thông tin chính thống từ Bộ GD&ĐT không khỏi khiến người xem giật mình. Theo tổng kết của Bộ Giáo dục năm 2011, trong 12 tỉnh thành có 384 học sinh đánh nhau, riêng vùng mỏ Quảng Ninh có 169 em. Về số lượng học sinh vi phạm và bị kỷ luật, Lạng Sơn đứng đầu với 151 em. Có một điều ngạc nhiên và đáng để chúng ta quan tâm là những chuyện đánh nhau như thế này phần lớn xảy ra ở miền Bắc, trong đó Quảng Ninh và Lạng Sơn là những nơi điển hình.
Nếu seach từ khóa “Bạo lực học đường”,“nữ sinh đánh nhau” hoặc “nam sinh đánh nhau” chắc các bạn sẽ nhận thấy một sự thật hiển nhiên: Phần lớn số clip học sinh đánh nhau, chửi bậy, chửi thề đều đến từ miền Bắc. Tại sao lại như vậy, phải chăng tính tình người miền Bắc nóng nảy, còn người miền Nam thì hiền hòa hơn? Và có lẽ, điều này đang biểu hiện rất rõ trong lứa tuổi học sinh, sinh viên.

Tôi đã từng sống cả trong Nam và ngoài Bắc, nếu đo đếm số thời gian thì có lẽ cả hai miền là... bằng nhau. Vì vậy, có một vài ý kiến cá nhân mong muốn cùng trao đổi với độc giả. Trong cuộc sống, không ai là người tránh khỏi những xô xát khi cãi vã cả, thế nhưng cách ứng xử với nó thế nào thì lại là một câu chuyện liên quan đến vấn đề văn hóa vùng miền. Tôi thấy rằng, người miền Nam khi chửi tục hay đánh nhau thì cũng không“dã man” như ngoài miền Bắc. Nếu xem những clip ngoài miền Bắc chắc hẳn người miền Nam sẽ “bó tay” bởi sự côn đồ, nhẫn tâm và cũng thật xót xa. Học sinh miền Bắc đã đánh thì sẽ đánh hội đồng, dùng đủ các chiêu trò, nữ sinh thì xé quần, lột áo, đập mũ bảo hiểm, đập guốc lên người đối thủ; nam sinh thì dùng dùi cui, dùng gậy đập bạn đến chảy máu mũi, hộc máu mồm.

Trước khi nói về học sinh, sinh viên hãy xem cách cư xử của người lớn với nhau, điều này rất quan trọng, ảnh hưởng lớn đến các em. Người miền Nam vốn bộc trực, tính tình phóng khoáng, họ chỉ tức lên và chửi ngay khi đó mà thôi. Nếu bạn đi chợ tại miền Bắc, bạn phải chuẩn bị tâm lý sẵn sàng bị ăn chửi nếu như hỏi giá rồi mà không mua, thậm chí vào quán ăn cũng bị nghe mắng chửi, đi đường không cẩn thận mà va vào người khác thì cũng sẵn sàng bị chửi. Lạ một điều là khi có những cãi cọ như vậy, những người xung quanh hoàn toàn thờ ơ, coi như không có chuyện gì xảy ra.

Phải chăng người miền Bắc một bộ phận thì dễ tính và cam chịu, một phần thì côn đồ, thiếu ý thức? Câu chuyện về lễ hội hoa tại Hà Nội cũng thế, người dân sống trên địa bàn Thủ đô thay vì trân trọng hoa lại chà đạp lên cả hoa. Trong số đó, phần đa họ đang ở lứa tuổi học sinh, sinh viên, những người còn rất trẻ, không tự ý thức được việc làm của mình.

Trong giao tiếp, người miền Nam có “chửi” chứ không hề “bới”. Có câu chuyện dân gian tôi nghe được từ những con người miền Bắc về người phụ nữ chửi hàng xóm ăn trộm gà như sau: “Bố cái thằng chết đâm, cha cái con chết xỉa! Mày day tay mặt, mày đặt tay trái, nỡ ăn cắp của bà đây con gà. Này bà bảo cho chúng mày biết: Con gà nó ở nhà bà là con gà. Nó bị bắt trộm về nhà mày thì thành con cú, con cáo, con thành đanh mỏ đỏ, nó sẽ mổ mắt, xé xác ông, bà, cha, mẹ, vợ, chồng, con cái nhà mày đấy”.

Thật đáng sợ cho người miền Bắc, không chửi thì thôi, đã chửi là phải đem cả "tông ti họ hàng" lên chửi, một giọng chửi rất chua ngoa. Trong xã hội người miền Bắc, nhiều khi bố mẹ chửi bậy hơn cả con cái. Thử hỏi, những đứa trẻ được lớn lên trong môi trường như thế này thì là sao chúng có thể không bị ảnh hưởng và phát triển nhân cách một cách toàn diện được.

Trong cách xưng hô với gia đình, học sinh miền Nam dù họ có hư, láo hỗn ở bên ngoài xã hội như thế nào đi chăng nữa thì khi về gia đình họ vẫn ngoan ngoãn, lễ phép “gọi dạ bảo vâng”. Còn một số thanh niên người miền Bắc thường xưng hô với bố mẹ bằng “ông bà già”, đó là một cách xưng hô hết sức phản cảm.

Trong môi trường giáo dục, cách xưng hô thầy và trò giữa hai miền đã thể hiện sự khác nhau rõ rệt. Ở miền Nam chỉ có cách xưng hô duy nhất đó là "cô (thầy) và các con". Cách xưng hô này xuất phát từ một trách nhiệm nữa ngoài trách nhiệm giảng dạy của người thầy, đó là trách nhiệm của người mẹ, là tình cảm lớn lao. Giáo viên Mầm non đến trường ngoài việc dạy cho trẻ những kiến thức tổng hợp còn phải chăm sóc các con như ăn, uống, tắm, giặt. Giáo viên các cấp thì không chỉ dạy về kiến thức mà còn phải biết lo cho đời sống tâm tư, tình cảm của các em. Thế nhưng, người miền Bắc thì khác, có muôn vàn cách xưng hô giữa giáo viên và học sinh như: "tôi và các anh, các chị", thậm chí có những ông thầy thô thiển tới mức nói luôn là "tao và mày".

Trong cách giao tiếp, người miền Nam luôn tỏ ra thoải mái và thiện chí hơn, còn người miền Bắc thì không thể lường trước được họ như thế nào. Có thể trong cách cư xử họ rất cởi mở, nồng hậu nhưng họ cũng có thể quay mặt lại và “chửi” người khác bất cứ lúc nào. Quả thực, người miền Nam có thể bị lúng túng trong cách cư xử “con dao hai lưỡi” của người miền Bắc.

Có những điều trên phải chăng do người miền Bắc thiếu kiềm chế, cái tôi lớn hơn người miền Nam, ở đây tôi chỉ chú trọng khi nói về lớp trẻ. Điều này có nguyên nhân do phương pháp giáo dục của người miền Bắc khác cách giáo dục của người miền Nam?
----------------------------- 

Dân miền Nam 'ăn đứt' người miền Bắc


Người miền Nam sống đơn giản nên mọi thứ đều thoáng và dễ chịu. Còn đối với người miền Bắc, họ sống phức tạp nên nhiều khi trở thành lối sống giả. Cuộc sống bí bách, khí hậu khắc nghiệt cũng góp phần làm cho người miền Bắc tính tình nóng nảy, văn hóa ứng xử kém hơn người miền Nam.

LTS: Sau khi đăng tải bài viết: Nói bậy, chửi tục: Người miền Bắc ít kiềm chế hơn người miền Nam, Báo Giáo dục Việt Nam nhận được thư bày tỏ sự ủng hộ quan điểm này của độc giả Trịnh Hoàng Hiệp. Để độc giả khắp cả nước có thể tiếp tục bàn luận về vấn đề “nói bậy, chửi tục”, chúng tôi xin đăng tải nguyên văn lá thư này.

Có giai thoại kể lại rằng, nhà phê bình Hoài Thanh, tác giả của cuốn sách bất hủ “Thi nhân Việt Nam” trong thời gian sống tại miền Nam đã chẹp miệng mà nói: “Người miền Nam, ai cũng lịch sự. Cứ mở miệng ra là cám ơn với xin lỗi rối rít. Ngồi ở trong nhà, có ai đi ngoài đường chõ miệng hỏi cái gì mà mình trả lời xong, cắp đít đi thẳng, không thèm cám ơn một tiếng, thì không cần nhìn, mình cũng biết ngay đó là dân ngoài Bắc vào”. Ngay trong cách nói này của ông cũng cho thấy rằng, văn hóa giao tiếp, ứng xử của người miền Nam… ăn đứt người miền Bắc.

Đất nước Việt Nam chia thành nhiều vùng miền rõ rệt, có nguồn gốc tại miền Bắc. Sự phân chia này ảnh hưởng rõ ràng đến lối sống và văn hóa mỗi nơi một khác. Ngay cả trong giọng nói, ngôn ngữ giao tiếp từ Bắc vào Nam đều có sự thay đổi, đặc biệt là hai thành phố lớn Hà Nội và Sài Gòn. Gần đây, những clip được tung lên mạng về thói nói tục, chửi bậy của học sinh đã làm dư luận vô cùng phẫn nộ, bức xúc: Khi nữ sinh nói chuyện bằng chân tay, Clip hai nữ sinh hỗn chiến kinh hoàng, Choáng váng với nam sinh Thủ đô chửi tục trước cổng trường. Đây không chỉ đơn thuần là câu chuyện học đường mà còn là câu chuyện của toàn xã hội.

Trong cách cư xử với bề trên, hai miền Nam Bắc đều biểu hiện khác nhau. Nếu người miền Bắc nói “ạ” sau mỗi câu hỏi hoặc câu trả lời thì người miền Nam thường đệm “thưa” vào trước, “dạ” vào sau. Từ thuở nhỏ, hầu hết đứa trẻ nào cũng được dạy những lễ nghĩa cơ bản như vậy nhưng theo thời gian, khi con người dần lớn lên thì từ “ạ” của người miền Bắc thường được cắt giảm. Có lẽ bởi “ạ” mang nặng sự nghiêm túc, cứng nhắc và mô phạm, không còn phù hợp trong giao tiếp. Còn người miền Nam vẫn giữ nguyên từ “dạ” hay “thưa” như một lẽ tự nhiên.

Mặc dù Hà Nội là trung tâm văn hóa nhưng tôi thấy rằng về sự lịch lãm, tinh tế thì người miền Bắc hơn người miền Nam, thế nhưng về văn hóa cư xử trong cộng đồng thì người miền Bắc lại phải học hỏi người miền Nam. Trong các lễ hội, người miền Nam ít cảnh nhốn nháo, xô đẩy hay cố tình làm hại của chung. Họ luôn có ý thức tôn trọng người khác và bảo vệ mình.

Về cách sử dụng hai từ “cảm ơn” và “xin lỗi” hai vùng miền cũng khác nhau. Người miền Bắc rất hạn chế trong cách nói hai từ này, người ta chỉ nói như một luật lệ bất thành văn khi con cái nói với bố mẹ, ông bà, người ít tuổi nói với người hơn tuổi mà không biết rằng giao tiếp với cộng đồng cũng rất quan trọng. Nếu đi ngoài đường trên đất Bắc mà bạn bị xe đụng, bị giằng kéo, xô đẩy thì bạn chỉ nhận được những cái trợn tròn mắt, rồi phóng xe qua trước mặt. Nhưng người miền Nam thì khác, họ sẵn sàng nói xin lỗi nếu sai.

Ở Sài Gòn, chuyện vào siêu thị, cửa hàng… thấy những cô nhân viên cúi gập người chào là điều hết sức bình thường. Thế nhưng ở Hà Nội, bạn sẽ xúc động đến sững sờ khi thấy ai đó cúi gập người và nói lời cảm ơn – đó là chuyện hiếm thấy trên cả miền Bắc. Nếu đi trên đường mà có điện thoại, người miền Bắc có thể vừa lái xe vừa chửi tục, quát tháo ngay giữa phố để chứng tỏ mình là ai, nhưng người miền Nam thì họ sẽ dừng lại, ghé xe bên lề đường mà nói chuyện. Thanh niên miền Nam nhậu nhẹt về khuya, khi thành phố vắng người, không có cảnh sát giao thông họ vẫn dừng xe khi có đèn đỏ, nhưng miền Bắc thì khác, không cần nhìn ngó trước sau mà sẽ phóng xe đi thẳng. 

Từ ngoài xã hội lại nói về câu chuyện học đường nơi mà các em bộc lộ rõ nét nhất cách ứng xử. Sau giờ tan học, nếu đứng ở một cổng trường cấp III tại miền Bắc sẽ thấy rằng, vừa bước ra khỏi cổng trường học sinh nam thì bỏ “sơ vin”, châm thuốc và bắt đầu “phun châu nhả ngọc” đến kinh hoàng, học sinh nữ thì sẵn sàng cầm dép lên đánh nhau vì những lý do hết sức vớ vẩn.

Môi trường nào cũng có những bức xúc, học sinh miền Nam có đánh nhau, nhưng mức độ man rợ thì không bằng miền Bắc. Học trò miền Nam chỉ đánh đấm nhau rồi thôi chứ ít khi kèm theo những hành vi xúc phạm như chửi bới thậm tệ, lột áo ngay giữa phố. Cứ thử xem những clip của học sinh Bắc thì biết, đánh nhau không khác gì côn đồ, dẫn đến “đối thủ” chấn thương cả về thể xác cũng như tinh thần.

Trong môi trường giáo dục, đến trang phục giữa hai miền Nam Bắc cũng khác nhau. Nữ sinh miền Nam có truyền thống mặc áo dài trong mỗi tuần còn miền Bắc thì hầu như không mặc. Thực ra, trong việc bắt học sinh mặc áo dài cũng có cái cớ của những người làm quản lý trong ngành giáo dục. Khi vận trên mình bộ áo dài, một mặt sẽ gây ra sự bất tiện khi hoạt động mạnh, mặt khác các em cũng phải ý thức mình là con gái Việt Nam, cần giữ được nét dịu dàng, dáng yêu đúng lứa tuổi. Vì vậy, nữ sinh cũng ngại ngần mỗi khi có ý định đánh nhau với bạn vì sợ hoen ố lên tà áo trắng, cũng như nhân phẩm của mình. Riêng điều này thôi cũng đã phần nào giảm thiểu được những nóng nảy nhất thời, những hành động bất thường của học sinh.

Cách xưng hô trong nhà trường và ngoài xã hội, học trò miền Nam thường xưng hô “cô”, “dì”, “chú”, “bác” với “con”, nghe rất thân mật, tình cảm như người trong gia đình. Vì thế, chả có lý do gì lại đẩy những mâu thuẫn khiến cho tình cảm bị sứt mẻ cả.

Người miền Bắc thường ăn nói rất khéo, trịnh trọng nhưng người miền Nam lại nhã nhặn và hồn hậu hơn. Trong đời sống thường nhật, người miền Nam biểu lộ tình cảm một cách chân tình, không che dấu như người miền Trung hay khách sáo như người miền Bắc. Đến nhà một gia đình miền Nam mà gặp bữa cơm thì sẽ được họ mời một cách cởi mở: “Ăn cơm chưa? Sẵn bữa ăn luôn nghen!” mặc dù đó có thể là mâm cơm tuềnh toàng. Điều đó cũng không làm cho khách phải ngại ngần. Vì thế mối quan hệ được gắn kết bằng sự cởi mở, thoải mái.

Người miền Nam sống đơn giản nên mọi thứ đều thoáng và dễ chịu. Họ không hay để ý nhau, quản lý nhau, săm soi quá sâu vào đời tư của người khác. Họ sẵn sàng bỏ qua mọi hiềm khích để khám phá và thưởng thức cuộc sống, vì thế mọi chuyện luôn tươi mới. Còn đối với người miền Bắc, họ sống phức tạp nên nhiều khi trở thành lối sống giả. Trong cách giao tiếp, có thể trước mặt người khác họ lễ phép, lịch sự nhưng ngay sau lưng họ lại chửi tục. Họ luôn gồng mình cố gắng trong khi bản thân họ lại muốn nổi loạn. Cách sống đó dễ dẫn tới tình trạng bất cần và stress tâm lý. Cuộc sống bí bách, khí hậu khắc nghiệt cũng góp phần làm cho người miền Bắc tính tình nóng nảy, văn hóa ứng xử kém hơn người miền Nam.

Phải chăng những điều tôi nói trong bài viết này ai cũng biết nhưng mà ít ai nói và ít ai viết ra?

Nguồn: Giáo Dục
-----------------------------------

Hoàng-Long (31/12/1969 16:00)

VĂN HÓA HÀ NỘI:VĂN CHƯƠNG HÀ NỘI

Lần đầu tiên, mới tới Hà Nội, tôi không khỏi bỡ ngỡ, khi tìm nhà của một người quen làm trưởng một khu phố văn hóa. Thấy có mấy đứa trẻ con đang nô đùa ngoài ngõ, tôi hỏi:
- "Này các cháu có biết nhà ông Xã trưởng khu phố văn hóa ở đâu không?" 
Một đứa trẻ trai, trạc trên dưới 10 tuổi, ngước nhìn tôi bằng ánh mắt xấc láo, ranh mãnh, đáp gọn lỏn:
- "Biết, nhưng đéo chỉ!" 
Tôi lắc đầu đi sâu vào ngõ văn hóa, gặp một thanh niên hỏi:
- "Anh ơi, anh có biết nhà ông trưởng khu phố văn hóa này ở chỗ nào không anh ?". 
Gã trẻ tuổi này chẳng thèm dòm ngó gì đến tôi, trả lời cộc lốc:
- "Ðéo biết!" 
Khi gặp ông trưởng khu phố văn hóa, tôi đem chuyện này kể cho ông ta nghe với lời than thở:
- " Anh ạ, các bậc phụ huynh ở đây đã không dạy dỗ con em hay sao mà để chúng nó ăn nói với người khách lạ, thô bỉ đến thế hả anh?!" 
Chẳng cần suy nghĩ gì, ông trưởng khu phố văn hóa đã thuận miệng trả lời tôi ngay:
- "Có dạy đấy chứ, nhưng chúng nó đéo nghe!" 
Lúc ấy cô con gái của ông bạn tôi là cô giáo, dạy môn văn, vừa đi dạy về và tôi đem chuyện ấy ra kể lại. Thay vì trả lời trực tiếp cho tôi, cô giáo xin phép thuật lại một chuyện như sau: 
- "Hôm ấy cháu giảng bài văn, có đoạn kể thành tích anh hùng và dũng cảm của nhân dân ta đã đánh gục Tây, đánh nhào Mỹ v..v.. 
Cuối cùng, cháu kêu một em học trò trai lớn nhất lớp, bảo nó cắt nghĩa hai chữ:
- "dũng cảm là gì?". 
Nó đứng lên suy nghĩ một lúc rồi đáp gọn lỏn:
- - Nghĩa là .. là .. đéo sợ !" 
Sau đó cháu lại có cuộc tiếp xúc với ông bộ trưởng giáo dục và đào tạo, liền đem chuyện thằng bé học trò đã cắt nghĩa 2 chữ "dũng cảm" là: "đéo sợ!" cho ông nghe. Nghe xong, ông bộ trưởng tỏ vẻ đăm chiêu, ra điều suy nghĩ lung lắm. Cuối cùng, ông nghiêm nghị nhìn tôi, rồi gật gù như một triết gia uyên bác vừa khám phá ra một chân lý, chậm rãi đáp: 
- Ừ, mà nó cắt nghĩa như thế cũng đéo sai ! .. - !!! " 
Ðấy, bây giờ luân lý, đạo đức của con người dưới chế độ này như thế đấy. Rồi đây, các thế hệ trẻ miền Nam cũng vậy thôi! Làm sao tránh được?
- " .. Đất nước kiểu này thì đéo khá ...
Mi