Showing posts with label Ngân hàng. Show all posts
Showing posts with label Ngân hàng. Show all posts

January 15, 2014

“Tử huyệt” của hệ thống ngân hàng

“Tử huyệt” của hệ thống ngân hàng
Tác giả: Trần Sĩ Chương (30 Dec 2013)
Ngân hàng được xem là một ngành huyết mạch trong nền kinh tế của một quốc gia. Do đó, hiển nhiên bất cứ sai lầm nào trong hệ thống ngân hàng đều sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến sự suy thoái kinh tế
Theo báo cáo của các ngân hàng tại Việt Nam mức doanh thu lợi nhuận đạt được hằng năm vẫn đạt con số kỷ lục, nhưng thực tế thì thời gian gần đây, việc giải thể và sáp nhập hàng loạt các ngân hàng cho thấy hệ thống tài chính ngân hàng của chúng ta đang thực sự “có vấn đề”.
Điều này không chỉ thể hiện qua thực tế còn quá nhiều ngân hàng yếu kém dẫn đến tình trạng nợ xấu tràn lan, mà quan trọng hơn nữa, đó là dấu hiệu của một sai lầm vô cùng nghiêm trọng xuất hiện khá lâu và có thể đưa đến hậu quả là sụp đổ toàn diện hệ thống ngân hàng của cả một đất nước.
Bởi bắt nguồn từ chính sự nhập nhằng giữa hoạt động ngân hàng thương mại (NHTM) và ngân hàng đầu tư (NHĐT), nên hệ thống ngân hàng phải chấp nhận mức độ rủi ro quá cao, dễ bị ảnh hưởng bởi chu kỳ kinh tế hoặc những biến động trong cũng như ngoài nước.
Chúng ta cần nhận thức được sự khác biệt giữa hai hệ thống ngân hàng này để làm rõ vấn đề. Thông thường, NHTM là một phần quan trọng của cột sống kinh tế. Bởi đây là nơi đa số người dân ký gửi thu nhập thường xuyên cũng như tiền gửi tiết kiệm của họ.
Với tâm lý của người lao động thích “ăn chắc mặc bền” cho nên kỳ vọng ưu tiên chính là sự an toàn của đồng tiền ký gửi, cộng thêm một khoản lãi suất khiêm tốn để đồng tiền của họ không bị mất giá nhiều do lạm phát.
Từ những quỹ ký gửi này NHTM sử dụng để đầu tư sinh lãi, thường chỉ bằng lãi suất ký gửi cộng thêm 2-3% tùy theo quy mô của tổng tài sản. Lợi nhuận đạt được sẽ được ngân hàng phân ra trả lãi cho đồng tiền ký gửi mà mình đã sử dụng và trang trải chi phí điều hành lẫn dự trù rủi ro cho số vốn đầu tư.
Cơ bản NHTM thường chỉ tập trung vào những khoản cho vay truyền thống với rủi ro thấp nhất như: cá thể mua nhà để ở (với tỷ lệ vốn vay và chi phí nợ / thu nhập cao), hoặc các doanh nghiệp đã có quá trình kinh doanh tốt và thu nhập ổn định. Như vậy ta có thể hiểu NHTM hoạt động như một tổ chức phi lợi nhuận, làm lợi chỉ đủ để trang trải chi phí.
Ngược lại, NHĐT lại là những tổ chức tín dụng mưu cầu mức lợi nhuận cao, và dĩ nhiên thường hay đi đôi với một mức độ rủi ro cao hơn. Nguồn vốn chủ yếu của NHĐT là từ các nhà đầu tư có số vốn lớn và vốn nhàn rỗi. Họ hiểu rõ và chấp nhận mức độ rủi ro tối đa của luật tham gia là có thể mất hết vốn, chấp nhận rủi ro cao để kỳ vọng mức lợi nhuận đỉnh.
Thiếu sự rạch ròi này giữa hai hệ thống sẽ dễ gây ra một sự ngộ nhận chết người đối với người dân chỉ biết tin vào hệ thống ngân hàng là đồng tiền ký gửi của mình sẽ không bao giờ có rủi ro. Để rồi khi có biến động, người dân mất lòng tin, rút tiền hàng loạt từ các ngân hàng thương mại. Hậu quả như thế nào thì ai cũng có thể đoán được.
Bài học từ nền kinh tế Mỹ và châu Âu
Vào thập niên 1920, Luật Ngân hàng ở Mỹ còn lỏng lẻo nên các NHTM dùng tiền ký gửi của người dân để đầu tư mạo hiểm vào những lĩnh vực kinh doanh có mức lợi nhuận cao nhưng nhiều rủi ro.
Việc đầu tư bừa bãi để lấy phần trăm hoa hồng, cộng với chính sách tiền tệ phóng túng đã gây nên tình trạng siêu lạm phát, dẫn đến sự sụp đổ của thị trường chứng khoán Mỹ và một thời kỳ khủng hoảng lớn nhất trong lịch sử nước này.
Đến năm 1932, Tổng thống Franklin Roosevelt và Quốc hội Mỹ cho ra đời đạo luật ngân hàng Glass-Steagal Act 1933, phân biệt rạch ròi hoạt động của NHTM và NHĐT.
Theo đó, NHTM chỉ được phép hoạt động trong lĩnh vực cho vay đối với những hoạt động kinh doanh truyền thống, ít rủi ro nhất và phải có đầy đủ tài sản thế chấp cụ thể và một cách tương xứng, nhằm đảm bảo tính an toàn, ổn định cho số tiền gửi tiết kiệm của người dân.
Còn NHĐT có thể sử dụng tiền ủy thác vào các hoạt động kinh doanh với độ rủi ro cao hơn, dĩ nhiên là vì kỳ vọng có được mức siêu lợi nhuận.
Sự tách biệt giữa hoạt động của NHTM và NHĐT nhằm minh bạch hóa các hoạt động ngân hàng và tạo sự rạch ròi trong mức độ rủi ro của đồng tiền mà người dân ký gửi vào ngân hàng, là nền tảng của một hệ thống ngân hàng ổn định, tạo nên sức mạnh cho hệ thống tài chính và kinh tế phát triển bền vững.
Đến đầu thập niên 1980, sau 50 năm nước Mỹ phát triển ổn định với một mô hình tài chính ngân hàng mẫu mực cho cả thế giới, Tổng thống Reagan và chính phủ Mỹ thuộc Đảng Cộng hòa lên nắm quyền, chủ trương phát triển kinh tế thị trường tối đa, giảm thiểu vai trò của chính phủ trong môi trường tự doanh.
Chính sách này đã mở cửa cho các ngân hàng tiết kiệm, thương mại đầu tư dàn trải, ra ngoài phạm vi giới hạn của hệ thống NHTM truyền thống như những năm trước đó. Nhiều NHTM đã lợi dụng cơ hội này để đầu tư vào nhiều dự án phát triển bất động sản siêu lợi nhuận với quy mô lớn nhưng cũng tiềm ẩn nhiều nguy cơ rủi ro.
Hậu quả là một cuộc khủng hoảng ngân hàng đầu tiên xảy ra chỉ vài năm sau đó khi các dự án bất động sản lớn xây xong nhưng không bán được, hoặc đang xây nửa chừng thiếu vốn phải bỏ cuộc, đã gây tổn hao đến hơn 300 tỉ USD cho ngân sách chính phủ.
Nước Mỹ đã phải mất gần năm năm để giải quyết phần lớn các nợ xấu này trong hệ thống ngân hàng, dẫn đến sự suy thoái kinh tế trầm trọng khiến cho Tổng thống Bush (cha) bị thất cử chỉ sau một nhiệm kỳ cầm quyền.
Đến thập niên 1990, sau khi giải quyết hết các công nợ lớn từ khủng hoảng, các đại gia tài chính – ngân hàng tiếp tục những chiến dịch vận động hành lang để ngân hàng được phép tham gia vào các lĩnh vực đầu tư rủi ro mà trước đây bị cấm.
Kết quả là năm 1999, đạo luật Gramm-Leach-Bliley được ký, chính thức khai tử luật Glass-Steagal – một đạo luật đã là nền móng cho sự phát triển bền vững của ngành ngân hàng Mỹ trong suốt 66 năm (1933-1999) – do áp lực “lobby” chính phủ của một số các NHTM đầu đàn của Mỹ như: Bank of America, Wells Fargo, CitiBank… để họ được tự do đầu tư vào chứng khoán và một số lĩnh vực rủi ro khác ngoài các hoạt động cho vay truyền thống của hệ thống NHTM.
Chính sách tín dụng mới thoải mái này với mức lãi suất rất thấp dưới thời Tổng thống Bush đã tạo ra sự tăng trưởng ảo từ những đầu tư vô tội vạ, dẫn đến sự phát triển nóng trong lĩnh vực bất động sản.
Kết quả là hệ thống tài chính – ngân hàng Mỹ không chịu nổi gánh nặng do chính mình tạo ra, lại dẫn đến một cuộc khủng hoảng tài chính lớn nhất trong gần 80 năm qua không chỉ ảnh hưởng đến Mỹ mà còn đến toàn thế giới.
Cũng vào giai đoạn từ những năm 2000, do mong muốn cạnh tranh với các ngân hàng Mỹ nên nhiều ngân hàng ở châu Âu cũng phát triển năng động, lại tiếp tục đi theo con đường sử dụng vốn NHTM cho đầu tư rủi ro cao.
Do đó, nợ xấu của các ngân hàng châu Âu hiện nay đang rất nghiêm trọng. Trong khi nền kinh tế Mỹ chưa kịp phục hồi thì kinh tế châu Âu còn đang trên bờ vực thẳm. Sự khủng hoảng theo hiệu ứng “domino” chưa có hồi kết này khiến nhiều người dự đoán rằng nền kinh tế thế giới khó có khả năng phục hồi trong vòng năm năm tới.
Và thực tế ở Việt Nam
Ngay từ thời kỳ hội nhập, ngân hàng Việt Nam đã không rạch ròi trong các hoạt động kinh doanh của mình. Lẽ ra cần làm rõ NHTM chỉ được hoạt động trong lĩnh vực cho vay những hoạt động kinh doanh truyền thống, ít rủi ro nhất và có đầy đủ thế chấp cụ thể một cách tương xứng.
Còn loại hình NHĐT hoạt động kinh doanh lợi nhuận cao với độ rủi ro cao, để từ đó các nhà đầu tư khi tham gia vào ngân hàng này là đã tiên liệu và chấp nhận được mọi tình huống.
Có lẽ vì chưa nhận thức được hậu quả nghiêm trọng của việc nhập nhằng hai khái niệm NHTM và NHĐT nên hệ thống tài chính – ngân hàng nước ta đã không có biện pháp nhằm minh bạch hóa và kiểm soát hiệu quả hoạt động của hệ thống NHTM.
Vì vậy, nhiều NHTM đã đổ xô chạy theo lợi nhuận ảo đầu tư vào chứng khoán và bất động sản – hai lĩnh vực được coi là nhạy cảm nhất trước các biến động của nền kinh tế trong nước và thế giới.
Đến đầu năm 2008, khi những dấu hiệu khó khăn của nền kinh tế bắt đầu xuất hiện như lạm phát tăng cao, thị trường chứng khoán và bất động sản đi xuống, nhiều NHTM đã nhanh chóng rơi vào khó khăn về mặt thanh khoản.
Nếu không có sự hỗ trợ của Ngân hàng Nhà nước thì các ngân hàng này còn có thể rơi vào tình trạng nợ xấu hơn. Bên cạnh đó, luật pháp đối với ngành ngân hàng lại còn nhiều lỗ hổng nên các ngân hàng dễ dàng sử dụng tiền gửi của dân để đầu tư với rủi ro cao.
Mà một thực tế là cho dù luật pháp có nghiêm đến đâu thì vẫn có cách lách luật, bởi lòng tham với cái lợi trước mắt. Hơn thế nữa, nguy hiểm ở chỗ tâm lý chung của những nhà điều hành ngân hàng là tranh thủ đầu tư dàn trải trong giai đoạn nền kinh tế đang nóng để có thể thu được lợi nhuận lớn.
Hầu hết các NHTM hiện nay đều hồ hởi nắm bắt ngay cơ hội trước mắt bằng nguồn tiền có sẵn nhưng họ lại không quan tâm hoặc không lường trước được chu kỳ kinh tế và những rủi ro chực chờ sau những cơn sốt giá bất thường. Vì vậy, một cái kết có thể dự đoán trước là một số NHTM sẽ nhanh chóng rơi vào tình trạng gần như phá sản như thực tế hiện nay.
Giải pháp nào cho ngân hàng Việt Nam?
Trong tình hình hiện nay, Nhà nước cần thực tế nhìn nhận sự thiếu minh bạch của hệ thống NHTM trong hệ thống tài chính – ngân hàng nước ta. Từ đó, chúng ta mới hướng đến chỉnh đốn lại hệ thống ngân hàng theo hướng rạch ròi giữa hai hệ thống – NHTM và NHĐT.
Cụ thể là những người làm ngân hàng nên mạnh dạn đối mặt thực tế, khoanh vùng nợ xấu để giải quyết triệt để càng nhanh càng tốt, tránh cho nợ xấu tiếp tục lây lan. Đây cũng là cách giải quyết của Mỹ trong việc đẩy lùi khủng hoảng kinh tế dưới thời Tổng thống Reagan.
Ngoài ra, việc nâng cao nhận thức của người dân cũng vô cùng cần thiết, nhằm giúp họ đánh giá đúng chỉ số đầu tư an toàn của mỗi ngân hàng, qua đó họ có thể chủ động lựa chọn gửi tiền vào ngân hàng nào phù hợp với nhu cầu của mình.
Đó là sử dụng một cách hiệu quả bàn tay vô hình của thị trường, qua sự ý thức của người tiêu dùng, để hệ thống ngân hàng có tính điều chỉnh cao và là nền tảng cho sự phát triển bền vững của nền kinh tế đất nước.
Trần Sĩ Chương

December 5, 2013

Bitcoin

Giang Lê

Money and banking VIII

1.

Bitcoin (BTC) không phải là đồng tiền điện tử đầu tiên, Linden của Second Life hay thậm chí Vcoin của VTC đã ra đời trước BTC khá lâu. Tuy nhiên tất cả các đồng tiền fiat từ trước đến nay, dù là tiền giấy hay tiền điện tử, đều có một đặc điểm chung là phải được centralized, nghĩa là do một thực thể duy nhất phát hành, bảo đảm và thực hiện chức năng clearing trong nhiều trường hợp [không biết clearing/clearing house dịch ra tiếng Việt là gì?]. Lý do các đồng tiền fiat cần phải có central authority là để những người sử dụng nó tin tưởng vào khả năng store of value của đồng tiền mà họ nắm giữ không bị mất quá nhanh (nên nhớ đây chỉ là điều kiện cần chứ không phải điều kiện đủ, nhiều đồng tiền centralized nhưng vẫn bị mất giá quá nhanh và người dân/người sử dụng tìm mọi cách không phải nắm giữ chúng quá lâu). BTC là đồng tiền đầu tiên không cần central authority, ngay từ công đoạn phát hành cho đến chức năng clearing.

BTC lấy ý tưởng từ hình thức chia sẻ file peer-to-peer thông qua bittorrent, tuy nhiên người sáng tạo ra nó, Satoshi Nakamoto, đã có những ý tưởng tuyệt vời để vượt qua những khó khăn mà một đồng tiền điện tử p2p sẽ gặp phải. Trở ngại đầu tiên là ai sẽ là người phát hành tiền và cách thức phân bổ những đồng tiền mới được tạo ra như thế nào cho công bằng? Nếu bạn nhớ lại những đồng tiền bằng đá ở đảo Yap là những đồng tiền có tính chất decentralized (nhiều commodity currency cũng có tính chất như vậy), nghĩa là người dân tự tạo ra đồng tiền và tự trao đổi với nhau mà không cần central authority can thiệp. Nhưng để có được những đồng tiền mới, người dân đảo Yap phải bỏ thời gian, công sức, và cả resources mới khai thác được. Ý tưởng đồng tiền (store of value) cũng là store of labour có từ thời cổ đại, được áp dụng ở đảo Yap vài thế kỷ trước, và đến năm 2009 đã được Satoshi Nakamoto áp dụng cho BTC.

Trên nguyên tắc, tất cả những ai tham gia vào BTC network đều có thể tạo ra những đồng BTC mới - quá trình tạo tiền mới này gọi là mining. Có lẽ thuật ngữ "mining" được chọn không phải tình cờ vì quá trình tạo tiền này giống quá trình khai thác mỏ ở hai điểm quan trọng. Thứ nhất bạn phải bỏ công sức và thời gian để mine, bạn cũng cần phải có "vốn liếng" để làm việc này. Nếu bạn chỉ có "vốn" nhưng không biết cách hoặc không có thời gian thì bạn có thể cho thuê lại "vốn" của mình cho những người làm dịch vụ (sẽ giải thích rõ hơn bên dưới). Thứ hai, số BTC bạn mine được giảm dần theo thời gian (một dạng non-renewable resource) và thay đổi tùy theo số người tham gia mine, càng nhiều người mine thì thời gian và công sức bạn bỏ ra để có một BTC sẽ tốn kém hơn.



2.
Vậy quá trình mining cụ thể như thế nào? Nó có khác gì so với quá trình farming trong các online games? Trước khi trả lời câu hỏi này cần nhắc đến thách thức thứ hai của một đồng tiền decentralized, đó là vấn đề clearing cho hệ thống tiền tệ này. Ngoại trừ tiền giấy (cash) hai bên tham gia giao dịch có thể tự clear transaction với nhau, các loại tiền điện tử khác (kể cả check và electronic transfer, credit card dựa trên hệ thống tiền giấy) đều đòi hỏi phải có một (vài) central clearing house. Ví dụ khi bạn mua hàng bằng credit card, quá trình clearing thường sẽ do một vài ngân hàng thương mại đảm nhận hoặc có thể có sự tham gia của ngân hàng trung ương hay các tổ chức tài chính quốc tế khi dòng tiền phải chảy qua biên giới (vd. Visa, Paypal, BIS). Quá trình này có thể sẽ diễn ra trong 1-2 giây nhưng cũng có thể trong vài ngày. Muc đích cuối cùng của quá trình clearing là chuyển một phần purchasing power của bạn cho người bán hàng.

[Note: Ở đây cần lưu ý purchasing power có thể là current wealth hoặc future wealth của một người, nghĩa là khái niệm "tiền" không nhất thiết là những gì bạn đã làm ra (hoặc được thừa hưởng). Nếu tiền chỉ giới hạn trong current wealth thì nó tương đồng như khái niệm tiền là "store of labour" như nhiều đồng tiền trong lịch sử hay như chính BTC. Tuy nhiên hầu hết các đồng tiền hiện đại đều vượt qua khái niệm "store of past labour", khi một central bank phát hành một đồng tiền mới thì đồng tiền đó dựa trên khái niệm "store of future labour". Trên balance sheet của central bank, tiền là liability của chính quyền trung ương được đảm bảo hay cân bằng bằng assets (thường) là trái phiếu chính phủ. Còn trái phiếu chính phủ lại được đảm bảo bằng "future taxing power" của nhà nước. Việc bạn dùng credit card để mua hàng cũng tương tự như vậy, bạn dùng future labour của mình để thanh toán cho purchasing power hiện tại. Tôi sẽ viết cụ thể hơn về vấn đề này trong một entry riêng về Money and banking.]

Mục tiêu của Bitcoin network là tạo ra một dạng p2p money, nghĩa là quá trình clearing có thể diễn ra giữa 2 đối tác giao dịch hệt như khi thanh toán bằng tiền giấy hay một loại commodity money nào khác. Nhưng làm thế nào người bán có thể đảm bảo đồng BTC nhận được từ người mua không bị làm giả nếu không có một bên thức ba (clearing house) kiểm tra? Ở đây khái niệm làm giả không chỉ đơn thuần là người mua tạo ra một đồng BTC giả mà còn có thể là anh ta dùng một đồng BTC thật mua hàng ở nhiều chỗ khác nhau. Giải pháp của Satoshi Nakamoto là dùng chính Bitcoin network thực hiện chức năng clearing và những người bỏ công sức và computing power ra làm nhiệm vụ clearing này sẽ được tưởng thưởng bằng những đồng BTC mới.

Như vậy trên thực tế Bitcoin network không triệt tiêu clearing house mà chỉ chuyển đổi các central clearing houses như trong các hệ thống tiền tệ khác thành một decentralized clearing house. Một điểm khá thú vị là giữa Bitcoin network và một hệ thống fiat money hiện tại có một điểm tương đồng về khả năng làm giả tiền. Với một hệ thống tiền của một quốc gia, một người có thể làm giả tiền nếu anh ta có resource (kỹ thuật, tài chính, công sức) đủ mạnh để cạnh tranh với nhà phát hành tiền - ở đây là nhà nước. Trong hệ thống Bitcoin, một người có thể làm giả tiền nếu computing power của anh ta cạnh tranh được với computing power của những người còn lại tham gia clearing cho network. Vì Bitcoin network còn khá nhỏ nên khả năng một cá nhân hay một nhóm người nào đó có thể tập hợp computing power đủ lớn để làm giả tiền là một nguy cơ có thật và đó chính là điểm yếu của hệ thống tiền tệ này.


3.
[Note: Trước khi giải thích quá trình clearing của BTC, tôi tạm "lấn sân" các bạn IT về khái niệm "hashing" (thú thực tôi không biết cụ thể quá trình hashing thực thi như thế nào mà chỉ hiểu khái niệm). Về cơ bản hashing là một quá trình mã hóa một chuỗi dữ liệu thành một dãy số (hash) có chiều dài cố định và không bị trùng lặp. Ví dụ bạn có thể dùng phương pháp SHA-256 để hash một văn bản (với độ dài tùy ý) thành một chuỗi số có độ dài 256 bit. Chuỗi số này "độc nhất vô nhị", nghĩa là không một văn bản nào dù chỉ khác 1 ký tự có thể có hash giống hệt như vậy. Có rất nhiều phương pháp hashing với mức độ khó/phức tạp khác nhau, vd SHA-1, SHA-2, MD4, MD5... (tôi thường dùng MD5 để tạo password bằng một số free apps trên smartphone). Với những phương pháp hashing mạnh, quá trình hashing có tính chất một chiều, nghĩa là nếu bạn có chuỗi số hash, bạn gần như không thể lần ngược ra văn bản ban đầu, SHA-256 là một trong số những phương pháp đó. Một trong những ứng dụng của hash là để kiểm tra tính xác thực của một file văn bản hay dữ liệu. Giả sử bạn công bố một văn bản (rất lớn) và chuỗi số hash của nó, bất kỳ ai download hay copy văn bản đó cũng có thể kiểm tra rất nhanh xem văn bản họ nhận được có bị thay đổi so với bản gốc của bạn hay không bằng cách tính hash của văn bản họ nhận được và so sánh với hash của bản gốc do bạn công bố.]

Quá trình clearing trong Bitcoin network như sau. Mỗi khi một transaction được thực hiện, chi tiết về transaction đó được thông báo công khai cho toàn bộ network và những người đang tham gia vào dịch vụ clearing sẽ ghi lại transaction đó vào một transaction log. Với những hệ thống centralized money thì central clearing house sẽ làm việc này và không ai có thể làm giả transaction log được trừ khi bạn hack được vào máy chủ của clearing house và thay đổi nội dung của log. Trong Bitcoin network transaction log được chia ra thành các block, mỗi block có chứa hash (SHA-256) của block trước nó và các transactions mới xuất hiện cùng với một con số ngẫu nhiên. Nhiệm vụ của các thành viên clearing trong Bitcoin network là tính ra hash cho những block mới xuất hiện. Việc tính hash cho một văn bản như giải thích bên trên không khó, nhưng Satoshi Nakamoto có một sáng kiến rất thông minh là yêu cầu số hash tính được phải nhỏ hơn một target nhất định (có thể thay đổi được). Nếu chuỗi số hash bạn tính được lớn hơn target thì bạn phải thay đổi con số ngẫu nhiên trong block và tính lại hash mới.

Tất cả các thành viên tham gia clearing sẽ chạy đua với nhau để tính ra số hash "đúng" cho block mới được tạo. Một khi ai đó tính ra nó, các thành viên khác sẽ dễ dàng kiểm chứng và block đó sẽ trở thành official transaction log cho toàn bộ network. Khi bạn dùng một đồng BTC của mình để mua một sản phẩm nào đó, người bán sẽ đợi đến khi nào transaction giữa bạn và anh ta được ghi chính thức vào một block được thừa nhận, nghĩa là hash đã đạt target rồi mới chấp nhận giao hàng. Tốc độ network xử lý các block và tạo hash phụ thuộc vào 2 yếu tố: số người (và computing power) tham gia vào nhiệm vụ clearing và mức độ khó của target. Thuật toán của Bitcoin network sẽ thay đổi target (khi số người tham gia clearing thay đổi) để đảm bảo cứ khoảng 10 phút sẽ có một block mới được tạo ra, nghĩa là khi số người tham gia đông lên thì target sẽ khó đạt được hơn. Với những hoạt động mua bán online thì khoảng delay 10 phút này có thể chấp nhận được.

Đến đây chắc các bạn đã đoán được BTC mới được tạo ra như thế nào. Thành viên nào giải được hash cho một block mới sẽ được "trả công" bằng một lượng BTC mới phát hành. Do vậy mining những đồng BTC mới chính là sản phẩm của quá trình clearing. Bạn muốn tạo ra tiền thì phải bỏ công (và computing power) ra phục vụ cho cộng đồng. Đây là điểm khác biệt quan trọng giữa mining trong Bitcoin network với farming trong các trò chơi online (bên cạnh một khác biệt khác là hệ thống tiền tệ trong các games đều là centralized). Mặc dù cùng phải mất thời gian và computing power, mining ở đây tạo ra dịch vụ thực sự (có ích) cho cộng đồng chứ không chỉ đơn thuần thực hiện một số nhiệm vụ định trước để tạo ra tiền trong games như hoạt động farming. Ở điểm này Bitcoin network được thiết kế rất khéo léo và tốt hơn hệt thống tiền đá của đảo Yap hay thậm chí hệ thống gold starndard trước đây trong lịch sử (i.e. người khai thác đá hay đi đào vàng hoàn toàn vì vụ lợi cho chính mình chứ không phải cho cộng đồng - ngoại trừ tăng liquidity cho nền kinh tế).

Ban đầu "tiền công" cho một block là 50 BTC, sau đó số tiền này giảm 50% sau mỗi 210k block được tạo ra. Ý tưởng giảm dần số "tiền công" này có lẽ xuất phát từ khái niệm non-renewable resources và sẽ làm cho tổng số BTC lưu hành tiệm cận dần đến con số 21 triệu. Bên cạnh việc thu được các đồng BTC mới, các thành viên clearing/mining có thể thu phí xử lý cho những giao dịch lớn, đây có lẽ là một giải pháp để thu hút số người tham gia clearing trong tương lai khi số lượng BTC tới hạn. Tất nhiên khi BTC càng khó tạo ra thì giá trị của nó càng tăng, hay nói cách khác giá cả trong nền kinh tế sử dụng BTC giao dịch sẽ bị deflation. Tuy nhiên tốc độ deflation (và tốc độ money supply) có thể xác định trước khá chính xác, cho nên một rational agent sẽ tính toán giá cả chính xác dựa trên tốc độ deflation này. Đây cũng là ý tưởng của Milton Friedman kêu gọi bãi bỏ Fed và thay bằng một cái máy tính chạy một thuật toán xác định trước để tính ra tốc độ tăng money supply cố định.

Như đã nói bên trên, mọi thành viên trong Bitcoin network đều có quyền tham gia vào quá trình clearing để được nhận những đồng BTC mới. Tuy nhiên điều này đòi hỏi bạn phải có máy tính mạnh và trình độ IT để lập trình. Nếu không có kiến thức, bạn có thể cho thuê computing power của mình cho những nhóm chuyên nghiệp có khả năng vận hành/quản lý hoạt động clearing (nghĩa là thu thập thông tin về các transaction mới, tính hash, kiểm tra hash...). Tất nhiên máy tính của bạn phải nối mạng 24/24 và phải thực sự mạnh thì mới đáng (hầu hết các máy tính tham gia clearing đều sử dụng GPU bên cạnh CPU để thực hiện các parallel computation tasks). Việc huy động một lượng lớn computing power tham gia vào quá trình clearing có ý nghĩa quan trọng với Bitcoin network. Nếu số lượng computing power quá ít, một kẻ giả mạo có thể huy động một lượng computing power lớn hơn để tạo ra một transaction log giả, nghĩa là tính ra hash cho các block mới nhanh hơn toàn bộ network. Bitcoin network còn có một số vấn đề kỹ thuật khác mà tôi sẽ không thảo luận tiếp ở đây. Tôi sẽ dành thời gian phân tích những khía cạnh kinh tế của hệ thống tiền tệ này và đánh giá những ứng dụng tương lai của ý tưởng mà những người phát triển Bitcoin đã đưa ra.


4.
Cho đến thời điểm này (7/7/2011) có hơn 6.7m BTC đã được tạo ra. Tỷ giá của 1 BTC so với USD theo Mt. Gox (một sàn giao dịch Bitcoin) dao động từ 14.6 đến 15.9 trong 48 giờ qua. Nghĩa là nền kinh tế Bitcoin đang có trị giá vào khoảng $100m, còn rất nhỏ so với các nền kinh tế thực và thậm chí nhỏ hơn so với nền kinh tế trong Second Life với đồng Linden (khoảng $600m). Trên thực tế BTC đang dần dần thâm nhập vào chính thị trường Linden và các game online khác vì chính đặc tính decentralized của nó. Đặc tính này cũng là điểm hấp dẫn với thế giới ngầm (buôn bán ma túy, hàng lậu, Wikileak...) và cũng là nguyên nhân thượng nghị sĩ Charles Schumer lên tiếng yêu cầu cơ quan chức năng Mỹ phải đóng cửa hoạt động của mạng lưới tiền tệ này. Ngược lại nó là niềm mơ ước của những người theo trường phái Libetarianism/Austrian vì đây có thể là một công cụ để "vặt bớt lông cánh" của nhà nước, nghĩa là tước bỏ chức năng phát hành tiền khỏi tay của những "đầy tớ của nhân dân" này. Không phải vô tình mà nhiều tiếng nói ủng hộ Bitcoin xuất phát từ George Mason University, một trung tâm của giới libetarian economists.

Luật pháp của hầu hết các quốc gia đều cấm các tổ chức hay tư nhân phát hành một đồng tiền song song với đồng tiền quốc gia. Ngoài khía cạnh chính trị và văn hóa, nguyên nhân kinh tế của việc nhà nước độc tôn phát hành tiền liên quan đến hệ thống thuế quốc gia. Độc quyền phát hành tiền là một biện pháp hiệu quả để một nhà nước có thể thu thuế của dân, trực tiếp qua các thể loại direct/indirect tax hoặc gián tiếp qua inflation tax (seigniourage). Một trong những cách trốn thuế phổ biến ở hầu hết các nước là giao dịch bằng tiền mặt, BTC với tính chất decentralized chính là "tiền mặt" trong thời đại mọi thứ đều "online". Một khi giao dịch được thực hiện thông qua BTC, nhà nước chỉ thu được thuế khi các bên tham gia "tự nguyện" đến nộp, sẽ cực kỳ khó khăn cho cơ quan thuế điều tra hay theo dõi các hoạt động kinh tế trong Bitcoin network. Tất nhiên vì BTC do network tạo ra nên nhà nước cũng mất nguồn inflation tax. [Tương tự như vậy, NHNN cũng mất một nguồn thu không nhỏ khi nền kinh tế bị đô la/vàng hóa].

Giống như Internet, Bitcoin network và đồng tiền BTC sẽ không có biên giới (tất nhiên trừ những nước đặt firewall), nghĩa là BTC có khả năng sẽ trở thành một đồng tiền thanh toán quốc tế nếu đồng tiền này không chết yểu. Thử tưởng tượng một ngày nào đó một doanh nghiệp dệt may nhỏ ở VN được Walmart thanh toán bằng BTC trực tiếp, không thông qua một ngân hàng nào cả và cũng không bị nguy cơ "kết hối bắt buộc" của NHNN. Ở chiều ngược lại, một nhà đầu tư nhỏ ở một tỉnh lẻ của VN có thể dễ dàng mở một tài khoản và chuyển BTC ra nước ngoài để "đánh vàng" trên một sàn giao dịch ở Dubai hay Hong Kong mà không ai ngăn cấm được. Trên tầm mức quốc gia và quốc tế, những vấn đề như currency war, currency speculation sẽ biến mất. Thặng dư hay thâm hụt thương mại sẽ chỉ là kết quả của khác biệt productivity và saving ratio chứ không liên quan đến tỷ giá nữa. Tất nhiên central banks cũng không còn vai trò gì và sẽ biến mất cùng với khái niệm monetary policy. Một viễn cảnh khá giống với việc quay về lại gold standard.

Nhưng có một khác biệt quan trọng giữa gold standard và Bitcoin network. Nếu chỉ có "Thượng đế" mới tạo ra được nguyên tố thứ 79 với những đặc tính "vàng" như vậy, bất kỳ lúc nào cũng có thể xuất hiện một/vài Satoshi Nakamoto khác với những đồng BTC mới có thể còn ưu việt hơn đồng Bitcoin hiện tại. Nghĩa là giới FX traders sẽ không lo thất nghiệp :-) còn Friedrich Hayek sẽ "mỉm cười nơi chín suối" vì mơ ước non-sovereign competitive currency trở thành hiện thực.



(Còn tiếp)


Update: Một bạn cho biết thuật ngữ "clearing" được dịch là "thanh toán bù trừ". Tất nhiên dịch thuật là tương đối nhưng theo tôi dịch như vậy không hoàn toàn chính xác và có thể gây ra nhầm lẫn. Chữ "bù trừ" có lẽ xuất phát từ khái niệm "offsetting" hoặc "netting", ví dụ nếu A mua của B một món hàng trị giá $100 vào buổi sáng, sau đó bán cho B một món hàng khác trị giá $50 vào buổi chiều thì đến cuối ngày clearing house sẽ thực hiện nghiệp vụ offsetting các liabilities giữa A và B để cuối cùng chỉ phải chuyển $50 từ tài khoản của A cho B. Tuy nhiên quá trình clearing bao gồm nhiều nghiệp vụ hơn là chỉ đơn thuần thực hiện offsetting.

Clearing hiểu theo nghĩa rộng là quá trình settlement các hoạt động kinh tế tài chính (không nhất thiết là mua bán). Khi bạn ra chợ mua một bó rau, sau khi thỏa thuận giá bạn phải đưa ra một (vài) đồng bạc giấy cho người bán. Người bán phải kiểm tra tính hợp pháp của những tờ giấy bạc đó (có phải bạc giả hay không, có phải bạn vừa rút trộm từ túi một người khác hay không...), thanh toán tiền thừa cho bạn và giao bó rau cho bạn. Đấy là quá trình clearing trong một giao dịch bằng cash. Khi bạn đặt lệnh mua một số cổ phiếu trên sàn giao dịch và broker thực thi lệnh đó, đến cuối ngày clearing house (có thể là pháp nhân khác với sàn giao dịch) sẽ offset số cổ phiếu giao dịch trong ngày giữa broker của bạn với các broker khác để tính ra số cổ phiếu "net" và tiền phải trao đổi giữa các broker với nhau. Clearing house sẽ thông báo những thông tin này cho brokers và yêu cầu họ phải thực hiện trong một khoảng thời gian nào đó (T+2, T+3...). Thông thường (nhưng không nhất thiết) các brokers sẽ chuyển cổ phiếu và tiền thông qua clearing house chứ không chuyển trực tiếp cho nhau. Bởi vậy khi clearing house nhận được đầy đủ số cổ phiếu và tiền phải trao đổi thì quá trình clearing coi như chấm dứt (clearing house có thể kiêm luôn chức năng custodian - hình như được dịch là "lưu ký").

Trong thanh toán điện tử, quá trình clearing có thể phải thông qua central bank hay các tổ chức clearing quốc tế như tôi đã nêu bên trên. Một chức năng quan trọng của clearing house là kiểm tra xem tài khoản của bạn có đủ số tiền để thanh toán cho liability cần phải settle hay không. Trong lịch sử khi non-cash transaction chủ yếu thông qua những tờ check bằng giấy, người ta nói tờ check đã được "clear" nghĩa là nó đã được kiểm chứng và tiền đã (bắt đầu) được chuyển. Có lẽ khởi nguồn của từ clearing/clearing house bắt nguồn từ đây. Trong trường hợp Bitcoin bên trên, clearing cũng tương tự như clearing những tờ check trong quá khứ, nghĩa là kiểm chứng tính xác thực của đồng BTC được người mua đưa ra thanh toán và chuyển đồng tiền đó vào tài khoản của người bán (tạo ra một official block mới bao gồm transaction đó).

Như đã nói bên trên, quá trình clearing cho một giao dịch mua bán có thể chỉ diễn ra trong vài giây nhưng cũng có thể mất vài ngày (T+3 trong mua bán cổ phiếu là một ví dụ). Nhưng quá trình clearing cho các giao dịch tài chính, nhất là các derivatives, có thể dài hơn nhiều, phụ thuộc vào tính chất của từng sản phẩm. Ví dụ với một hợp đồng futures/forward thì hoạt động clearing bắt đầu từ khi hợp đồng đó được tạo ra (một bên mua và một bên bán) cho đến khi nó được đóng lại (hai bên offset positions hoặc hợp đồng hết hạn). Những loại derivatives khác như options, swap, CDS... đều có thời gian clearing dài. Với exchange traded derivatives thì clearing được tập trung trong một centralized clearing house, còn OTC derivatives thường do banks hoặc brocker-dealers đảm nhận. Một trong những khuyến nghị cải cách quan trọng sau cuộc khủng hoảng tài chính vừa rồi là đưa tất cả (hoặc phần lớn) những giao dịch OTC, nhất là CDS, vào một central clearing house.

Tóm lại dịch chữ "clearing" thành "thanh toán bù trừ" không phản ánh được chính xác ý nghĩa của quá trình này. Nhưng tôi cũng chưa biết dịch thế nào cho đúng, hay cứ tạm dùng nguyên bản chữ clearing vậy, dù sẽ bị chê trách không giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt :-(

Update (12/07): Krugman có một entry ngắn về money với một câu kết rất hay: "...money is a social convention meant to deal with an imperfect world, and that dealing with that imperfect world sometimes means that central banks need to take exceptional action..."

Update (14/07): NPR có một podcast về Bitcoin. Câu so sánh BTC như là "a computerized version of gold" rất hay. Trong podcast này NPR hỏi ý kiến của Ronald Mann, giáo sư luật đại học Columbia, và Benjamin Friedman, giáo sư kinh tế đại học Harvard, và cả hai đều nghi ngờ về tương lai của BTC.

Update (5/09): Một số thông tin về nhân vật Satoshi Nakamoto.

November 18, 2013

Một Góc Nhìn Khác Về Nợ Xấu

 Theo GNA
Bài Viết Của : Lê Thị Liên Hoan (An ninh thế giới cuối tháng) 17/11/2013
Phóng viên (PV): Thưa ông, đối với người kinh doanh, có bao nhiêu điều quan trọng?
Doanh nhân:Theo tôi thì có hai thôi: tìm ra thị trường và tìm ra nguồn vốn
PV: Thị trường đôi lúc là nhân tố khách quan. Còn đồng vốn không phải như vậy, đúng không ạ?
Doanh nhân: Đúng. Vốn phải tự có. Hoặc thông thường nhất phải đi vay.
PV: Vay ai?
Doanh nhân: Bất cứ ai. Nhưng trên thực tế, chủ yếu là vay ngân hàng.
PV: A, ngân hàng. Có phải nơi mà dư luận luôn nói là đang ôm nhiều nợ xấu đó không?
Doanh nhân: Xin nhà báo định nghĩa lại cho tôi biết “nợ xấu” là gì?
PV: Là nợ không có khả năng thu hồi. Nói nôm na là không đòi được.
Doanh nhân: Thế hiện nay các ngân hàng ôm nợ xấu nhiều không?
PV: Ô, ông không biết à? Vô cùng nhiều, nhiều đến mức bao nhiêu rất khó thống kê. Nguy cấp lắm.
Doanh nhân: Tôi nghĩ khác, nhà báo ạ. Tôi hoàn toàn cho như vậy là “nợ đẹp”.
PV: Nợ đẹp?
Doanh nhân: Phải. Vì với tư cách doanh nhân, tôi biết lúc mắc nợ thì lo lắng vô cùng, mất ăn mất ngủ, bị ám ảnh, và khả năng mất tài sản vào bất cứ lúc nào. Nhưng mất ăn mất ngủ tôi chưa thấy, chứ cho tới bây giờ nhìn ông ngân hàng nào cũng phây phây, chưa thấy ai mất gì, cũng hầu như chưa thấy ai bị sao. Nợ như vậy gọi nợ đẹp chứ còn gì nữa.
PV: Ừ nhỉ.
Doanh nhân: Nợ mà không thống kê rõ số nợ, nợ mà không biết chính xác ai nợ bao nhiêu và ai là người ký quyết định cuối cùng cho vay, nợ mà không đòi được cũng chả chết thì xấu làm sao được.
PV: À há.
Doanh nhân:Nếu nhà báo cho tôi vay một triệu đồng, tôi không trả nhà báo vẫn bình an, vẫn có cơm ăn áo mặc, vẫn giữ nguyên chức vụ và vẫn hứa chứ đâu phải trả tiền. Thì nhà báo thấy sự nợ như thế có nhẹ nhõm không?
PV: Nhẹ nhõm vô cùng.
Doanh nhân: Ngược lại, nếu tôi cho vay mà tôi không đòi cũng chả làm sao, tài sản cá nhân của tôi không hề suy chuyển; địa vị, danh tiếng của tôi vẫn oai hùng thì món nợ đó đâu làm tôi đau đớn lắm.
PV: Đúng vậy.
Doanh nhân: Tóm lại, rất kỳ lạ, tôi có cảm giác nợ xấu đang biến thành nợ đẹp với cả người cho vay lẫn người đi vay, nghĩa là cả hai cứ ì ra mà chả làm sao cả.
PV: Không phải như vậy đâu.
Doanh nhân: Tôi chưa biết bên trong các vị xử lý nhau như thế nào, nhưng bên ngoài nhìn vào chỉ thấy nợ xấu là một kẻ vô danh, không hình ảnh, không mặt mũi, và con số thì khá lờ mờ. Còn trong cuộc sống, nếu tôi cho ai vay tiền, hoặc tôi đi vay của cá nhân nào đó thì vay bao nhiêu, bao giờ trả hoặc không trả, sẽ ra sao. Chắc chắn họ tính chính xác tới từng xu.
Cho nên nói nợ xấu đang có khả năng biến thành nợ đẹp do chưa thấy ai chết cũng không phải không có lý. Hoặc ít nhất cũng có thể gọi đó là nợ êm dịu, nợ thanh thản hoặc nợ bình an. Không có chuyện một sống một chết giữa chủ nợ và con nợ.
Nợ kiểu như thế thì nói thật, có khi tôi muốn… vay thêm. Nợ kiểu đó, thì giữa chủ nợ và con nợ sẽ còn tình thương mãi mãi.

November 16, 2013

Banking sector data

Lê Hồng Giang


Mấy hôm trước tôi có một comment trên G+ về vấn đề vốn tự có vs vốn điều lệ của các ngân hàng thương mại cổ phần của VN. Một bài báo của VNEconomy cho biết theo số liệu thống kê của NHNN thì có vẻ các ngân hàng TMCP đang phục hồi vì vốn tự có đã gần như xóa hoàn toàn khoảng cách với vốn điều lệ. Vào website của NHNN tìm số liệu gốc tôi thấy bảng số liệu sau cho tháng 9/2013 (có thể chọn các bảng số liệu tương tự cho từng tháng ngược về đến tháng 4/2012):
(Nguồn: NHNN)


Trước hết cần phải nói việc công khai số liệu lên website như vậy là một điều rất đáng hoan nghênh, hi vọng NHNN sẽ tiếp tục đăng tải thêm thông tin để mọi người có thể đánh giá tình trạng sức khỏe và an toàn của hệ thống. Ở đây tôi xin nêu ra một số thắc mắc/nhận xét liên quan đến bảng số liệu này.

- Nếu bạn để ý số liệu cột 11 (Tỷ lệ vốn ngắn hạn cho vay trung, dài hạn) bạn sẽ thấy có 2 số âm ở mục NH Liên doanh, nước ngoài và Ngân hàng HTX Việt nam. Đây là một điều khó hiểu, NHNN cần giải thích tại sao tỷ lệ này lại có thể âm? Xem các bảng số liệu của các tháng trước cột này của Ngân hàng liên doanh, nước ngoài luôn luôn âm còn của Ngân hàng HTX có lúc âm lúc dương.

- Giá trị của cột số liệu này cho toàn hệ thống (hang cuối cùng) là 17.54%, một con số khá nhỏ và cực kỳ an toàn. Nếu con số này đúng có lẽ nào hơn 80% các khoản cho vay là ngắn hạn (giả sử ngân hàng chủ yếu huy động ngắn hạn) hoặc các ngân hàng có một tỷ lệ vốn huy động dài hạn rất lớn. Giá như NHNN công bố tỷ lệ cho vay ngắn hạn/trung, dài hạn thì sẽ rõ ràng hơn.

- Số liệu ROA của toàn hệ thống là 0.2 không rõ được tính như thế nào? Nếu tính theo asset-weighted thì phải là 0.38. Tương tự như vậy equity-weighted ROE của toàn hệ thống sẽ là 3.74 (dùng vốn tự có). Còn equity-weighted CAR sẽ là 16.19%, asset-weighted CAR là 14.15% thay vì 13.76% như trong bảng. Việc ROA hay CAR của từng phân khúc ngân hàng cao trong khi của toàn hệ thống thấp cũng giống như thống kê GDP các tỉnh cao nhưng của cả nước lại thấp.

- CAR, theo qui định của Thông tư 13/2010/TT-NHNN, được tính bằng equity/risk-adjusted assets. Trong đó equity là vốn tự có còn risk weight thay đổi từ 0% đến 250% tùy loại assets. Con số này của các ngân hàng TMCP vào tháng 9/2013 là 12.81%. Nghịch đảo của nó là risk-adjusted leverage, bằng 7.8, nhỏ hơn nhiều so với simple leverage (assets/equity) bằng 12.21 hay earning leverage (ROE/ROA) 10.89. Điều này bình thường nhưng khi so với tháng 9/2012 thì risk-adjusted leverage tăng trong khi earning leverage lại giảm, cho thấy mức độ rủi ro (tính theo CAR) tăng không tương xứng với lợi nhuận tăng.

- Cả 3 loại leverage này của khối ngân hàng nước ngoài đều rất thấp, chỉ bằng nửa của nhóm ngân hàng nhà nước hoặc cổ phần. Tuy nhiên ROA của nhóm này lại cao nhất, chứng tỏ họ làm ăn rất hiệu quả nên không cần sử dụng nhiều leverage. Một lý do khác giải thích ROA cao có thể là họ chiếm được nhiều thị phần trong phân khúc các dịch vụ ngân hàng có high margin mà không cần cạnh tranh giành giật deposit với các ngân hàng nội địa. Dù lý do gì đi nữa rõ ràng các ngân hàng nội địa phải học tập và gia tăng cạnh tranh với các ngân hàng nước ngoài.

- Quay lại vấn đề vốn tự có vs vốn điều lệ, tôi vẽ lại đồ thị 2 loại vốn này dưới đây cho khối TMCP:


Có thể thấy hệ thống ngân hàng TMCP bị 2 cú shock rất lớn trong quí 2 2012 và quí 1 2013, mất một lượng lớn vốn tự có (khoảng 12%). Tôi ngờ rằng đây là những giai đoạn các ngân hàng TMCP phải phân loại và chấp nhận NPL cao đột biến và phải trích lập dự phòng (trừ vào vốn tự có). Tuy nhiên trong những giai đoạn này ROA/ROE của các ngân hàng vẫn dương nên trừ khi các qui tắc kế toán của VN "không giống ai" tôi không thể giải thích được tại sao vốn tự có lại bị mất như vậy (các bạn có thể viện dẫn những vụ như ACB lỗ 500 tỷ vì buôn vàng nhưng nên nhớ ROA/ROE của toàn hệ thống vẫn dương). Như vậy không kể số liệu thống kê có vấn đề, báo chí và giới chuyên gia đã "mù tịt" về nhiều khoản lỗ cực lớn trong giai đoạn này.

Nhưng chưa hết, sau khi bị rớt xuống đáy trong Q1 2013, vốn tự có của khối ngân hàng này tăng rất mạnh trong Q2 và Q3 trong khi vốn điều lệ không tăng đáng kể. Trong bối cảnh vốn điều lệ cao hơn vốn tự có, ngay cả nếu các ngân hàng này phát hành thành công cổ phiếu ra công chúng (mà rất ít bằng chứng) thì cũng khó có thể có thặng dư vốn trừ khi price/book ratio rất cao - một điều không tưởng trong bối cảnh kinh doanh ngân hàng hiện nay. Bạn có bỏ tiền mua cổ phiếu một ngân hàng với giá cao hơn mệnh giá trong khi giá trị sổ sách đã xuống thấp hơn mệnh giá? Vậy chỉ còn khả năng trong giai đoạn này các ngân hàng TMCP có lợi nhuận lớn và họ giữ lại lợi nhuận để tăng vốn tự có hoặc họ re-classify lại nợ xấu để thu lại một phần trích lập dự phòng trước đây đã trừ vào equity.

Liệu lợi nhuận của khối ngân hàng TMCP trong Q2/Q3 2013 có cao không? Số liệu ROA/ROE của Q2 dương nhưng không quá lớn, Q3 chưa có báo cáo nên không rõ thế nào. Để ước lượng lợi nhuận của các ngân hàng trong Q3, tôi vào website của TCTK xem số liệu GDP của Q3 cho ngành "Hoạt động tài chính, ngân hàng và bảo hiểm". Chín tháng đầu năm 2013 ngành này có GDP bằng 124 nghìn tỷ, một bước nhảy vọt so với 6 tháng đầu năm mới chỉ có hơn 61 nghìn tỷ (3 tháng đầu năm là 27 nghìn tỷ). Không rõ TCTK có phân chia lại nhóm ngành không nhưng cả năm 2012 ngành "Tài chính, tín dụng" chỉ có GDP bằng 56 nghìn tỷ, còn năm 2011 là 48 nghìn tỷ. Như vậy trong Q3 GDP của nhóm này tăng 85% so với Q2 (chưa annualized), còn 3 quí đầu năm tăng 120% so với toàn bộ năm 2012. Tất nhiên nhóm các ngân hàng TMCP chỉ chiếm một phần trong tổng số GDP ngành đó và lợi nhuận chỉ là một phần của GDP, nhưng tốc độ tăng trưởng "khủng" như vậy phù hợp với sự phục hồi "thần kỳ" của vốn tự có theo số liệu của NHNN.

Có điều chẳng biết số liệu của cả NHNN lẫn TCTK có phản ánh đúng thực trạng ảm đạm của nền kinh tế và hệ thống ngân hàng hay không. Theo các bạn analyst của VDSC thì khu vực dịch vụ tài chính trong Q3 2013 có ROA và ROE đều dưới 1%, thấp hơn nhiều số liệu của NHNN và TCTK. Nếu bạn (như tôi) tin số liệu của VDSC hơn, bạn sẽ có nhiều câu hỏi cho NHNN và TCTK về độ chính xác của số liệu cũng như sức khoẻ thật sự của hệ thống ngân hàng TMCP.

September 20, 2013

Còn ma trận sở hữu chéo,không thể tái cấu trúc kinh tế

baodatviet.vn

Còn ma trận sở hữu chéo,không thể tái cấu trúc kinh tế

(Tài chính)- "Nhà nước muốn các tập đoàn kinh tế giữ vai trò chủ đạo của nền kinh tế trong khi chúng đang dẫn nền kinh tế xuống đáy mà vẫn để yên thì rất phi lý. Phải kiên quyết yêu cầu các doanh nghiệp nhà nước thoái vốn khỏi ngân hàng thương mại và các lĩnh vực đầu tư không đúng chức năng, chấm dứt việc lợi dụng mục tiêu công ích để chèn ép doanh nghiệp tư nhân" - Chuyên gia kinh tế Bùi Kiến Thành. 
PV: Nhiều chuyên gia kinh tế tài chính nhận xét: bài toán ma trận này rất khó giải, như mớ bòng bong không biết phải lần từ mối nào, rút một sợi dây thì động đến cả rừng. Theo ông, để giải bài toán ma trận sở hữu chéo, Việt Nam phải bắt đầu từ đâu và làm như thế nào? 
Ông Bùi Kiến Thành: - Việt Nam đã để ma trận sở hữu chéo đi quá mức kiểm soát. Cơn bệnh đã nặng tới mức nếu cho uống thuốc gì cũng đều dẫn tới tử vong. 
 
Thế nhưng, chủ trương của Chính phủ lại không để bất cứ một ngân hàng nào phá sản, dù cho họ có làm ăn bết bát, sai luật, nợ xấu tới 50-60%.
 
Để thực hiện chủ trương đó, Ngân hàng Nhà nước đã thành lập Công ty mua bán nợ xấu VAMC với giãn thời gian xử lý nợ xấu của các ngân hàng thương mại trong vòng 5 năm, làm sạch báo cáo tài chính để các ngân hàng này tiếp tục hoạt động. Tuy vậy, các ngân hàng thương mại cũng không mặn mà gì với việc bán nợ xấu, vì sao?
 
Chuyên gia kinh tế Bùi Kiến Thành
Chuyên gia kinh tế Bùi Kiến Thành
 
Ở đây có hai nguyên nhân. Thứ nhất, nếu bán nợ xấu cho Ngân hàng Nhà nước, các ngân hàng thương mại sẽ mất mát một số lượng lớn tín dụng. Ví dụ, nếu ngân hàng có 50.000 tỷ đồng tổng tín dụng, trong đó có 20.000 tỷ đồng nợ xấu. Nếu bán số đó đi, báo cáo tài chính của ngân hàng sẽ sạch nhưng mỗi năm ngân hàng phải tìm được 4.000 tỷ đồng để mua lại nợ xấu, bằng cách nào không rõ.
 
Chưa kể, theo Thông tư 20/2013/TT-NHNN quy định về cho vay tái cấp vốn trên cơ sở trái phiếu đặc biệt của VAMC, mức tái cấp vốn đối với tổ chức tín dụng không vượt quá 70% so với mệnh giá trái phiếu đặc biệt, nghĩa là tổ chức tín dụng bán nợ xấu dù theo đúng giá trị ghi sổ nhưng chỉ nhận về tối đa 70% giá trị đó, đồng thời vẫn phải trích lập quỹ dự phòng rủi ro 20% giá trị nợ xấu trong vòng 5 năm.
 
Trong khi, các ngân hàng thương mại này cho rằng, nợ của họ xấu nhưng chưa đến nỗi xấu hẳn, có nghĩa là số tài sản thế chấp nếu tiến hành giải chấp thì có thể thu hồi lại được nhiều tiền hơn nếu bán nợ cho Ngân hàng Nhà nước.
 
Trên thực tế, việc giải chấp phải thông qua Tòa án, chưa kể có muốn bán tài sản thế chấp cũng không dễ trong điều kiện kinh tế như hiện nay nhưng các ngân hàng thương mại dạng này không chịu thua thiệt mà bám vào hi vọng giải chấp tài sản thế chấp đó.
 
Nguyên nhân thứ hai, xem ra phổ biến hơn là khi bán nợ xấu, các ngân hàng thương mại buộc phải để Ngân hàng Nhà nước vào thanh tra, kiểm tra nợ xấu đó từ đâu, cho đối tượng nào vay.
 
Với loại nợ xấu do sở hữu chéo như đã phân tích (xem thêm bài 1 – PV), nghĩa là chủ yếu là cho thành viên hội đồng quản trị ngân hàng vay, để Ngân hàng Nhà nước vào đồng nghĩa với việc “lạy ông tôi ở bụi này”, rằng ngân hàng cũng là anh mà con nợ cũng là anh. 
 
Khi mà mọi vấn đề được minh bạch, các thành viên tham gia vào ma trận sở hữu chéo sẽ phải đối mặt với việc vi phạm hàng loạt quy định về hoạt động ngân hàng, phải chịu trách nhiệm từ dân sự tới hình sự.
 
Có thể thấy, các ngân hàng thương mại yếu kém đang ở thế “tiến thoái lưỡng nan”. Nếu cứ duy trì tình trạng này thì sớm hay muộn cũng sẽ gây đổ vỡ dây chuyền, không chỉ họ phá sản mà còn ảnh hưởng tới toàn bộ hệ thống tài chính cũng như toàn nền kinh tế. Nếu bán nợ xấu, sẽ phanh phui ra nhiều chuyện trái pháp luật. 
 
Tới thời điểm này, dường như, các vị lãnh đạo ngân hàng thương mại vẫn đang tin rằng họ sẽ có giải pháp cho tình trạng này. Có vẻ họ đặt niềm tin vào sự phục hồi trong nay mai của bất động sản Việt Nam hay chuyện lobby chính sách để hỗ trợ thị trường. Trên thực tế, họ cũng đã đạt được một số giải pháp nhưng đều không mang lại hiệu quả gì đáng kể.

Ông Bùi Kiến Thành:Ma trận sở hữu chéo rất nghiêm trọng

PV: - Các ngân hàng thương mại vì những tính toán của mình vẫn đang kiên trì duy trì tình trạng hiện tại. Tuy nhiên, giữ vai trò quản lý, Ngân hàng Nhà nước phải can thiệp như thế nào để tránh được sự lung lay được báo trước của toàn hệ thống ngân hàng, thưa ông? Liệu có giải pháp nào gỡ ma trận sở hữu chéo ở Việt Nam hiện tại?
Ông Bùi Kiến Thành: - Ngân hàng Nhà nước phải đưa ra một quyết sách rõ ràng và áp dụng cho được. Dù cho các ngân hàng thương mại muốn che giấu nợ xấu thì Ngân hàng Nhà nước nếu không tự che mắt mình cũng có thể chỉ rõ tình hình tài chính của các ngân hàng này. 
 
Khi đó, để thực hiện mục tiêu không để ngân hàng thương mại nào đổ vỡ vì quyền lợi của người gửi tiền (chứ không phải vì lợi ích nhóm bảo kê cho các ngân hàng thương mại yếu kém) thì Ngân hàng Nhà nước phải công khai chịu trách nhiệm trả tiền cho người gửi tiền và đề ra các biện pháp giải quyết vấn đề dựa trên nguyên tắc tiên quyết đó.
 
Thứ nhất, trong vấn đề mua bán nợ xấu, các ngân hàng thương mại hoạt động yếu kém, có số nợ xấu đến mức gây nguy hiểm cho hệ thống phải bị “cách ly”, chịu trách nhiệm xử lý các khoản nợ vay dưới sự điều hành của Ngân hàng Nhà nước.
 
Dù phải bán hết tài sản để bảo toàn tiền gửi cho người dân thì ngân hàng thương mại cũng buộc phải chấp nhận để chịu trách nhiệm cho hoạt động kinh doanh yếu kém của mình.
 
Thứ hai, buộc những người lợi dụng danh nghĩa cổ đông đi vay ngân hàng phải trả nợ, bán hết tài sản cá nhân để trả nợ được đến đâu tốt đến đấy. Phải làm sao cứu được ngân hàng, cấu trúc ngân hàng sao cho hoạt động tốt chứ không bao che cho những người lợi dụng ma trận sở hữu chéo, làm phương hại tới sự an toàn của ngân hàng thương mại nói riêng và hệ thống ngân hàng nói chung.
 
Thứ ba, Ngân hàng Nhà nước có quyền quy trách nhiệm dân sự về vấn đề quản lý ngân hàng và trách nhiệm hình sự về việc làm sai quy định nhà nước, gây ra hệ quả nghiêm trọng, trong hoạt động ngân hàng đối với những vị lãnh đạo các ngân hàng thương mại nói trên. 
 
Theo thông lệ quốc tế, lãnh đạo ngân hàng đưa ra quyết định sai phải chịu trách nhiệm về quyết định của mình. Trong trường hợp đã nghiên cứu kỹ, do năng lực hạn chế và hoàn cảnh khách quan, vị lãnh đạo đó có thể không bị truy cứu trách nhiệm.
 
Trong trường hợp cố ý làm sai, lãnh đạo ngân hàng thương mại phải lãnh trách nhiệm vô giới hạn. Họ phải thương thảo mang tài sản riêng ra đền bù thiệt hại do những việc làm sai của mình. Nếu không, có thể truy cứu trách nhiệm hình sự đối với vị lãnh đạo này. Các nước khác vẫn làm như vậy, chỉ có Việt Nam là không.
 
Chính phủ và Ngân hàng Nhà nước phải có quyết tâm và nhất định phải chọn được người có năng lực để làm cho đúng và triệt để những việc phải làm. Bằng không, khi hệ thống ngân hàng bị đổ vỡ, cả nền kinh tế sẽ bị ngưng trệ. 
 
PV: - Câu hỏi cuối cùng, nếu vẫn tồn tại ma trận sở hữu chéo, việc tái cấu trúc nền kinh tế có thể thực hiện được không và vì sao, thưa ông?
 
Ông Bùi Kiến Thành: - Không thể tái cơ cấu được. Để tái cơ cấu là trong một nền kinh tế thị trường, tín dụng đóng vai trò vô cùng quan trọng. Khi ngân hàng đang lún vào nợ xấu không rút ra được, doanh nghiệp không tiếp cận được vốn thì để nền kinh tế cầm cự được đã khó, chứ không nói đến tái cơ cấu nền kinh tế.  
 
Đối tượng chịu ảnh hưởng đầu tiên và nghiêm trọng nhất của việc đóng băng tín dụng chính là các doanh nghiệp tư nhân. Theo thống kê của Bộ Kế hoạch Đầu tư, trong 8 tháng đầu năm 2013, đã có 39.400 doanh nghiệp phá sản.
 
Nếu chính phủ và Ngân hàng Nhà nước không điều chỉnh chính sách tiền tệ cho phù hợp. Nếu không cải thiện hệ thống tín dụng, tăng khả năng tiếp cận vốn, sự đình trệ hoạt động sản xuất kinh doanh sẽ không chỉ dừng lại ở đó.
 
Vấn đề tái cơ cấu doanh nghiệp nhà nước lại là một câu chuyện khác. Trước đây, Nhà nước muốn có quyền chủ động trong quản lý kinh tế nên cho thành lập Tập đoàn Nhà nước, với mục đích phục vụ công ích, vì lợi ích của cộng đồng chứ không phải kinh doanh lấy lãi.
 
Vì thế, Chính phủ chỉ định các ngân hàng cấp cho doanh nghiệp nhà nước những khoản vay ưu đãi, thậm chí kinh doanh thua lỗ còn được khoanh nợ, giãn nợ, rồi xóa nợ.
 
Thực tế hiện nay hoàn toàn khác. Doanh nghiệp nhà nước đặt mục tiêu kinh doanh, dùng những lợi thế của mình để cạnh tranh, chèn ép doanh nghiệp tư nhân. Thay vì phục vụ công ích, các doanh nghiệp này lại làm hại cho việc kinh doanh của cả nền kinh tế.
 
Các doanh nghiệp nhà nước cũng đang sở hữu ngân hàng thương mại, góp mặt trong ma trận sở hữu chéo. Chính phủ đã yêu cầu các tập đoàn thoái vốn nhưng tiến độ rất chậm.
 
Mặt khác, Nhà nước yêu cầu không được làm mất vốn, đó là nhiệm vụ bất khả thi nếu thoái vốn trong điều kiện kinh tế khó khăn như hiện nay. Vì vậy, lãnh đạo các tập đoàn dường như đã không chọn giải pháp hoạt động theo mục đích được giao mà tìm mọi cách duy trì lợi ích cá nhân. 
 
Ấy thế nhưng xử lý các doanh nghiệp này thì không đơn giản. Thứ nhất, doanh nghiệp nhà nước là “con mình”, xử mạnh tay cũng không đành lòng. Thứ hai, những người đứng đầu doanh nghiệp nhà nước cũng không thể xử lý như người bình thường được vì vướng những quy định về tổ chức cán bộ.
 
Tóm lại, muốn thực hiện tái cơ cấu nền kinh tế đầu tiên phải phá băng tín dụng, nghĩa là xử lý số nợ xấu phát sinh từ ma trận sở hữu chéo. Có như vậy mới tạo điều kiện cho doanh nghiệp tiếp cận được vốn với lãi suất hợp lý để duy trì và phát triển hoạt động sản xuất kinh doanh. 
 
Về phần các doanh nghiệp nhà nước, Nhà nước muốn các tập đoàn kinh tế giữ vai trò chủ đạo của nền kinh tế trong khi chúng đang dẫn nền kinh tế xuống “địa ngục” mà vẫn để yên thì rất phi lý. Phải kiên quyết yêu cầu các doanh nghiệp nhà nước thoái vốn khỏi ngân hàng thương mại và các lĩnh vực đầu tư không đúng chức năng, chấm dứt việc lợi dụng mục tiêu công ích để chèn ép doanh nghiệp tư nhân. 
 
Nhà nước có đầy đủ công cụ thể thực hiện những việc trên, mong rằng các vị lãnh đạo có trách nhiệm và quyền lực kịp thời nhận thức rõ nguy cơ dẫn đến sự đổ vỡ của cả hệ thống ngân hàng, và quyết liệt thực hiện những cải tổ cần thiết, đặt nền tảng cho nền kinh tế phát triển ổn định và bền vững.
 
Hoàng Hạnh (Thực hiện)

August 22, 2013

7 hình thức sở hữu chéo và đầu tư chéo của các ngân hàng thương mại

7 hình thức sở hữu chéo và đầu tư chéo của các ngân hàng thương mại

Sở hữu chéo đóng vai trò như chất dẫn, lan truyền rủi ro giữa các định chế tài chính và doanh nghiệp liên quan khi cổ đông gặp khó khăn trong kinh doanh.
Ủy ban Giám sát Tài chính Quốc gia ngày 31/7 vừa tổ chức buổi hội thảo về “Rủi ro sở hữu chéo và đầu tư chéo”, quy tụ hơn 100 chuyên gia đầu ngành.
Theo tường thuật của VNEconomy, tại buổi hội thảo này, ông Bùi Huy Thọ, Phó vụ trưởng Vụ Quản lý cấp phép các tổ chức tín dụng và hoạt động ngân hàng thuộc Cơ quan Thanh tra giám sát ngân hàng (Ngân hàng Nhà nước) cho biết, có 7 hình thức sở hữu chéo và đầu tư chéo, gồm:
(1) Tổ chức tín dụng góp vốn qua lại với nhau và với các công ty con của nhau;
(2) Một tổ chức tín dụng sở hữu cổ phần nhiều tổ chức tín dụng khác;
(3) Một ngân hàng cùng các cổ đông của ngân hàng mình sở hữu cổ phần tại nhiều tổ chức tín dụng khác;
(4) Một ngân hàng sở hữu cổ phần tại một tổ chức tín dụng khác đồng thời nhận ủy thác đại diện cho các cổ đông chính tại tổ chức tín dụng đó;
(5) Một số ngân hàng có sở hữu cổ phần tại tổ chức tín dụng khác đồng thời có quan hệ vay vốn và tiền gửi lớn với tổ chức tín dụng đó;
(6) Một số cổ đông và người có liên quan nắm giữ cổ phần của tổ chức tín dụng vượt quá tỷ lệ cho phép, đồng thời lại có quan hệ vay vốn lớn tại tổ chức tín dụng;
(7) Ngân hàng mua trái phiếu của công ty con hoạt động trong lĩnh vực chứng khoán, bảo hiểm (hình thức cấp tín dụng cho công ty con) hoặc đặt cọc, ủy thác đầu tư qua công ty con.
Ngược lại, các công ty con cũng thực hiện nhiều giao dịch như gửi tiền hoặc sở hữu cổ phiếu của chính ngân hàng.

 - See more at: http://bfinance.vn/tai-chinh-doanh-nghiep/7-hinh-thuc-so-huu-cheo-va-dau-tu-cheo-cua-cac-ngan-hang-thuong-mai.aspx#sthash.khvfX9X3.dpuf

August 12, 2013

VAMC nguy cơ ‘thất nghiệp’

Theo Levantuan Blog's
(Nguồn: nfsc.gov.vn)
Thông tư 02 được hoãn thực hiện một năm, cộng với vốn điều lệ chỉ 500 tỷ đồng, nhiều chuyên gia cho rằng, Công ty quản lý nợ quốc gia (VAMC) khó có “hàng” để xử lý.
VAMC là doanh nghiệp đặc biệt, được quyền xử lý toàn bộ số nợ của nền kinh tế đang kết chuyển tại hệ thống tổ chức tín dụng. Quyền năng lớn nhưng thực lực tài chính chỉ 500 tỷ đồng, chuyên gia tài chính độc lập Nguyễn Trí Hiếu đã đặt ngược vấn đề về đòn bẩy tài chính của công ty này.
Theo ông, Thông tư 02 và VAMC chính là hai công cụ cực kỳ quan trọng xử lý nợ xấu và  có quan hệ rất mật thiết với nhau. Thông tư 02 giữ vai trò như chiếc máy ủi làm vợi đi lớp đất đá bên trên, làm lộ thiên phần nợ xấu, từ đó, VAMC mới có cơ  sở để xử lý nợ.
Nhưng khi Thông tư 02 bị lùi thời hạn thực hiện thêm một năm, các ngân hàng đã và sẽ tìm cách giấu nợ xấu nhằm tránh VAMC “sờ gáy”, bởi theo quy định, chỉ những ngân hàng nào có nợ  xấu trên 3% mới phải bán nợ cho VAMC.
Cuối năm ngoái, nhiều ngân hàng thương mại có nợ xấu cao, đã tìm cách đẩy nợ xấu xuống dưới 3%. “Đáng lẽ, cần phải thực thi ngay Thông tư 02 để nợ xấu lòi ra thì mới có cơ sở  xử lý. Đằng này, hoãn Thông tư 02 thì  có thể phải chấp nhận khả năng VAMC không có hàng để mua”, ông Hiếu nói.
Thứ hai, VAMC còn gặp một số khó khăn nội tại mà  đầu tiên là đòn bẩy tài chính. Theo bố cáo thành lập doanh nghiệp, vốn điều lệ của doanh nghiệp này chỉ 500 tỷ đồng. Trước đó, Ngân hàng Nhà nước hy vọng VAMC xử lý  nợ xấu khoảng 40.000 – 70.000 tỷ đồng, còn  Ủy ban Giám sát tài chính Quốc gia cho rằng sẽ xử lý được 100.000 tỷ.
Ví dụ khi VAMC mua nợ 50.000 tỷ đồng và trao lại cho ngân hàng những tờ trái phiếu đặc biệt, trong bảng cân đối tài sản của VAMC ở một thời điểm nào đó trong tương lai, sẽ là: bên “Nợ” 50.000 tỷ đồng nhưng bên “Có” chỉ 500 tỷ đồng từ vốn điều lệ. Đòn bẩy tài chính ở đây là 50.000 tỷ/500 tỷ đồng, bằng 100/1.
Thông thường, tỷ lệ đòn bẩy tài chính ở một ngân hàng đang hoạt động khoảng 10/1, những đơn vị  nào có tỷ lệ này 15/1 được coi là rủi ro, còn nếu ở mức 20/1 là quá rủi ro, hơn nữa thì ngấp nghé phá sản bất cứ lúc nào. Một VAMC tầm cỡ quốc gia mà đòn bẩy tài chính như trên là khó thuyết phục về mặt kỹ thuật tài chính.
Thứ ba, trái phiếu “đặc biệt” của VAMC là loại trái phiếu gì? Chắc chắn không phải trái phiếu Chính phủ, không phải trái phiếu công ty được Chính phủ bảo lãnh như trái phiếu Ngân hàng Phát triển Việt Nam, trái phiếu Ngân hàng Chính sách Xã  hội và cũng khác xa với tín phiếu Ngân hàng Nhà nước, vốn là  loại giấy tờ có giá đứng đầu về  giá trị trong giao dịch nghiệp vụ thị  trường mở.
Cũng vì chưa có tiền lệ nên vẫn còn một băn khoăn nữa về mặt pháp lý: VAMC hoạt  động theo luật công ty, nếu trái phiếu đó không có  giá trị do VAMC hoạt động không hiệu quả  thì ai sẽ có trách nhiệm?
Do đó, rất nhiều khả năng là khi các ngân hàng thương mại cầm trái phiếu VAMC, họ sẽ đến Ngân hàng Nhà nước chiết khấu ngay để lấy tiền tươi thóc thật thay vì giữ lại. Hiện tỷ lệ chiết khấu cũng chưa rõ bao nhiêu vì Ngân hàng Nhà nước cần phải thống nhất với Bộ Tài chính. Trong khi đó, mỗi năm các ngân hàng lại phải trích lập dự  phòng rủi ro khoảng 20% trong vòng 5 năm để giảm trừ  giá trị trái phiếu về số nợ cần cân bằng trước khi bán.
Vậy nên, ngân hàng thà giấu diếm để ôm số nợ kia, vừa không phải  ỉ eo với cơ quan quản lý để được chiết khấu mà lại không bị “lộ hàng”. Kinh doanh ngân hàng không ai dại dột cho bàn dân thiên hạ biết mình đang là “khách hàng” của VAMC! Đằng nào thì sau 5 năm, nếu không xử lý hết nợ xấu, số tài sản độc hại kia lại quay về với khổ chủ.
Cũng theo ông Hiếu, nói đi thì phải nói lại, VAMC là công ty con của Ngân hàng Nhà nước, hoàn toàn có thể dựa vào uy tín của cơ quan này để thực thi nhiệm vụ. Nếu thành công thì mô hình VAMC là sáng kiến tuyệt vời chỉ có ở Việt Nam. Ở các nước, khi nợ xấu trầm trọng, họ cũng lập công ty mua bán nợ quốc gia và bỏ ra số tiền rất lớn từ ngân sách để mua đứt bán đoạn.
“Chắc ăn nhất, muốn để công ty này thực thi được nhiệm vụ thì Chính phủ phải đứng ra bảo lãnh hoặc mua đứt bán đoạn bằng ngân sách. Lúc đó, ngân hàng mới sẵn sàng bán thẳng nợ xấu cho VAMC với giá thuận mua vừa bán, tùy thuộc vào mức độ độc hại của nợ xấu, để thêm vốn làm ăn. Nếu Chính phủ bỏ vốn ra thì con số này ước phải 5 tỷ USD trở lên”, ông Hiếu nói.
Trao đổi với một lãnh đạo cao cấp của Ngân hàng Nhà nước, ông cho rằng, những lo lắng trên ít nhiều có cơ sở, nhưng trong điều kiện hiện nay, mô hình VAMC để xử lý nợ xấu vẫn có tính khả thi cao.
Thứ  nhất, Ngân hàng Nhà nước rất muốn vốn điều lệ của VAMC cao hơn mức 500 tỷ đồng nhưng thực tế, để xử lý nợ xấu thì vốn điều lệ không thấm tháp gì so với tổng nợ xấu trong hệ thống, mà vấn đề phụ thuộc vào trái phiếu do VAMC phát hành. Vốn điều lệ nhiều thì công ty có thể sẽ đầu tư vốn dưới các hình thức khác nhau để sinh lời, nhưng lại gây tốn kém cho nhà nước.
Hơn nữa, nếu là doanh nghiệp, khi phát hành trái phiếu, họ phải tuân thủ mọi quy định về phát hành trái phiếu, còn với VAMC là doanh nghiệp đặc biệt, có  hẳn một nghị định riêng của Chính phủ để  điều chỉnh, điều này càng làm cho vốn điều lệ  của công ty không ý nghĩa gì.
Thứ  hai, những nghi ngại về giá trị trái phiếu VAMC, khả năng giao dịch trên thị trường như  trái phiếu Chính phủ, tín phiếu Ngân hàng Nhà nước hay trái phiếu doanh nghiệp nhà  nước được Chính phủ bảo lãnh là thiếu cơ  sở, bởi trái phiếu do VAMC phát hành nhưng được Ngân hàng Nhà nước chấp nhận, nên mức độ giá trị của chúng không khác gì trái phiếu doanh nghiệp được Chính phủ bảo lãnh, cho nên, các ngân hàng thương mại sẽ thích ngay.
Thứ ba, vị lãnh đạo trên cho rằng việc trì hoãn Thông tư 02 sẽ  tạo điều kiện để các ngân hàng thương mại giấu nợ xấu và VAMC sẽ “thất nghiệp” là hơi thái quá.
Ông phân tích, hiện nay, có những ngân hàng đang hoạt động bình thường, họ có thể làm cho nợ xấu của mình xuống dưới 3% nhưng với cơ chế mua bán nợ của VAMC, họ sẽ đẩy lên trên 3% để bán ngay vì có giữ lại nợ xấu cũng không lợi lộc gì. Còn với những trường hợp cố  tình che giấu nợ, Nghị định 53 cũng cho phép Ngân hàng Nhà nước sử  dụng các biện pháp nghiêm khắc, yêu cầu họ bán nợ  để giữ an toàn hệ thống. Những trường hợp này không nhiều vì thực tế có 9 ngân hàng thương mại trong diện tái cơ cấu, họ đã và đang rất muốn bán nợ cho VAMC.
Ngược lại, Ngân hàng Nhà nước đang tính tới khả năng là thời gian tới, VAMC sẽ phải hạn chế mua, chỉ mua nhưng tài sản đáng mua. Tăng trưởng tín dụng rất khó dù lãi suất tiền vay đã rất thấp, thanh khoản ngân hàng quá dồi dào, trong khi đã mua nợ thì phải đẩy thêm tiền ra nhưng không giải quyết được vấn đề gì.
Nhận định VAMC sẽ xử lý được khoảng 40.000 – 70.000 tỷ đồng theo Ngân hàng Nhà nước là có cơ sở.  Nghị định 53 quy định có hai loại mua bán nợ: mua theo giá thị trường và  mua theo giá trị sổ sách. Nếu mua theo giá thị trường thì phải trải qua quá trình định giá, kiểm tra tài sản bảo đảm, công bố phát mại tài sản, thậm chí ra tòa nên khó thực hiện. Thế  nên, VAMC chủ yếu sử dụng hình thức mua bán nợ  trên sổ sách, tức nợ trên sổ ngân hàng chuyển sang sổ của VAMC, ngân hàng nhận tiền là… xong.
Về phía VAMC, Tổng giám đốc Nguyễn Hữu Thủy nói: “Nghị định 53 xác định rất rõ: trái phiếu VAMC không chuyển đổi trên thị trường mà chỉ là giấy nhận nợ của VAMC đối với các tổ chức tín dụng. Tổ chức tín dụng có thể mang giấy này đến Ngân hàng Nhà nước để tái chiết khấu với một tỷ lệ nào đó theo quy định, nhưng việc sử dụng nguồn tiền từ chiết khấu phải có mục đích rõ ràng”.
“Hiện có băn khoăn rằng, VAMC “ép” tổ chức tín dụng bán nợ, chúng tôi kỳ vọng không cần phải dùng từ này vì đây là  nhiệm vụ lớn của nền kinh tế. Việc xử lý  nợ xấu là để ngân hàng thương mại rảnh nợ và phục vụ doanh nghiệp tốt hơn. Trước đó, trong quá trình thảo luận Nghị định 53 cũng như thông tư hướng dẫn thực hiện, các tổ chức tín dụng đã tỏ rõ sự đồng thuận rất cao trong việc bán nợ cho VAMC”, ông Thủy nhìn nhận.
Theo Thời báo Kinh tế Việt Nam

August 8, 2013

Thủ thuật 'lách luật' của ông trùm tài phiệt - Bầu Kiên

Theo vtc.vn

Thủ thuật 'lách luật' của ông trùm tài phiệt - Bầu Kiên

Với tư duy "cáo già" của 1 ông trùm tài phiệt, có hiểu biết sâu về tài chính, ngân hàng, bầu Kiên đã lợi dụng những sơ hở để có thể "vừa đá bóng, vừa thổi còi".

Ngày 7/8, Cơ quan Cảnh sát điều tra (CSĐT) - Bộ Công an đã kết thúc điều tra vụ án Nguyễn Đức Kiên (Bầu Kiên) và 7 đồng phạm khác với 4 tội danh. 

Có một điều mà nhiều bạn đọc và ngay cả chúng tôi, những nhà báo theo dõi mảng nội chính vẫn thắc mắc tự hỏi là tại sao, ở thời điểm khởi tố bị can và thực hiện lệnh bắt tạm giam đối với Nguyễn Đức Kiên (bầu Kiên), ông ta không có tên trong Hội đồng quản trị (HĐQT) Ngân hàng ACB; tức là không đại diện cho chủ sở hữu của ngân hàng này, nhưng lại có một quyền lực ghê gớm, có thể sai khiến, chỉ đạo cả Chủ tịch HĐQT lẫn Tổng Giám đốc Ngân hàng ACB? Quá trình điều tra, đến nay, câu hỏi này đã được giải đáp.

Năm 1993, Nguyễn Đức Kiên là cổ đông góp vốn lớn của Ngân hàng ACB và sau đó đã giữ chức vụ Phó Chủ tịch HĐQT Ngân hàng này từ năm 1994 đến năm 2008. Trong thời gian làm việc tại Ngân hàng ACB, bầu Kiên tham gia quản trị, điều hành ngân hàng với nhiều vị trí khác nhau, có ảnh hưởng, chỉ đạo và quyết định nhiều hoạt động kinh doanh của Ngân hàng ACB. Là người am hiểu về ngân hàng tài chính và biết "lách luật", Kiên biết, nếu có tên trong HĐQT tại Ngân hàng ACB sẽ bị hạn chế vay vốn từ ngân hàng này, hạn chế việc sở hữu chéo tại nhiều ngân hàng thương mại cổ phần và hạn chế nhiều hoạt động kinh doanh riêng khác.

Vì vậy, để thỏa mãn mục đích của bản thân muốn thành lập nhiều công ty gia đình để hoạt động thao túng, chi phối lĩnh vực tài chính, chứng khoán và để đầu tư cổ phần vào nhiều ngân hàng khác nhau, bầu Kiên đã rút tên khỏi HĐQT Ngân hàng ACB. Tuy nhiên, để tiếp tục duy trì sự ảnh hưởng, có quyền chỉ đạo điều hành hoạt động kinh doanh tại Ngân hàng ACB, trước khi rút khỏi HĐQT, bầu Kiên đã đề nghị HĐQT ngân hàng này ra nghị quyết thành lập và phê chuẩn qui chế làm việc Hội đồng sáng lập Ngân hàng ACB do Kiên làm Phó chủ tịch. Thực tế, Hội đồng sáng lập không có trong cơ cấu một tổ chức ngân hàng, không được pháp luật thừa nhận, nó chỉ là cách "lách luật" để bầu Kiên có thể "vừa đá bóng, vừa thổi còi".

Ngoài ra, với tư duy "cáo già" của một ông trùm tài phiệt, có hiểu biết sâu về lĩnh vực tài chính, ngân hàng, Kiên đã lợi dụng những sơ hở, thiếu sót trong phát hành trái phiếu doanh nghiệp, các qui định của ngân hàng nhà nước về kinh doanh vàng, qui định về cơ chế điều hành lãi suất trong từng thời điểm... để thực hiện hành vi phạm tội. Đối với một số hành vi thao túng chứng khoán, sở hữu chéo các ngân hàng, nhưng chưa được pháp luật điều chỉnh nên cơ quan điều tra chỉ xử lý Kiên được 4 tội danh như nêu trên.


Ngày 7/8, Cơ quan Cảnh sát điều tra (CSĐT) - Bộ Công an đã kết thúc điều tra vụ án Nguyễn Đức Kiên (Bầu Kiên) và 7 đồng phạm khác. Các đối tượng này bị đề nghị truy tố 4 tội danh.

Đó là: Kinh doanh trái phép; Lừa đảo chiếm đoạt tài sản; Trốn thuế và Cố ý làm trái qui định của Nhà nước về quản lý kinh tế gây hậu quả nghiêm trọng xảy ra tại Ngân hàng TMCP Á Châu (Ngân hàng ACB) và một số công ty trên địa bàn TP Hà Nội và TP.HCM.

Đây là vụ án đặc biệt nghiêm trọng, thủ đoạn phạm tội tinh vi, lại liên quan đến một số người giữ vị trí quan trọng của ngân hàng được dư luận quan tâm, theo dõi trong một thời gian dài. Sau gần 1 năm điều tra, đến nay, vụ án Bầu Kiên đã kết thúc điều tra, chuyển sang VKS truy tố các bị can trước pháp luật.
Sau khi rút tên khỏi HĐQT Ngân hàng ACB, bầu Kiên đã thành lập 5 công ty, gồm: Công ty cổ phần Tập đoàn Tài chính Á Châu (Công ty AFG); Công ty cổ phần Đầu tư ACB Hà Nội (Công ty ACBI); Công ty cổ phần Đầu tư Á Châu (Công ty ACI); Công ty TNHH đầu tư tài chính Á châu Hà Nội (Công ty ACI-HN) và Công ty CP đầu tư thương mại B & B (Công ty B & B). Trong đó, Nguyễn Đức Kiên làm Chủ tịch HĐQT của 4 Công ty B & B, AFG, ACBI, ACI và Chủ tịch Hội đồng thành viên Công ty ACI-HN.

Mặc dù các công ty do bầu Kiên thành lập không được Nhà nước cấp phép kinh doanh tài chính, nhưng bầu Kiên đã chỉ đạo 5 công ty trên sử dụng hơn 9.700 tỷ đồng từ vốn điều lệ, tiền huy động và tiền thu được từ việc phát hành trái phiếu bán cho các ngân hàng. Để nâng giá trị cổ phiếu Ngân hàng ACB, bầu Kiên và Thường trực HĐQT Ngân hàng này đã ra chủ trương cấp tiền cho Công ty ACBS là công ty chứng khoán do Ngân hàng ACB sở hữu 100% vốn điều lệ để mua cổ phiếu Ngân hàng ACB.

Bằng nhiều thủ đoạn "lách luật", bầu Kiên và Thường trực HĐQT Ngân hàng đã chỉ đạo Ngân hàng ACB cấp cho Công ty ACBS 1.500 tỷ đồng cùng vốn tự có, Công ty ACBS đã chuyển cho các Công ty ACI, ACI-HN tổng số tiền hơn 1.557 tỷ đồng để đứng tên mua hộ hơn 52,5 triệu cổ phiếu ACB, đến nay mới thu về hơn 364 tỷ tiền gốc, còn lại 1.193 tỷ đồng chưa thu về, trong khi số cổ phiếu Ngân hàng ACB còn lại là hơn 19,5 triệu cổ phiếu, bị mất 32,9 triệu cổ phiếu, gây thiệt hại hơn 614 tỷ đồng (tính theo đơn giá cổ phiếu lúc mua) và thiệt hại hơn 879 tỷ đồng (tính theo giá trị cổ phiếu hiện tại).

Việc Ngân hàng ACB chuyển 1.500 tỷ đồng lòng vòng qua các ngân hàng để mua trái phiếu do các công ty phát hành qua đó mua lại chính cổ phiếu ACB cũng gây thiệt hại cho ngân hàng ACB hơn 74 tỷ đồng. Nếu tính thiệt hại có lợi cho các bị can, thì số tiền Ngân hàng ACB bị thiệt hại là hơn 688 tỷ đồng, trách nhiệm thuộc về bầu Kiên và các thành viên thường trực HĐQT Ngân hàng ACB.

Là một "đại gia" trong lĩnh vực tài chính, ngân hàng, chỉ riêng vốn điều lệ của Công ty B & B do bầu Kiên, vợ và em gái góp vốn đã lên tới gần 1.500 tỷ đồng nhưng Kiên và đồng phạm vẫn thực hiện hành vi lừa đảo, chiếm đoạt 246 tỷ đồng của Công ty TNHH một thành viên Thép Hòa Phát. Theo kết luận điều tra, với chức năng Chủ tịch HĐQT Công ty ACBI, là người đại diện theo pháp luật, Kiên đã chỉ đạo Trần Ngọc Thanh, Giám đốc Công ty ACBI ký hợp đồng thế chấp 22,497 triệu cổ phần Công ty cổ phần thép Hòa Phát vào Ngân hàng ACB để đảm bảo cho việc Công ty ACBI phát hành trái phiếu trị giá 800 tỷ đồng tại Ngân hàng ACB.

Mặc dù chưa được sự đồng ý của Ngân hàng ACB và Công ty ACBS, nhưng khi giao dịch với Tập đoàn Hòa Phát, bầu Kiên không thông báo cho họ biết số cổ phần này đang bị thế chấp tại Ngân hàng ACB mà chỉ đạo Trần Ngọc Thanh, giám đốc và Nguyễn Thị Hải Yến, kế toán trưởng lập khống một số giấy tờ để bầu Kiên ký, thể hiện chủ trương của HĐQT Công ty ACBI bán cổ phần Công ty cổ phần thép Hòa Phát mà Công ty ACBI sở hữu để cung cấp cho Công ty TNHH một thành viên thép Hòa Phát, nhằm tạo lòng tin cho người có trách nhiệm tại Công ty này để họ ký hợp đồng mua cổ phần của Công ty ACBI...

Với các hành vi gian dối nêu trên, bầu Kiên đã làm cho Công ty TNHH một thành viên thép Hòa Phát và Tập đoàn Hòa Phát tin tưởng là Công ty ACBI đang quản lý và sở hữu 20 triệu cổ phần Công ty cổ phần thép Hòa Phát nên đã ký hợp đồng, chuyển tiền mua số cổ phiếu này; nhưng sau đó đã không được nhận số cổ phiếu. Hành vi này của "bầu Kiên" là nhằm chiếm đoạt 264 tỷ đồng của Công ty TNHH một thành viên thép Hòa Phát.

Với hành vi cố ý làm trái qui định của Nhà nước về quản lý kinh tế gây hậu quả nghiêm trọng của Nguyễn Đức Kiên, quá trình điều tra đã xác định với tư cách là Chủ tịch Hội đồng đầu tư Ngân hàng ACB, bầu Kiên biết rõ qui định của Ngân hàng Nhà nước về trần lãi suất và các qui định kinh doanh chứng khoán.

Nhưng vì muốn bảo vệ lợi ích của nhóm cổ đông Ngân hàng ACB, bầu Kiên đã đề xuất, chỉ đạo Thường trực HĐQT Ngân hàng ACB ra chủ trương ủy thác cho nhân viên gửi tiền vào các tổ chức tín dụng; ra chủ trương cấp tín dụng cho Công ty TNHH chứng khoán ACB mua cổ phiếu ngân hàng ACB sai qui định, gây hậu quả nghiêm trọng đến việc thực hiện chính sách tài chính, tiền tệ của Nhà nước, thu lợi bất chính cho nhóm cổ đông Ngân hàng ACB hơn 256 tỷ đồng và trực tiếp gây thiệt hại cho Ngân hàng ACB hơn 1.407 tỷ đồng. Việc Nguyễn Đức Kiên chỉ đạo ủy thác cho 19 nhân viên Ngân hàng ACB gửi tiền vào Ngân hàng Vietinbank đã bị Huỳnh Thị Huyền Như, nguyên Phó Phòng quản lý rủi ro Ngân hàng Vietinbank Chi nhánh TP Hồ Chí Minh chiếm đoạt, gây thiệt hại cho Ngân hàng ACB gần 719 tỷ đồng.

Ngoài ra, cơ quan điều tra cũng làm rõ hành vi trốn thuế với số tiền hơn 25 tỷ đồng của Nguyễn Đức Kiên trong "phi vụ" kinh doanh vàng giữa Công ty B & B và Ngân hàng ACB thu lãi được hơn 100 tỷ đồng.

Liên quan đến vụ án này, ngoài Nguyễn Đức Kiên và 7 bị can khác đồng phạm đã bị đề nghị truy tố. Cơ quan CSĐT - Bộ Công an còn xác định hành vi liên quan đối với 7 cá nhân và hàng chục tập thể. Đối với một số cá nhân, Cơ quan điều tra đã cân nhắc không xử lý hình sự, hoặc áp dụng xử lý hành chính với một số cá nhân có mức độ sai phạm nhẹ. Nhưng với hành vi liên quan tới 26 ngân hàng nhận tiền gửi với lãi suất vượt trần từ nhân viên của Ngân hàng ACB và 4 công ty do Ngân hàng ACB ủy thác; hành vi tổ chức kinh doanh vàng trạng thái với nước ngoài và kinh doanh vàng vật chất qua tài khoản của Ngân hàng ACB sẽ được điều tra xử lý sau.

Cơ quan CSĐT Bộ Công an cũng đã kê biên 3 bất động sản do Nguyễn Đức Kiên và vợ đứng tên sở hữu tại phường 12, quận Phú Nhuận, TP Hồ Chí Minh; phường 12, quận 10, TP Hồ Chí Minh và hơn 2.400m2 đất tại phường 13, quận Bình Thạnh, TP Hồ Chí Minh.

8 bị can bị đề nghị truy tố trong vụ án: Nguyễn Đức Kiên (bầu Kiên), nguyên Phó Chủ tịch HĐQT, Phó Chủ tịch Hội đồng sáng lập và Chủ tịch Hội đồng đầu tư Ngân hàng ACB, Chủ tịch HĐQT các Công ty B & B, ACI, ACBI, AFG, Thiên Nam và Chủ tịch HĐTV Công ty ACI-HN; Ông Trần Xuân Giá, Chủ tịch HĐQT Ngân hàng ACB; ông Lê Vũ Kỳ; ông Phạm Trung Cang; ông Trịnh Kim Quang, đều nguyên là Phó Chủ tịch HĐQT Ngân hàng ACB và ông Lý Xuân Hải, nguyên Tổng Giám đốc Ngân hàng ACB cùng Trần Ngọc Thanh, Giám đốc Công ty cổ phần Đầu tư ACB Hà Nội; Nguyễn Thị Hải Yến, Kế toán trưởng Công ty cổ phần Đầu tư ACB Hà Nội.