Showing posts with label Kinh tế tự do. Show all posts
Showing posts with label Kinh tế tự do. Show all posts

January 15, 2014

Tội Ác của Tư Bản

Alan Phan
11 January 2014


Trước hết, đây hẳn là một đề tài khá quen thuộc với đa số dân Việt Nam; sau gần 70 năm trường kỳ huyên thuyên về những tội ác “đất không dung, trời không tha” của bọn giẫy chết. Tuy nhiên, trước khi đào sâu về các tội ác này, hãy xét lại cho kỹ những huyền thoại và thực tại.
Huyền thoại
Danh từ tư bản thường đi liền với thực dân và hình ảnh đầu tiên khi nói về tội ác là sự kiện những ông bà chủ da trắng từ Âu Châu qua xâm chiếm các nước nghèo đói lạc hậu ở Á, Phi…để thu nhặt khoáng sản tài nguyên đem về cho mẫu quốc, cũng như để bóc lột sức lao động của dân địa phương không khác gì chế độ nô lệ thời phong kiến. Khi gặp bất cứ sự chống đối nào, họ sẵn sàng đem quân đội công an ra đàn áp, giết hại…và sau đó, dùng vũ khí mềm như tôn giáo, văn hoá…để xoa dịu, bóp nặn tư tưởng.
Thành công nhất là đế chế Anh nơi mặt trời không bao giờ lặn; và tham tàn nhất là các anh chị Pháp, cũng tạo được nhiều khối thuộc địa khắp thế giới. Dù nhỏ hơn nhưng Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha, Hà Lan, Ý Đại Lợi…cũng kiếm được khá nhiều tài sản và chiến lợi phẩm. Nhật và Mỹ cũng tham gia cuộc chơi, nhưng đến muộn nên không tạo nhiều tiếng vang.
Hình ảnh này khá chính xác cho đến khoảng 1945, sau Thế Chiến thứ hai. Cuộc diện thế giới thay đổi mạnh mẽ thời đó, bắt buộc các quyền lực tư bàn phải đổi thay.
Thực tại
Khoảng 60 năm trở lại đây, phải nói những tội ác thiêu huỷ đời sống bình nhật của người dân thường xuất phát từ các lãnh tụ cùng mầu da, và bọn trắng đã chùi sạch tay chân dơ bẩn.
Phổ thông nhất là các cuộc thảm sát dựa trên khác biệt về triết lý chính trị. Sách vở Trung Quốc đầy dẫy những cuộc thảm sát dân vô tội từ phát xít Nhật hay các cường quốc da trắng. Một thống kê lịch sử ghi nhận con số hơn 1 triệu nạn nhân dân sự của bàn tay xâm lược Nhật. Tuy nhiên, không người Tàu nào đả động đến con số 60 triệu người dân bị Mao thanh trừng. Hay cuộc nội chiến giữa phe Quốc Dân Đảng và Cộng Sản đã khiến hơn 8 triệu người thiệt mạng. Chỉ riêng anh độc tài tí hon Pol Pot, theo gương Mao, giết hơn 1/3 dân số của xứ Kampuchia.
Hiện nay, Bắc Triều Tiên vẫn coi chuyện tử hình là án nhẹ…chỉ cần đóng phim khiêu dâm hay không hát bài ca tụng cha con ông Kim là đủ tội để ra pháp trường. Các nước Zimbabwe, Somalia, Rwanda, Central African Republic, Congo.. là nhũng ví dụ não lòng khác cho số phận con người sinh nhầm chỗ.
Ngoài ra, phải nói thêm là mầu da của các tay tư bản đã không còn thuần trắng. Các tỷ phú Á Rập và Nhật Bản, các đại gia mới nổi của Trung Quốc, Ấn Độ, Mỹ La Tinh…đang sánh vai cạnh tranh với giới tư bản Âu, Mỹ, Úc…về quyền lực và phần bánh ngọt.
Chiến tranh uỷ thác
Một cuốn sách tôi đọc cách đây 10 năm (quên mất tên) mô tả về âm mưu của các nhà tài phiệt Do Thái tái cấu trúc lại bàn cờ quyền lợi của thế giới sau khi trật tự cũ bị lung lay. (Nhóm này sau hoạt động chính thức dưới danh nghĩa Trilateral Commission). Dù rất chi tiết và thuyết phục, tài liệu được xếp hạng như tiểu thuyết vì khó ai có thể tìm ra chứng cớ. Theo sách, các lãnh tụ và tỷ phú của Âu Mỹ nhận thấy những áp đặt bằng vũ lực và kềm kẹp khối dân thuộc địa không những tốn kém, thiếu hiệu quả…mà còn có thể gây những phản ứng xã hội và chính trị tổn hại đến mục tiêu sau cùng: sự thâu tóm tài nguyên và tiền bạc của các giống dân bị trị. Họ sáng tạo ra một chiến lược mới: chiến tranh uỷ thác (proxy wars).
Cũng tương tự như “outsourcing” ngày nay: hãy để bọn lãnh đạo địa phương hưởng một phần quyền lợi nhỏ. Bù lại, chúng sẽ cai quản và thay thế mình trong việc tận thu lợi nhuận. Tay chân và tăm tiếng các nhà tài phiệt sẽ không bị ảnh hưởng xấu; họ có thể nằm dài hưởng thụ những trái ngọt từ các thiên đường lớn nhỏ mà họ đã xây dựng với đủ loại đồ chơi cũng như hệ thống an ninh.
Hơn nữa, những số tiền hay tài sản mà các đàn em địa phương thâu tóm rồi cũng “châu về hiệp phố”. Nhờ một hệ thống pháp trị dân chủ, tự do và minh bạch, tiền từ các nơi vẫn liên tục chạy về Âu Mỹ Úc để tìm nơi trú ẩn an toàn.
Sự chuyển giao tội ác cho các tay chân địa phương là một bước đi vô cùng thông minh mà tôi tin rằng Tôn Tử cũng phải vuốt râu khen bọn hậu thế.
Những tội ác thực sự
Có cả triệu sách vở, hồ sơ tham khảo, tài liệu nghiên cứu…về những tác hại của hệ thống tư bản gây nên trên đủ mọi lĩnh vực văn hoá, chính trị, xã hội, kinh tế của hầu như tất cả quốc gia. Bạn nào ưa thích đề tài này có thể bỏ ra hơn chục năm mà vẫn chưa nắm được phần ngọn. Bài này chỉ là một gợi ý về tư duy tổng thể, một góc nhìn nhỏ nhoi của một vấn đề thực ra quá lớn, bao trùm mọi vận hành của chúng ta. Tôi chỉ xin các bạn lưu tâm đến vài “tội ác” chính mà giới tài phiệt đã điều khiển, xây dựng và phải chịu trách nhiệm.
Văn Hoá
Dù khó có thể định lượng và hiện gây ra nhiều tranh cãi, ảnh hưởng lớn nhất của triết lý tư bản mới qua “proxy wars” cũng như “toàn cầu hoá – globalization” là sự phát triển đại trà của một nền văn hoá dựa trên tham vọng và quyền lợi cá nhân, chủ nghĩa cơ hội chụp giựt và thu tóm, không đếm xỉa gì đến những ích lợi hay nghĩa vụ công cộng. Văn hoá tạo nên những con kiến hùng hổ, chăm chú vào sự nghiệp, đồng tiền và hưởng thụ instant- ngay lập tức. Lớp người thuộc giới giàu có, khôn ngoan…càng ngày càng trở nên vô cảm và xây khắp nơi những bức tường cách ly để ngăn ngừa bệnh nghèo và người nghèo xâm nhập. Trên thể chế quyền lực, cụm từ “ái quốc” vẫn còn hấp dẫn, nhưng quan trọng hơn trong cán cân tổng thể, lợi nhuận của các công ty đa quốc là tối ưu tiên.
Ngày xưa, học thuyết xã hội của Mác Lê cố dành ảnh hưởng với chiêu bài “quốc tế cộng đồng”, nhưng sau mấy thập kỷ thử nghiệm tại các nước nhỏ, rồi Đông Âu và Trung Quốc, bộ máy chánh quyền bị lộ chân tướng bịp bợm và lừa đảo. Ngày nay, các nước cựu Cộng Sản như Liên Sô, Trung Quốc lại là các nước theo thuyết tư bản hăng hái nhất, với tất cả tính chất độc tài, man rợ, sơ khai.
Trong khi đó, những nước khai sáng chế độ tư bản đang gặp nhiều chống đối trong nội bộ và theo đúng đường lối dân chủ pháp trị, nhiều xã hội đã phải điều chỉnh lần hồi, nhanh nhất là Bắc Âu và chậm chạp hơn là Bắc Mỹ.
Môi Trường
Từ nền văn hóa này, chúng ta không lạ khi thấy một thiểu số nhân loại đang cố tình che giấu và quên đi những tác hại về môi trường sinh sống chung của thế giới. Nạn biến đổi khí hậu với sự rã băng nhanh chóng của vùng Nam Bắc Cực, sự tàn phá môi trường xanh còn sót lại của những khu rừng từ Brasil đến ASEAN, sự ô nhiễm tồi tệ của các giòng sông bên Trung Quốc, sự việc “mưa át xít’ tràn ngập Âu Mỹ cũng như Á Phi… là một đe doạ thường trực mà những người dân nghèo ngu dốt vẫn chưa suy ra.
Tất cả phát sinh từ căn tính tham lam của con người không bị xã hội cộng đồng kiềm chế, mà còn được khuyến khích hàng ngày hàng giờ qua các bộ máy tuyên truyền. Các mẩu chuyện tào lao về đại gia, về siêu sao chân dài, về “cướp, hiếp, giết” được đại đa số nhân loại từ dân trung lưu Âu Mỹ đến các bạn chân đất nghèo khổ ở Á, Phi…thu nhận làm món quà tinh thần vô cùng quý báu. Những ai nhàm chán thì có những gánh xiếc thời công nghệ số…các trận đá bóng, các giải thể thao, các màn nhạc hội…Tất cả khiến con người sau giờ làm việc không còn sức lực để suy ngẫm, thiền định hay lưu tâm đến những việc “không phải chuyện mình”.
Cố tình nhiễm độc
Cái tàn bạo tưởng là vô tình của hệ thống xã hội tư bản đẻ ra một tầng lớp quản lý chăm chú vào lợi nhuận cho các ông bà chủ (gọi là nhà đầu tư) đến nỗi họ quên mất những đạo lý tối thiểu của nhân cách. Ngoài những nhũng lạm tồn tại khắp nơi, khi thì kín đáo vì pháp trị, khi thì công khai nhờ luật rừng, qua hình thức kinh doanh dùng tiền người khác – OPM (dù là đầu tư của tư nhân hay lấy tiền thuế phí của công), sự chiếm đoạt và cướp giật trở thành một trò chơi nhiều giải thưởng.
Những thí dụ về sự cố tình nhiễm độc qua thực phẩm, dược phẩm, hoá chất, biến đổi gen… không chỉ giới hạn vào các anh chị kinh doanh nhỏ lẻ ở Trung Quốc mà còn là nguyên tắc làm việc và xây đế chế đa quốc đa lợi của cả ngàn đại gia Âu Mỹ từ mấy trăm năm qua.
Chỉ sau khi bị phơi bày về liên hệ giữa ung thư phổi họng và thuốc lá, các công ty Phillip Morris, BAT… mới ngừng là những cổ máy in tiền. Nhưng nếu bị chận ở các quốc gia phát triển, họ vẫn ào ạt tiến chiếm thị trường của các quốc gia mới nổi nhưng còn lạc hậu.
Bao nhiêu thập kỷ qua, Coca Cola và Pepsi biết rõ về tác hại khủng khiếp của sô đa chứa đường hoá học trên căn bệnh đái đường của bao nhiêu trẻ nhỏ. Nhưng họ chặn đứng mọi mưu toan can thiệp của các tổ chức xã hội bằng cách mua chuộc mọi chính trị gia sẵn sàng nhận đóng góp. Các công ty giải khát lớn nhỏ tại các quốc gia nghèo cũng học sát tấm gương để trở thành những blue chips của thị trướng chứng khoán, a la Coke and Pepsi models.
Mỡ hoá chất transfat đã được minh chứng là nguy hiểm cho tim mạch, nhưng đến nay, các công ty thực phẩm lớn như Nestle, Kraft… và cả McDonald, KFC… vẫn tìm đủ cách để tránh né ngăn chận những bộ luật đang được soạn thảo.
Về dược phẩm, sự cấu kết giữa các quan chức FDA, các bác sĩ cho toa và các nhà quản lý Pfizer, Novartis, Merck, Roche, AstraZeneca … để bán thuốc giá cao tối đa cho dân, vẫn là một đề tài đang bị điều tra và khảo sát bởi rất nhiều nhà khoa học và hoạt động xã hội.
Tóm lại, tôi không có ý định viết một cuốn sách ngàn trang về những thí dụ vô cùng đa dạng và nhơ nhớp của các công ty đa quốc. Nhưng bất cứ ai có thì giờ và động lực, các bạn sẽ không thiếu tài liệu tham khảo khắp thế giới.
Thay cho câu kết
Qua một đoạn văn ngắn của tư duy cá nhân về một triết thuyết có thể mô tả là vĩ đại (nói về tầm ảnh hưởng, không phải tốt xấu), tôi muốn xác định thêm hai điều về tư bản:
a.      Chúng ta đều là tư bản
Trong thực tại, dù mang bất cứ tên gọi hay tước hiệu gì, khi tham gia vào kinh doanh, đi làm cho chánh phủ hay tư nhân hay các tổ chức thiện nguyện, đầu tư, sử dụng ngân hàng và các hệ thống thương mại tài chính quốc tế, chúng ta đã trở thành một mắc xích của chế độ tư bản. Trừ những nhân vật phi thường đã thoát ra thế tục, về ở ẩn, sống tự lập không cần trao đổi mua bán (các vị lãnh đạo tôn giáo thường giao tiếp với thế tục nhiều hơn các bạn), những ai còn lại đều chấp nhận cuộc chơi của tư bản, dù thương hay ghét hay dửng dưng.
Ngay cả tại Bắc Triều Tiên, ngoài 1 thiểu số rất nhỏ đang lây lất chờ chết, một người dân khi nhận thực phẩm cứu trợ, sủ dụng các vật dụng từ thiên đường Trung Quốc…cũng đã và đang làm một con cờ trong trò chơi tư bản.
b.      Cái tự do của tư bản
Dù là một triết thuyết tràn khắp toàn cầu và gần như 100% nhân loại là tín đồ, tư bản không có kinh sách nào chánh thức, không có tổ chức, không có lãnh đạo, không có đảng phái, không có cả một bộ phận nào để ban phát thẻ hội viên. Bạn có muốn gia nhập hay đứng ngoài cuộc chơi là một lựa chọn đơn thuần cá nhân. Tuân theo quy luật (không viết ra rõ ràng) thì bạn có thể thâu ngắn con đường đến mục tiêu. Không thì cứ chậm rãi, không ai thúc hối, phê bình hay đòi bạn tự phê hết. Muốn học về tư bản thì phải tự đi tìm tài liệu, chỉ muốn nghe Lý Nhã Kỳ dậy về kinh doanh thì cứ tự nhiên.
Chính vì cái căn bản “tự do” này, nên tư bản tha hồ diễn biến hoà bình hay chiến tranh, tha hồ điều chỉnh, tái cấu trúc…kiểu lớn kiểu nhỏ, tuỳ người tham dự quyết định. Và đó cũng là lý do tư bản sẽ sống thêm vài thế kỷ nữa, mặc cho những khiếm khuyết luôn luôn tồn tại.
Nhưng cá nhân tôi thích nhất một điều về tư bản: không ai léo nhéo bên tai tôi suốt ngày về ưu việt, về đỉnh cao, về quyết liệt. Cứ làm đi rồi biết liền.

Alan Phan

May 26, 2013

Amartya Sen: Lương tâm của kinh tế


GS, Trần Hữu Dũng, 

Đa số người ngoài ngành (và cả nhiều người trong ngành) thường nghĩ đến kinh tế như một khoa học giúp hoạch định những chính sách để quản lý, để phát triển, để tăng trưởng, để bình ổn. Những người có thiên kiến này sẽ ngạc nhiên khi đọc Amartya Sen, nhà kinh tế gốc Ấn Độ, người được trao tặng giải Nobel Kinh tế năm 1998. Ông là người châu Á đầu tiên được Nobel về ngành này.
Tuy đã đến tuyệt đỉnh danh vọng, Sen được ngưỡng mộ không chỉ vì những phần thưởng cao quý, nhưng còn vì kiến thức đa diện và quảng bác của ông, và vì lương tri của ông đối với những vấn đề xã hội, không những của quê hương ông mà còn của cả những quốc gia đang phát triển. Được trọng vọng trong xã hội trí thức cao nhất ở phương Tây (ông giảng dạy ở Cambridge từ năm 1971, và cũng có nhiều năm ở Harvard), Sen không bao giờ ngưng ưu tư về phúc lợi của những người bần cùng. Là một nhà kinh tế với kỹ năng toán logic vào hạng thượng thừa, ông cũng thấm nhuần triết học, Tây lẫn Đông. Là người có những đóng góp nền tảng cho kinh tế học hiện đại, Sen cũng hoài nghi về nhiều mặt của thứ kinh tế học này.
Từ nhỏ, Sen đã chứng kiến cũng như trải nghiệm những tai họa khó tưởng tượng. Năm 1943, khi Sen vừa lên mười, Bengal (quê ông, một tỉnh vùng Đông Bắc Ấn Độ, nơi có mật độ dân số thuộc hạng cao nhất thế giới) bị một nạn đói khủng khiếp. Năm 19 tuổi, ông bị ung thư vòm miệng, và đã điều trị bằng xạ trị (rất thô sơ lúc ấy ở Ấn Độ) vô cùng đau đớn. (Hậu quả giai đoạn xạ trị này vẫn còn đến ngày nay: xương Sen bị dễ gãy, răng cỏ của ông đều hư). Như Sen kể lại sau này, chính sự đau đớn ấy đã cho ông mối đồng cảm sâu xa với những người cùng khổ. Ung thư làm ông cảm thấy bị ô nhiễm, loại ra ngoài xã hội, bất lực. Trước khi bị bệnh, những gì ông chứng kiến chung quanh đã làm ông kinh hoàng, nhưng dù sao vẫn là xảy ra cho “kẻ khác”. Chính ung thư của ông đã khiến Sen đồng cảm trọn đời với những người thấp cổ bé miệng, bị thiếu thốn, bệnh tật, đớn đau.
Nhưng cũng nhờ vượt qua được cơn bệnh hiểm nghèo ấy mà Sen đặt cho mình những mục tiêu mới. Trở lại trường, ông là một sinh viên ưu tú hàng đầu, đoạt tất cả mọi giải thưởng cao quý nhất, và được học bổng sang Đại học Cambridge danh giá tột bực nước Anh.
Những năm đầu trong sự nghiệp, vào thập kỷ 1960, Sen chuyên về kinh tế học phát triển và có nhiều đóng góp đáng kể vào tiến trình công nghiệp hóa của Ấn Độ. Quyển sách đầu tay của Sen (Sự chọn lựa kỹ thuật, 1960) chỉ trích thể chế kế hoạch của Ấn Độ lúc ấy. Ông nhấn mạnh rằng có những định luật kinh tế bất biến mà mọi quốc gia đều phải tuân theo. Không kế hoạch nào, dù khôn khéo đến đâu, có thể đi ngược những định luật ấy.
Nhưng sau đó thì Sen bắt đầu suy nghĩ về những vấn để căn bản hơn. Khi tìm hiểu về nạn đói ở Bengal (mà số người chết có thể đến 4 triệu), ông khám phá một điều bất ngờ: Nạn đói ấy không phải vì mùa màng thất bát như vẫn tưởng nhưng vì chế độ chuyên chế lúc ấy! Đúng là người ta chết vì không có thực phẩm, nhưng họ không có thực phẩm chẳng phải vì cả nước không đủ thực phẩm cho mọi người, nhưng vì họ thất nghiệp, không có tiền mua (thêm vào đó là tình trạng lạm phát). Điều hệ trọng nhất là họ không có cách gì kêu ca được vì không ai đại diện cho họ, mà báo chí cũng thiếu tự do, do đó nhà nước không bị một áp lực nào để lo cho những người cùng khổ, thấp cổ bé miệng, ấy. Sen kiểm chứng giả thuyết của mình tìm hiểu nguyên nhân nạn đói ở những nước khác, nhất là ở châu Phi, thì hầu hết cũng là vì xã hội thiếu dân chủ: thực phẩm không thiếu cho toàn xã hội, nhưng chính sự phân bố bất bình đẳng đã khiến hàng triệu người chết đói.
Sen là một trong những kinh tế gia tiên phong chỉ trích quan niệm phổ thông là có thể dùng GDP đầu người để đo lường phúc lợi xã hội. Sen viện dẫn những lý luận triết học từ Aristotle cổ xưa, qua Hayek, và Rawls hiện đại để khẳng định rằng thước đo của một “xã hội tốt” là tự do, chứ không phải là sự thịnh vượng vật chất. Chính xác hơn, sự phồn vinh vật chất chỉ là điều đáng mong muốn như một phương tiện thực hiện tự do cho con người (căn bản nhất là tự do khỏi đói khát, bệnh tật). Sen khẳng định: tự do vừa là mục tiêu tối hậu, vừa là cứu cánh để phát triển kinh tế. Theo ông, những mục tiêu mà các nhà kinh tế thường cho là tối hậu: tăng trưởng kinh tế, tiến bộ công nghệ, ngay cả hiện đại hóa, phải được đánh giá bởi mức độ đóng góp của chúng vào tự do của con người.
Từ đầu thập niên 1970, Sen quay sang một hướng nghiên cứu mới, về lý thuyết phúc lợi xã hội, một ngành trong kinh tế học cực kỳ trừu tượng và lý thuyết. Chính trong lĩnh vực này mà Sen để lại dấu ấn khó phai.
Đặc điểm của lý thuyết tổng quát về phúc lợi xã hội của Sen là sự kết hợp quan tâm truyền thống của kinh tế học đối với mức sống vật chất và quan tâm truyền thống của triết học đối với tự do cá nhân và sự công bằng.
Nên nhắc lại rằng vào hai thập kỷ 1930-1940, những người theo chủ nghĩa tự do (libertarian) ở phương Tây thường quan ngại rằng phương Tây sẽ bỏ những cam kết theo đuổi chủ nghĩa tự do chính trị để theo đuổi an toàn kinh tế. Kế thừa truyền thống này, Sen lo ngại rằng, ở thế hệ tiếp theo, Ấn Độ và các nước đang phát triển đã hy sinh dân chủ để có được tăng trưởng kinh tế. Từ những nhận xét ấy, Sen đặt ra câu hỏi thật căn bản: Làm sao để giải quyết những xung khắc giữa những hành động xã hội (social action), chẳng hạn như để phát triển kinh tế, và giá trị cá nhân (individual rights) mà những người theo chủ nghĩa tự do cho là độc tôn.
Sen nêu ra ba câu hỏi. Thứ nhất, chọn lựa của một xã hội có phản ảnh sự chọn lựa của những cá nhân trong xã hội ấy không? Thứ hai, quyền tự do cá nhân có thể dung hòa với phúc lợi kinh tế không? Và thứ ba, lấy gì để làm thước đo mức độ công bằng của một xã hội? Đây là những câu hỏi cực kỳ “hóc búa” chứ không dễ như nhiều người tưởng, nhất là khi lời giải đáp phải thỏa mãn một số định đề logic tối thiểu.
Vào đầu những năm 1960, khi Sen đi tìm giải đáp cho những câu hỏi ấy thì có hai luồng tư tưởng, dù khác nhau nhưng đều cho rằng sự xung khắc ấy không thể dung hòa được. Một trường phái, mà lãnh tụ là nhà kinh tế Friedrich Hayek, thì cho rằng không thể tin vào nhà nước, vì nhà nước sẽ bị một nhóm chuyên viên khuynh đảo, áp đặt ý muốn của họ lên ý muốn của những cá nhân khác trong xã hội. Bằng cách thay thế ý muốn của cá nhân bằng ý muốn của xã hội (như xác định bởi những chuyên viên này), nhà nước tước đoạt sự tự do cá nhân.
Luồng tư tưởng thứ hai đến từ một người khá bất ngờ, qua tác phẩm cực kỳ thời thượng của nhà kinh tế Kenneth Arrow (qua tác phẩm kinh điển “Chọn lựa xã hội và giá trị cá nhân”). Dùng những mệnh đề logic chặt chẽ, Arrow chứng minh (“định luật Arrow”) rằng không thể có một hệ thống bỏ phiếu nào có thể đưa đến một chọn lựa dân chủ. Viện dẫn “định luật Arrow”, nhiều người đã cho rằng đó là một lý do của chế độ độc tài.
Vì logic của Arrow không thể kiểm chứng bằng thực nghiệm, Sen phản biện Arrow trên chính đất chơi của Arrow: hoàn toàn trên phạm trù logic. Sen vạch ra rằng một trong những tiền đề của Arrow - rằng không thể so sánh phúc lợi của người này với người kia - là thiếu căn bản và không cần thiết, và nếu loại bỏ tiền đề này thì “định luật không thể” của Arrow trở thành “có thể”, nghĩa là qua bỏ phiếu, có thể tổng hợp những giá trị cá nhân thành một quyết định duy nhất của cộng đồng. Nói khác đi, có cách bỏ phiếu để đưa đến những quyết định được sự đồng thuận của toàn xã hội. Khám phá này của Sen đã mở đường cho những nhà kinh tế lý thuyết tìm kiếm những cách để thẩm định phúc lợi của con người tương thích với quyết định cộng đồng. Một trong những ứng dụng của nó là tìm cách đo lường sự nghèo khổ của con người trong xã hội.
Chính nhờ Sen mà các nhà kinh tế trở nên dè dặt hơn khi đánh đồng phúc lợi với GDP. Theo Sen, GDP không phản ảnh “cơ hội” kinh tế của con người, và chính số lượng cơ hội đó là đóng góp rất nhiều vào hạnh phúc của cá nhân, không kém gì số lượng của cải vật chất hiện có.
Nhiều học giả (như Eric Maskin, Nobel 2007) cho rằng tự do cá nhân và phúc lợi đôi khi xung khắc: muốn thêm cái này thì phải bớt cái kia. Sen bác bỏ ý kiến này. Theo ông, tự do là một cách để bảo vệ phúc lợi. Quyền được đọc bất cứ gì mà anh muốn (thay vì bị người khác bảo anh phải đọc cái gì), chẳng hạn, thường nâng cao thu nhập.
Chỉ trích chủ nghĩa vị lợi (utilitarianism) Sen lập luận rằng không thể lấy (tốc độ) tăng trưởng kinh tế để thẩm định lợi ích bởi nó không cho thấy những người thật sự thiếu thốn đang sung sướng hoặc khổ sở ra sao. Và cách đo dụng ích (utility) căn cứ trên sự ưa chuộng hiện tại của mỗi cá nhân cũng có thể đưa đến nhiều sai lầm vì người ta hay thích ứng nguyện vọng của mình tùy vào hoàn cảnh hiện có (chẳng hạn như một người nghèo có những ưa chuộng khác người giàu vì họ biết họ nghèo...).
Tuy coi trọng vấn đề dân chủ và tự do, Sen cũng nhìn nhận rằng phát triển kinh tế là một đòi hỏi cấp bách (và ông buồn rầu nhìn nhận rằng Ấn Độ đã thua kém Trung Quốc về mặt này). Cụ thể, vì coi trọng cả phát triển và dân chủ, Sen (và những nhà kinh tế tâm đắc với ông) tìm cách làm sao để phát triển mà không hy sinh dân chủ (như đang xảy ra ở nhiều nước). Sen cho rằng sự đánh đổi ấy (muốn thêm cái này thì phải bớt cái kia) là không thể chấp nhận được, bởi lẽ, theo ông, cả hai đều có giá trị tự tại.
Trong nhiều thập kỷ, tiếp cận của Sen đã bị chỉ trích bởi phe tả lẫn phe hữu. Vào những năm 1950, 1960, khi mà kế hoạch hóa kiểu Liên Xô là thời thượng trong giới kinh tế cánh tả thì Sen bị xem là người “phản đạo”. Nhưng sang những năm 1980, 1990 khi mà chủ nghĩa thị trường tự do (của phe hữu) lên ngôi thì chính chủ khảo giải Nobel đã tiên đoán: “Sen sẽ không bao giờ được Nobel”. Sen nhận Nobel năm 1998.
Chứng kiến sự sụp đổ của chính sách kế hoạch hóa kiểu Xô Viết cũ, Sen không còn tin là phát triển kinh tế cần đến ngoại viện, hoặc cần bảo hộ thương mại. Ông tin nhiều hơn vào vai trò của nội lực trong phát triển. Ông cổ vũ mở cửa cho thương mại và đầu tư nước ngoài, nhưng đồng thời nhà nước cũng phải trợ giúp thành phần có thu nhập thấp, nhất là về giáo dục, y tế và dinh dưỡng.
Trong quyển sách mới đây nhất của Sen (Ý niệm công lý, 2009), ông suy nghĩ thấu đáo về những khó khăn trong định nghĩa của “công lý” (theo Rawls, chẳng hạn, thì “công lý là công bằng”), và ông đưa ra định nghĩa của ông. Bàng bạc trong những lý luận logic của Sen là một tấm lòng luôn hướng về những người bần cùng, cô thế... Cũng như lúc trước ông đã dùng chính logic của Arrow để bác bỏ “định lý Arrow”, trong cuốn sách mới ra này Sen dùng chính tiếp cận triết học của Rawls để vạch ra những hạn chế của quan niệm về công lý mà Rawls khẳng định.
Ở Sen, ta thấy một trí thức (và Sen là một trí thức trong nghĩa tốt đẹp và chính xác nhất của danh hiệu này) mà cuộc sống bị tác động bởi con người, ông rất gần gũi với những âu lo căn bản nhất của con người (có gì căn bản hơn nhu cầu cơm ăn, áo mặc?), và ông tiếp cận vấn đề với cường độ trí thức cực kỳ trung thực và siêu việt. Sen là một “trí thức công” (public intellectual) đúng nghĩa, với những suy nghĩ cặn kẽ về nhiều vấn đề, ở nhiều lĩnh vực - từ kinh tế, xã hội, triết học, đến những tranh chấp chủng tộc, hạt nhân.
Nhiều người cho rằng Sen không phải là một nhà kinh tế “thường”, theo nghĩa là ông không tham gia vào những tranh luận về chính sách kinh tế, thậm chí khó nói là ông thuộc trường phái “tiền tệ” hoặc môn đồ của Keynes (tôi đoán là Keynes). Nhiều người khác chỉ trích Sen là ông ôm đồm quá nhiều: từ nạn đói đến nạn phụ nữ chết sớm, đến vấn đã đa văn hóa và sự lan tràn vũ khí hạt nhân. Những chỉ trích này cũng có phần đúng. Nhưng kinh tế học cần những người như Amartya Sen. Dù, hiển nhiên, ông không phải là nhà kinh tế duy nhất quan tâm đến số phận những người nghèo, cô thế... nhưng ông hơn hẳn những người khác ở chiều sâu suy nghĩ.
Robert Solow, một “trưởng lão” trong làng kinh tế đương đại (và cũng đã được Nobel) đã gọi Amartya Sen là “lương tâm của kinh tế”. Đó không chỉ là vinh dự cho Sen nhưng có lẽ, hơn nữa, là vinh dự cho mọi nhà kinh tế.

April 14, 2013

Thập kỷ mất mát: Ai lợi? Ai thiệt?


Thập kỷ mất mát: Ai lợi? Ai thiệt?



Nguyễn Văn Thạnh 

Hiện nay, trên diễn đàn, nhiều chuyên gia kinh tế lo ngại Việt Nam sẽ rơi vào thập kỷ mất mát. Vậy thập kỷ mất mát là gì? Nếu điều đó xảy ra thì ai lợi, ai thiệt? Xin chia sẻ góc nhìn cá nhân tôi, một người tự nghiên cứu về kinh tế. 
1. Tiền và hàng hóa: 
Trong nền kinh tế thị trường, tiền và hàng hóa như hai mặt của một đồng xu, có tiền bạn mua được hàng và có hàng thì bán được tiền. Mọi cá nhân tham gia hoạt động kinh tế cũng nhằm mục đích là có nhiều tiền. Tiền và hàng hóa liên kết với nhau qua hệ thống giá, khi hệ thống giá ổn định thì ta có mặt bằng giá. Dựa trên hệ thống giá này các chủ thể kinh tế có thể cung ứng cho thị trường sản phẩm và tính được hiệu quả kinh tế. Hiệu quả kinh tế làm cho tiền và hàng hóa giữ được tỷ lệ, tức là giữ được giá. Ví dụ tôi vay ngân hàng 100 triệu đi chăn nuôi gà, tôi làm ăn hiệu quả tức là tạo ra số gà tương ứng với số tiền (cả tiền lãi), và đồng tiền giữ giá.

2. Phá sản và lạm phát: 

Khi một chủ thể làm ăn ngoài vốn tự có, họ thường huy động tiền từ các chủ nợ (ngân hàng, hoặc chứng khoán), nếu làm ăn hiệu quả thì họ có tiền và chủ nợ cũng có đồng lãi. Nếu họ làm ăn không hiệu quả dẫn đến không thu đủ tiền để trả nợ thì họ buộc phải tuyên bố phá sản, lúc bấy giờ chủ thể kinh tế và chủ nợ chia nhau khoảng lỗ. Ví dụ vì một lý do nào đó-dịch bệnh chẳng hạn-gà chết sạch, tôi không bán được gà để thu tiền trả nợ, tôi phải tuyên bố phá sản. Lúc bấy giờ tôi và chủ nợ cùng mất vốn cho phi vụ làm ăn này. Lúc này hàng không có, tiền cũng không thêm nên tiền vẫn giữ giá. Kinh tế thị trường là lời ăn lỗ chịu, chủ nợ cũng phải chấp nhận cuộc chơi này. Chính điều này làm cho bên cho vay rất cẩn trọng trong việc cho người khác vay tiền làm ăn.

Trong trường hợp tôi là con quan chức cỡ bự - cậu ấm Vinashine chẳng hạn - tôi đến Ngân hàng vay 100 tỷ để nuôi gà. Tiền rút ra, tôi lại quả cho các vị ở đây 20 tỷ, ăn chơi xả láng 50 tỷ. Còn 30 tỷ tôi mua vài cái chuồng gà ộp ẹp của anh hàng xóm và vài trăm con gà rù về nuôi, cho ăn thất bát cho có việc để báo cáo. Đến hạn trả nợ tôi tuyên bố phá sản, ngân hàng tiếp quản, bán phát mãi chuồng gà tôi được 1 tỷ, mất vốn 99 tỷ. Lẽ ra theo nguyên lý thị thường những khách hàng cho tôi vay phải mất đứt khoản tiền này nhưng vì tôi là cậu ấm và chủ nợ không chấp nhận mất vốn nên được ông bố quyết định tái cơ cấu 99 tỷ đó thành trái phiếu trả dần trong 12 năm với lãi suất a%. Đây có thể gọi là cách khoanh nợ và đẩy nợ cho thế hệ tương lai trả dần. Xem cách làm đó tại đây và đây. 

Đó là khoản nợ ngân hàng tư nhân hoặc ngân hàng quốc tế, nếu tôi vay ngân hàng quốc doanh thì khỏe nữa. Ông bố tôi chỉ việc ký cái rẹt xóa nợ và lệnh cho NHNN tái cấp vốn cho khoản bị mất trên. Chẳng ai thiệt trong vụ này nên chắc chắn không ai lên tiếng phản đối, có thiệt là thiệt thằng dân nhưng dân là thằng rất mông lung. Nếu ai theo dõi kinh tế VN thì sẽ biết vở diễn khoanh nợ và xóa nợ xảy ra rất nhiều lần cho các cậu ấm giống tôi-doanh nghiệp quốc doanh. Trong trường hợp này một lượng tiền mới đưa vào lưu thông mà không có vật chất làm ra trong xã hội nên đồng tiền mất giá (đây là lí do vì sao vàng từ 500k/chỉ lên 4,5 triệu/chỉ, thịt từ 30k/ký lên 100k/ký). Lạm phát là thuế đánh trên toàn dân, mọi người chịu một ít. Ai có tiền nhiều mất nhiều, ai có ít mất ít. Công nhân viên chức thì tô cơm bị vơi mất đi một phần (vì sức mua giảm). 

3. Bong bóng và suy thoái: 

Hiện nay loại cậu ấm như tôi hoặc họ hàng của tôi rất nhiều, chúng tôi ùn ùn đến ngân hàng ký giấy vay, rút tiền ra ăn chia như trên (Ông Nguyễn Bá Thanh cũng đã chỉ ra chiêu này), lúc này món đầu tư không phải gà mà là nhà đất. Vài năm trước đây chúng tôi tạo ra vui vẻ cho cả xã hội, ai ai cũng có nhiều tiền. Một số lớn đã nhanh chóng chuyển đồng bạc VNĐ sang khoảng có giá trị thực hơn là vàng và đola để gửi ra nước ngoài. Bằng cách mua bán, thế chấp, vay mượn quay vòng như vậy chúng tôi đã cùng nhau đẩy giá nhà đất lên vài lần so với giá thực của nó nếu hoạt động đúng với hệ thống giá. Đây là tình trạng bong bóng giá tài sản. 

Cuộc vui nào cùng đến lúc tàn, và hiện giờ cuộc vui đã tàn. Kết quả của cuộc vui là khoảng nợ tầm 2 triệu tỷ trong đó khoảng 500.000 tỷ là khoản mất đứt như 99 tỷ trong phi vụ nuôi gà trên. Đúng theo nguyên lý thị trường chúng tôi phải giao lại cả vốn lẫn lãi cho ngân hàng như trường hợp những gì ông già Alan đã làm bên Mỹ năm 1987 khi thị trường bể bóng bất động sản, nhưng Việt Nam mình nó khác. Ở đất nước Việt Nam này, không ai khác, chỉ có chúng tôi là có súng (một đảng nắm quyền) và tất nhiên chúng tôi không thể tự bắn vào chân mình được. Hiện tại không một ai có đủ sức để buộc chúng tôi phải làm cái việc đau đớn đó.

Xin lỗi các bạn là chơi không fairplay “lời ăn lỗ chịu” nhưng vì tương lai mình và con cháu, chúng tôi buộc phải tiến hành theo hai cách trên, đó là đẩy nợ vào tương lai để mọi người cùng trả hoặc xóa nợ, bơm tiền tạo lạm phát để mọi người đưa vai vào gánh giúp chúng tôi. 

Khi nền kinh tế tạo bong bóng, những đối tượng hưởng lợi đã rút tiền đi mua sắm vàng, ngoại tệ. Nền kinh tế không chấp nhận phá sản để chủ nợ mất vốn thì sẽ tạo ra suy thoái. 

4. Thập kỷ mất mát: 

Tiến trình như phân tích trên, Việt Nam chắc chắn sẽ đi vào thập kỷ mất mát. Thập kỷ là thời gian cần có để làm cho bong bóng bất động sản xì hơi xẹp vừa phải, đủ để cả đất nước lao động tạo ra thặng dư của cải để trả món nợ hiện nay thay vì phải phá sản.

Trong 10 năm tới hàng triệu người Việt Nam lao động quần quật nhưng gần như chỉ đủ ăn, dù đồng lương danh nghĩa có thể tăng. Thặng dư thực chất của sức lao động đã bị bòn rút qua lạm phát hoặc qua thuế để trả các khoản nợ khổng lồ hiện nay. Đây là trường hợp may mắn kinh tế tăng trưởng để mọi người có cơ hội nai lưng ra cày trả khoản nợ chung. 

Trường hợp như vậy là rất hiếm vì quá trình xử lý bong bóng không qua phá sản, thường dưới sức mạnh của lợi ích phe nhóm sẽ làm cho nguồn tiền tiếp tục chảy vào nuôi các Zombie (xác chết) như Vinaline, Vinashine,… làm cho nền kinh tế suy thoái sâu hơn, làm thời gian trả nợ dài hơn có thể đến vài ba thập kỷ. Những nước lâm vào cảnh này được gọi là bẫy thu nhập trung bình tức là làm hoài mà không khá. 

Hiện nay tôi (tác giả) hơn 30 tuổi, nếu không gì xảy ra, trong 20 năm tiếp theo, tôi và hàng triệu người khác làm ra của cải để trả cho các món nợ khổng lồ mà các đại gia mới nổi vài năm gần đây có được nhà lầu xe hơi-gây ra. Lẽ ra, đúng nguyên tắc của trời đất (nguyên tắc thị trường) họ phải nghèo đi nhưng không, họ đã khôn khéo dựa vào quyền lực chính trị để chuyển các bill thanh toán cho chúng tôi trả trong 20 năm tới. Cuộc đời mình xem như phấn đấu làm lụng để trả nợ cho người khác. 

Còn gì bất công hơn điều này không? 

Qua phân tích trên, hẳn các bạn biết vì sao ở các xứ tự do, khi kinh tế khủng hoảng là phải thay chính phủ? 

Nguyễn Văn Thạnh 

P.s: Những người đấu tranh cho nền dân chủ VN cần phải tiếp cận vấn đề dưới góc độ kinh tế để mọi người, nhất là người trẻ thấy được quyền lợi và trách nhiệm trong công cuộc dân chủ hóa đất nước. Lớp trẻ sẽ không còn thờ ơ khi họ biết là mình làm quần quật để gánh nợ cho người khác đang vi vu du lịch với bồ nhí bên trời Tây.

April 12, 2013

Henry Hazlit – Lạm phát trên một trang giấy


Phạm Nguyên Trường dịch

1. Lạm phát là sự gia tăng số lượng tiền mặt và tín dụng. Hậu quả chính là giá cả tăng vọt. Vì vậy, lạm phát – nếu chúng ta sử dụng sai thuật ngữ để chỉ giá cả gia tăng – chỉ có một nguyên nhận duy nhất là in thêm tiền. Chính sách tiền tệ của chính phủ phải chịu hoàn toàn trách nhiệm về vấn đề này.

2. Lí do thường gặp nhất cho việc in thêm tiền là ngân sách mất cân đối. Ngân sách mất cân đối là do những khoản chi tiêu quá mức mà chính phủ không muốn hoặc không thể trả bằng cách tăng thuế. Những khoản chi tiêu quá mức lại thường là kết quả của những cố gắng của chính phủ nhằm tái phân phối tài sản hay thu nhập – nói ngắn, buộc những nghành sản xuất hiệu quả phải chu cấp cho những ngành kém hiệu quả. Điều đó sẽ làm giảm những biện pháp khuyến khích cả trong các ngành có hiệu quả lẫn những ngành thiếu hiệu quả.

3. Nguyên nhân của lạm phát, không phải là “nhiều và phức tạp”, như người ta thường nói, mà đơn giản chỉ vì in quá nhiều tiền. Không có cái gọi là “lạm phát do chi phí thúc đẩy (“cost-push” inflation). Nếu số lượng tiền mặt không gia tăng, khi lương và giá bị buộc phải đẩy lên, và các nhà sản xuất trang trải chi phí bằng cách tăng giá bán thì đa số sẽ bán được ít hàng hơn. Kết quả sẽ là đầu ra giảm và mất việc. Chi phí cao chỉ có thể song hành với giá bán cao, đấy là khi người tiêu dùng có nhiều tiền để trả.

4. Kiểm soát giá cả không chặn đứng hay giảm được tốc độ lạm phát. Kiểm soát giá cả chỉ có hại. Kiểm soát giá cả chỉ đơn giản là siết lại hay xóa sổ lợi nhuận, làm nhiễu loạn sản xuất và dẫn tới những nút thắt cổ chai và khan hiềm hàng hóa mà thôi. Tất cả việc kiểm soát giá cả và lương bổng chỉ là cố gắng của các nhà chính trị nhằm đẩy những lời phê phán về lạm phát sang phía những người sản xuất và bán hàng, thay vì nhắm vào chính sách tiền tệ của họ.

5. Lạm phát kéo dài không bao giờ “kích thích” được nền kinh tế. Ngược lại, nó làm mất cân đối, gây trở ngại và đưa ra những tín hiệu sai lầm cho cả sản xuất lẫn sử dụng lao động. Thất nghiệp chủ yếu là do lương trong một số ngành quá cao, dẫn đến những đòi hỏi quá quắt của công đoàn, do quy định về lương tối thiểu (làm cho thanh niên và người có tay nghề thấp không tìm được việc làm), và do bảo hiểm thất nghiệp cao và kéo dài.

6. Để tránh những thiệt hại không thể sửa chữa được, phải giữ ngân sách cân đối ngay từ đầu chứ không phải là trong tương lai. Ngân sách phải được cân đối bằng cách cắt bớt những khoản chi tiêu vô tội vạ chứ không phải bằng cách tăng gánh nặng thuế khóa, vốn đã gây khó khăn cho sản xuất và những biện pháp khuyến khích rồi.

Alan Greenspan - Vàng và tự do kinh tế

Phạm Nguyên Trường dịch

Lòng thù hận điên rồ đối với bản vị vàng là vấn đề liên kết tất cả những người quốc gia (dịch thoát ý từ statist – nghĩa là những người ủng hộ sự can thiệp của nhà nước – ND) thuộc mọi mầu sắc. Họ tưởng rằng mình hiểu – có thể còn hiểu rõ và tinh tế hơn nhiều người bảo vệ kiên cường chế độ laissez-faire nữa — rằng vàng và tự do kinh tế là không thể tách rời, rằng bản vị vàng là công cụ của laissez-faire và rằng cái nọ ngụ ý và đòi hỏi phải có cái kia.

Muốn hiểu nguồn gốc lòng hận thù của họ, trước hết cần phải hiểu vai trò đặc biệt của vàng trong xã hội tự do.
Tiền là mẫu số chung của tất cả các giao dịch kinh tế. Nó là loại hàng hóa đóng vai trò trung gian trong trao đổi, được tất cả những người tham gia trong nền kinh tế hàng hóa coi là phương tiện thanh toán cho món hàng hay dịch vụ của họ, và vì vậy mà được dùng làm tiêu chuẩn của giá thị trường và là của để dành, nghĩa là phương tiện tiết kiệm.

Sự tồn tại của loại hàng hóa đó là điều kiện tiên quyết của quá trình phân công lao động. Nếu con người không có loại hàng hóa có giá trị khách quan, được mọi người chấp nhận, thì họ sẽ buộc phải sử dụng cách trao đổi hàng đổi hàng thô sơ hay buộc phải sống trong những trang trại tự cấp tự túc và không được hưởng những ưu việt của chuyên môn hóa. Nếu con người không thể tiết kiệm được thì họ cũng không thể lập kế hoạch dài hạn hay trao đổi được với nhau.

Phương tiện trao đổi được mọi người trong nền kinh tế chấp nhận không phải là thứ được quyết định một cách tùy tiện. Thứ nhất, phương tiện trao đổi phải lâu bền. Trong xã hội nguyên thủy nghèo nàn, lúa mì có thể đủ bền để dùng làm phương tiện trao đổi, vì tất cả các thương vụ đều diễn ra trong hoặc ngay sau mùa thu hoạch, người ta chẳng có tí giá trị thặng dư nào để có thể giữ lại hết. Nhưng khi xã hội đã giàu lên, đã văn minh hơn thì việc lưu trữ những thứ có giá trị trở thành vấn đề quan trọng, phương tiện trao đổi phải là món hàng lâu bền hơn, thường là kim loại. Kim loại được mọi người chấp nhận vì nó thuần nhất và có thể chia nhỏ được: đơn vị nào cũng giống nhau, nó còn có thể pha trộn với kim loại khác và đúc thành những thỏi với trọng lượng tùy ý. Lấy thí dụ, đá quý vừa không đồng nhất, vừa không chia nhỏ ra được. Quan trọng hơn, món hàng được chọn làm phương tiện trao đổi phải là thứ xa xỉ phẩm. Ước muốn có những món hàng xa xỉ phẩm là vô cùng vô tận và vì vậy mà các món hàng xa xỉ phẩm bao giờ cũng khan hiếm và bao giờ cũng được chấp nhận. Lúc mì là món hàng xa xỉ phẩm trong những nền văn minh còn đói ăn, nhưng trong xã hội thịnh vượng thì không còn là xa xỉ phẩm nữa. Thuốc lá không thể được dùng như tiền, nhưng ở châu Âu sau Thế chiến II, nó đã có vai trò như thế vì được coi là xa xỉ phẩm. Thuật ngữ “xa xỉ phẩm” hàm ý của hiếm và mỗi đơn vị đều có giá trị cao. Mỗi đơn vị đều có giá trị cao nghĩa là món hàng đó dễ vận chuyển, thí dụ một ounce vàng có giá trị tương đương với 500 cân gang.

Trong những giai đoạn đầu của nền kinh tế tiền tệ đang phát triển, một vài phương tiện trao đổi có thể đã được sử dụng, vì nhiều loại hàng hóa có thể đáp ứng được những điều kiện đã nói bên trên. Nhưng một món hàng sẽ thay thế dần những món hàng khác vì được nhiều người chấp nhận hơn. Việc người ta thích giữ vật gì làm của để dành sẽ biến nó thành món hàng được nhiều người chấp nhận hơn, và đến lượt mình, điều này lại làm cho nó càng được nhiều người hơn nữa chấp nhận. Sự thay đổi càng gia tăng cho đến khi món hàng đó trở thành phương tiện trao đổi duy nhất. Việc sử dụng một phương tiện duy nhất có ưu việt cực kì lớn, lí do thì cũng như những lí do làm cho nền kinh tế tiền tệ ưu việt hơn nền kinh tế hàng đổi hàng: nó làm cho việc trao đổi khả thi trên quy mô lớn hơn rất nhiều.

Phụ thuộc vào bối cảnh và trình độ phát triển của nền kinh tế mà người ta chọn vàng, bạc, vỏ sò, gia súc hay là thuốc lá làm phương tiện trao đổi duy nhất. Trên thực tế, trong những giai đoạn khác nhau, tất cả những thứ đó đều đã từng được sử dụng làm phương tiện trao đổi. Thậm chí ngay trong thế kỉ hiện nay hai món hàng chính là vàng và bạc đều đã và đang được sử dụng làm phương tiện trao đổi trên bình diện quốc tế, và vàng càng ngày càng giữ thế thượng phong. Vàng, do dễ chế tác và thiết thực, lại cũng tương đối hiếm cho nên có ưu việt hơn hẳn tất cả những phương tiện trao đổi khác. Kể từ đầu Thế chiến I, vàng hầu như đã trở thành tiêu chuẩn trao đổi quốc tế duy nhất. Nếu tất cả các món hàng hóa và dịch vụ đều được thanh toán bằng vàng thì nhiều khoản thanh toán sẽ khó thực hiện và điều đó sẽ hạn chế khả năng phân công lao động và chuyên môn hóa. Vì vậy, sự mở rộng hợp lí của quá trình tạo dựng phương tiện trao đổi là sự phát triển hệ thống ngân hàng và những công cụ tín dụng (tiền giấy và tiền gửi), có tác dụng như là vật thay thế cho vàng và có thể chuyển đổi thành vàng. 

Hệ thống ngân hàng tự chủ dựa trên và có thể mở rộng hoạt động tín dụng và bằng cách đó tạo ra tiền giấy và tiền gửi, phù hợp với nhu cầu sản xuất của nền kinh tế. Những người có vàng được người ta khuyên – bằng cách trả tiền lời – gửi vàng vào ngân hàng (họ có thể được nhận hóa đơn). Vì ít khi tất cả những người gửi vàng đều muốn rút cùng một lúc tất cả số vàng của họ cho nên người chủ ngân hàng chỉ cần giữ một phần số vàng trong kho mà thôi. Điều đó tạo điều kiện cho ngân hàng cho vay số vàng nhiều hơn tài khoản bằng vàng của ông ta. Nhưng số tiền ông ta có thể cho vay cũng không phải là tùy tiện: ông ta phải đánh giá nó trong quan hệ với lượng dữ trữ và tình trạng đầu tư của chính mình.

Khi ngân hàng cho vay tiền để đầu tư vào những hoạt động có hiệu quả và sinh lời thì khoản tiền vay được hoàn trả một cách nhanh chóng và tín dụng của ngân hàng tiếp tục phát triển. Nhưng khi các doanh nghiệp được ngân hàng cho vay không có lãi nhiều hoặc trả chậm thì các ngân hàng sẽ nhanh chóng nhận ra rằng các khoản cho vay của họ là lớn so với số vàng dự trữ và họ bắt đầu cắt giảm những khoản vay mới, bằng cách áp dụng lãi suất cao hơn. Điều đó sẽ dẫn đến việc hạn chế những khoản tài trợ cho các dự án mới và buộc những người đang nợ phải cải thiện hoạt động của họ sao cho có lời hơn, trước khi được vay những khoản mới để mở rộng hoạt động. Như vậy là, sử dụng chế độ bản vị vàng, hệ thống ngân hàng tự chủ chính là người bảo vệ cho sự ổn định và sự phát triển cân bằng của nền kinh tế. Khi vàng được đa số hay tất cả các quốc gia chấp nhận như là phương tiện trao đổi thì bản vị vàng trên bình diện quốc tế sẽ thúc đẩy việc phân công lao động trên bình diện toàn cầu và nền thương mại quốc tế rộng rãi nhất. Thậm chí ngay cả những đơn vị trao đổi (dollar, bảng Anh, franc Pháp…) khác nhau ở từng nước, nhưng khi tất cả đều được được xác định bằng vàng thì nền kinh tế của các nước khác nhau sẽ hoạt động như một tổng thể - đấy là nói khi không có những rào cản thương mại hay ngăn cản việc luân chuyển vốn. Tín dụng, lãi suất và giá cả trong tất cả các nước sẽ có xu hướng đi theo cùng một khuôn mẫu. Thí dụ, nếu các ngân hàng trong một nước nào đó mở rộng tín dụng một cách quá tùy tiện thì lãi suất trong nước đó sẽ giảm, làm cho những người gửi vàng ở đó chuyển vàng của họ sang những nước có lãi suất cao hơn. Điều đó lập tức làm cho dự trữ vàng trong nước “dễ vay tiền” giảm đi, buộc họ phải thắt chặt điều kiện cho vay và trở lại với lãi suất vay cao hơn.

Chưa bao giờ có hệ thống ngân hàng hoàn toàn tự chủ và bản vị vàng hoàn toàn nhất quán. Nhưng trước Thế chiến I, hệ thống ngân hàng ở Mĩ (và tại phần lớn các nước trên thế giới) đã dựa trên vàng và thậm chí đôi khi có bị các chính phủ can thiệp thì nghiệp vụ ngân hàng vẫn tự chủ hơn là bị kiểm soát. Theo chu kì, kết quả của việc tăng trưởng tín dụng quá nhanh, các ngân hàng cho vay sát với giới hạn dự trữ vàng của họ, lãi suất tăng lên nhanh chóng, những khoản tín dụng mới bị cắt và nền kinh tế lâm vào tình trạng suy thoái đột ngột, nhưng chóng qua. (So với suy thoái giai đoạn 1929-1933 thì suy thoái thời trước Thế chiến I tương đối nhẹ nhàng). Chính dự trữ vàng có giới hạn đã ngăn chặn sự bành trướng một cách thái quá hoạt động kinh doanh, trước khi nó có thể biến thành thảm họa thời hậu Thế chiến I. Những giai đoạn điều chỉnh trong thời gian này đều ngắn và các nền kinh tế nhanh chóng thiết lập được nền tảng vững chắc để lại tiếp tục mở rộng hoạt động.

Nhưng cả việc chẩn đoán lẫn đơn thuốc đều sai: nếu suy thoái là do ngân hàng thiếu dự trữ - những người muốn can thiệp vào kinh tế khẳng định – thì tại sao lại không tìm cách cung cấp thêm dự trữ cho các ngân hàng để họ không bao giờ bị thiếu nữa! Nếu ngân hàng tiếp tục cho vay một cách không hạn chế - họ tuyên bố - thì sẽ không bao giờ còn có hiện tượng đình trệ trong kinh tế nữa. Và vì vậy mà hệ thống Ngân hàng dự trữ liên bang (Federal Reserve System) đã được thành lập vào năm 1913. Hệ thống này bao gồm 12 ngân hàng liên bang trong các khu vực, về danh nghĩa đây là các ngân hàng tư nhân, nhưng trên thực tế lại được nhà nước đỡ đầu, kiểm soát và ủng hộ. Các khoản tín dụng vượt mức do các ngân hàng này đưa ra trên thực thế là do quyền đánh thuế của chính phủ liên bang chống lưng (tuy bất hợp pháp). Về mặt kĩ thuật, chúng ta vẫn dựa vào bản vị vàng, các cá nhân được tự do sở hữu vàng, và vàng tiếp tục được sử dụng làm dự trữ của ngân hàng. Nhưng bây giờ, ngoài vàng, các khoản tín dụng vượt mức do các ngân hàng dự trữ liên bang đưa ra (dự trữ bằng tiền giấy) có thể dùng như là tiền tệ chính thức để trả cho người gửi.

Khi hoạt động kinh doanh ở Mĩ trải qua thời kì suy thoái nhẹ vào năm 1927, Ngân hàng dự trữ liên bang đã tạo ra khoản dự trữ tiền giấy lớn hơn với hi vọng là có thể chặn đứng từ trước bất kì sự thiếu hụt dự trữ ngân hàng nào. Nhưng, cố gắng của ngân hàng dự trữ liên bang trong việc trợ giúp Anh – nước này bị mất vàng vào tay chúng ta vì ngân hàng Anh quốc không chịu nâng lãi suất (không được ủng hộ về mặt chính trị) trong khi các lực lượng thị trường đòi hỏi như thế – đã gây ra thảm họa lớn hơn. Các chính phủ liên quan lập luận như sau: Nếu ngân hàng dự trữ liên bang bơm thêm dự trữ tiền giấy vào các ngân hàng Mĩ thì lãi suất ở Mĩ sẽ giảm xuống ngang với lãi suất ở Anh, điều đó sẽ chặn đứng cơn chảy máu vàng của Anh và tránh được tình trạng bối rối về mặt chính trị vì phải tăng lãi suất. Ngân hàng dự trữ liên bang đã thành công, nó đã chặn đứng được nạn chảy máu vàng; nhưng trong quá trình đó nó đã suýt làm sụp đổ các nền kinh tế trên thế giới. Khoản tín dụng thừa mứa mà Ngân hàng dự trữ liên bang bơm vào nền kinh tế đã tràn vào thị trường chứng khoán, gây ra vụ bùng nổ đầu cơ không ai có thể tưởng tượng nổi. Các quan chức của ngân hàng cố gắng hút bớt dự trữ dư thừa và cuối cùng đã hãm phanh được vụ bùng nổ. Nhưng đã quá muộn: sự mất cân bằng mang tính đầu cơ đã lớn đến mức cố gắng đó đã tạo ra sự cắt giảm chi tiêu một cách đột ngột và hậu quả là làm mất sự tự tin của giới kinh doanh. Kết quả là nền kinh tế Mĩ sụp đổ. Nước Anh còn tệ hơn, và thay vì tiếp thu toàn bộ hậu quả của chính sách sai lầm trước đây thì nước này lại bãi bỏ hoàn toàn bản vị vàng vào năm 1931, xé nát những gì còn sót lại của niềm tin và làm cho hàng loạt ngân hàng trên thế giới bị phá sản. Các nền kinh tế trên thế giới rơi vào cuộc Đại khủng hoảng trong những năm 1930.

Nhớ lại thế hệ trước, những người quốc gia khẳng định rằng cần phải lên án bản vị vàng vì đã gây ra vụ sụp đổ tín dụng, dẫn đến cuộc Đại khủng hoảng. Nếu không có bản vị vàng thì việc Anh không thanh toán vàng trong năm 1931 đã không làm các ngân hàng trên toàn thế giới phá sản, họ khẳng định như thế. (Nực cười là từ năm 1913 chúng ta đã không dùng bản vị vàng mà dùng cái có thể gọi là “bản vị vàng hỗn hợp”; như vậy là vàng không đáng bị lên án). Nhưng chống đối việc sử dụng bản vị vàng dưới bất cứ hình thức nào – từ những người ủng hộ nhà nước phúc lợi với số lượng ngày càng gia tăng – được thúc đẩy bởi nhận thức tinh tế hơn nhiều: bản vị vàng không tương thích với mức thâm hụt ngân sách kinh niên (dấu hiệu của nhà nước phúc lợi). Tước bỏ những thuật ngữ khó hiểu có tính lí thuyết suông của họ thì nhà nước phúc lợi chính là cơ chế mà nhà nước dùng nhằm tịch thu tài sản của những người có năng suất cao trong xã hội để tài trợ cho những kế hoạch phúc lợi cực kì khác nhau. Cách tịch thu hiệu quả nhất là thuế. Nhưng những người ủng hộ nhà nước phúc lợi nhanh chóng nhận ra rằng nếu họ muốn giữ được quyền lực chính trị thì thuế phải có giới hạn và họ phải quay sang với những chương trình chi tiêu với thâm hụt lớn, nghĩa là vay tiền bằng cách tung ra trái phiếu chính phủ nhằm tài trợ cho những khoản trợ cấp trên quy mô lớn.

Trong chế độ bản vị vàng, những khoản tín dụng mà nền kinh tế có thể chu cấp được xác định bởi số lượng tài sản hữu hình của nền kinh tế, vì mọi phương tiện tín dụng cuối cùng đều phải dựa trên một tài sản hữu hình nào đó. Nhưng trái phiếu chính phủ thì không dựa vào tài sản hữu hình nào hết, đấy chỉ là lời hứa của chính phủ là sẽ trả bằng những khoản thuế thu được trong tương lai mà thôi, và không được thị trường tài chính hấp thu một cách dễ dàng. Số lượng lớn trái phiếu chính phủ chỉ có thể được bán ra cho công chúng với điều kiện là lãi suất càng ngày càng gia tăng. Vì vậy mà, với chế độ bản vị vàng, những khoản chi tiêu thâm hụt của chính phủ sẽ cực kì bị hạn chế. Việc từ bỏ bản vị vàng đã tạo điều kiện cho những người ủng hộ nhà nước phúc lợi sử dụng hệ thống ngân hàng như là phương tiện gia tăng tín dụng một cách vô giới hạn. Họ tạo ra những khoản dự trữ bằng tiền giấy dưới dạng các trái phiếu của chính phủ - và thông qua một loạt bước đi phức tạp – các ngân hàng sẽ chấp nhận như thể đấy là tài sản hữu hình và xử lí chúng như những khoản tiền gửi thực, nghĩa là tương đương với những khoản gửi bằng vàng trước đây. Người giữ trái phiếu chính phủ hay những khoản tiền gửi vào ngân hàng - do dự trữ tiền giấy tạo ra – tin rằng mình có quyền đòi tài sản có thực. Không ai có thể điều khiển được luật cung cầu. Khi cung tiền tăng lên một cách tương đối so với cung tài sản hữu hình trong nền kinh tế thì giá chắc chắn sẽ tăng. Như vậy là, những khoản thu nhập do những người có năng suất cao trong xã hội tiết kiệm được sẽ bị mất giá. Khi sổ sách kế toán của nền kinh tế cuối cùng được làm cho cân đối thì người ta mới phát hiện ra rằng sự mất giá đó chính là số hàng hóa mà chính phủ đã mua cho mục tiêu phúc lợi hay những mục tiêu khác, bằng số tiền thu được từ trái phiếu chính phủ, được tài trợ bằng những khoản mở rộng tín dụng của các ngân hàng.

Không dùng bản vị vàng thì không có cách nào có thể bảo vệ được những khoản tiết kiệm khỏi bị lạm phát cướp bóc. Không thể giữ được giá trị. Nếu có thì chính phủ cũng làm cho nó trở thành bất hợp pháp, như họ đã làm với vàng. Thí dụ, nếu mọi người đều quyết định chuyển tất cả các khoản tiền gửi của họ trong ngân hàng thành bạc, đồng hay bất kì món hàng hóa nào khác và sau đó không chấp nhận séc khi mua bán nữa thì các khoản tiền gửi trong ngân hàng sẽ mất sức mua và những khoản tín dụng do chính phủ tạo ra trong ngân hàng sẽ không còn giá trị mua hàng nữa. Chính sách tài chính của chính phủ phúc lợi đòi hỏi rằng những người có tài sản không thể nào bảo vệ được mình.

Đấy chính là bí mật đáng khinh của những lời chỉ trích bản vị vàng của những người ủng hộ nhà nước phúc lợi. Thâm hụt ngân sách đơn giản chỉ là cách cướp bóc tài sản mà thôi. Vàng là vật cản, chống lại quá trình quỷ quyệt đó. Nó là người bảo vệ cho quyền sở hữu tài sản. Hiểu được điều đó là hiểu được lòng thù hận bản vị vàng của những người quốc gia.


Nguồn: http://constitution.org/mon/greenspan_gold.htm