Showing posts with label Vĩ nhân. Show all posts
Showing posts with label Vĩ nhân. Show all posts

November 16, 2013

Thời bình của Võ Nguyên Giáp và Trần Hưng Đạo


Trần Văn Thọ
GS Đại học Waseda, Nhật Bản


                  … năm 2007, ông đề nghị không được phá hội trường Ba Đình để xây nhà Quốc Hội
                  … năm 2008 ông can ngăn việc mở rộng Hà Nội
                  … năm 2009 ông viết liên tiếp ba bản kiến nghị can ngăn việc khai thác bô-xit ở Tây Nguyên
                  … ông đã có ý tưởng nên lấy lại tên thủ đô là Thăng Long nhân dịp kỷ niệm 1000 năm

Nhân dịp Đại tướng Võ Nguyên Giáp tròn 100 tuổi (tháng 8 năm 2011), Hội Lịch sử Việt Nam (Chủ tịch là Giáo sư Phan Huy Lê) đã tôn vinh ông là một anh hùng dân tộc. Trong dịp sinh nhật năm nay (25/8/2013) của Đại tướng, cũng Hội Lịch sử Việt Nam đã xếp ông là một trong bốn vị danh tướng tiêu biểu nhất của lịch sử nước nhà (cùng với Lý Thường Kiệt, Trần Hưng Đạo và Nguyễn Huệ). Với tầm vóc và ảnh hưởng của Đại tướng Võ Nguyên Giáp, với sự ngưỡng mộ của các tầng lớp dân chúng, có lẽ nhiều người đồng tình với đánh giá của Hội Lịch sử Việt Nam.
Trong 4 vị tướng kiệt xuất ấy, hai người sống lâu trong thời bình là Trần Hưng Đạo và Võ Nguyên Giáp. Trần Hưng Đạo sinh năm 1228 (?) mất năm 1300. Sống 72 tuổi vào thời đó được xem là rất thọ, có thể nói tương đượng với 102 tuổi tròn của Võ Nguyên Giáp thời nay. Trong những ngày nhân dân đang để tang Đại tướng Võ Nguyên Giáp, tự nhiên tôi nghĩ đến những ý kiến của ông đối với đất nước trong thời bình, nhất là những năm cuối đời, và liên tưởng đến những ngày cuối đời của Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn.
Cả ba lần dân tộc Việt Nam chiến thắng giặc Nguyên Mông đều do Trần Hưng Đạo chỉ huy. Sau lần thứ ba (1288), quân Nguyên đã chấm dứt dã tâm thôn tính nước ta. Việt Nam bước vào giai đoạn hòa bình, lại được sống dưới thời của các bậc anh quân Trần Nhân Tông (trị vì từ 1278 đến 1293) và Trần Anh Tông (trị vì từ 1293 đến 1314). Trong hoàn cảnh thuận lợi đó, Trần Hưng Đạo đã yên tâm vui thú điền viên, ngao du sơn thủy. Nhưng vào những ngày cuối đời của ông, một câu chuyện gây xúc động và trở thành một điểm son chói lọi trong lịch sử Việt Nam là sự kiện vua Trần Anh Tông đến nhà thăm và hỏi ý kiến về kế sách giữ nước nếu quân Tầu sang xâm lăng lần nữa. Câu trả lời của Trần Hưng Đạo có giá trị muôn đời: “Thời bình phải khoan thư sức dân để làm kế sâu gốc bền rễ, đó là thượng sách giữ nước”. Và hình ảnh vị vua trẻ đến gặp lão quốc công để thổ lộ những lo âu về vận nước và mong được chỉ bảo thật đẹp làm sao!
Thời bình của Võ Nguyên Giáp bắt đầu từ năm nào? Tùy theo cách nhìn mà có câu trả lời khác nhau nhưng điểm này không quan trọng. Quan trọng là trong thời gian cuối đời ông đã sống như thế nào. Ai cũng biết là ông đã luôn quan tâm, lo lắng đến vấn đề bảo vệ và phát triển đất nước. Những vấn đề ông thấy rõ thì viết thư trực tiếp đến các cấp lãnh đạo. Chẳng hạn, năm 2009 ông viết liên tiếp ba bản kiến nghị can ngăn việc khai thác bô-xit ở Tây Nguyên vì thấy sẽ ảnh hưởng đến an ninh quốc gia, đến môi trường; năm 2008 ông can ngăn việc mở rộng Hà Nội vì thấy việc sáp nhập cả tỉnh Hà Tây và mấy xã thuộc tỉnh Hòa Bình vào Hà Nội là khiên cưỡng và khả năng hiện nay chưa thể quản lý, phát triển một đô thị quá lớn; năm 2007, ông đề nghị không được phá hội trường Ba Đình để xây nhà Quốc Hội vì muốn giữ lại những di tích đã để lại dấu ấn trọng lịch sử. Ông cũng bức xúc về giáo dục nên đã gợi ý (năm 2004) cho Giáo sư Hoàng Tụy tổ chức seminar lấy ý kiến các chuyên gia nhằm đưa ra đề án cải cách. Những vấn đề ông quan tâm nhưng chưa hiểu thấu đáo thì ông yêu cầu các chuyên gia có thẩm quyền nghiên cứu. Chẳng hạn khi chính phủ bắt đầu bàn luận kế hoạch xây dựng nhà máy điện hạt nhân, ông đã đề nghị gặp Thủ tướng Phan Văn Khải và Thủ tướng đã chủ động đến nhà ông trao đổi ý kiến với sự tham dự của nhà vật lý hàng đầu về hạt nhân. Tôi cũng được biết ông đã có ý tưởng nên lấy lại tên thủ đô là Thăng Long nhân dịp kỷ niệm 1000 năm vì Thăng Long nói lên khí thế vươn lên của đất nước, nhưng ông không nắm chắc những vấn đề liên hệ khi thay đổi tên thủ đô nên năm 2008 đã có thư gửi Hội Lịch sử Việt Nam đề nghị nghiên cứu vấn đề này.
Rất tiếc nhiều ý kiến tâm huyết vì sự trường tồn và phát triển đất nước của ông đã không được lắng nghe. Trong những năm cuối đời, vào dịp sinh nhật Đại tướng Võ Nguyên Giáp, các lãnh đạo tối cao của nhà nước và Đảng Cộng sản Việt Nam đều đến thăm ông, biểu lộ sự kính trọng đối với ông. Nhưng tôi không biết trong đó có những vị nào, ngoài lòng kính trọng vị đại công thần của đất nước, đã thổ lộ với lão tướng những băn khoăn về đất nước và mong được chỉ dẫn, như Trần Anh Tông đã làm đối với Trần Hưng Đạo?
Từ xưa các vị tướng tài am hiểu lịch sử đều biết rằng võ công chiếm được thành trì là khó nhưng không khó bằng giữ được thành. Muốn giữ thành lâu dài thì phải an dân, phải đức trị, và luôn nâng cao đời sống của dân trong thành mới thu phục lòng dân. Ngày nay cũng vậy, thời bình phải lo xây dựng đất nước, phải khoan thư sức dân, phải trọng dụng nhân tài mới giữ được nước. Nhất là trong thời đại dân chủ tiến bộ ngày nay, những phương châm giữ nước của người xưa đã được hiện đại hóa thành sứ mệnh “của dân, do dân và vì dân”. Sứ mệnh này phải được thực thi triệt để thì mới có thể bảo vệ độc lập và phát triển đất nước, xứng đáng với những lời nhắn gửi và lòng mong đợi của Đại tướng Võ Nguyên Giáp trước khi đi vào cõi vĩnh hằng./.
Tokyo, 8/10/2013

October 17, 2013

Tuyên truyền 1 chiều chỉ làm hại

toithichdoc blog's

Nhân tướng Giáp vừa tạ thế: Tuyên truyền một chiều chỉ làm hại …
Cố Tổng Bí thư Lê Duẩn
Vì sao tướng Giáp bị trù dập? Đây là câu hỏi suốt nhiều năm được dấu kín khiến bao nhiêu người cố tìm hiểu mà hầu như không có câu trả lời. Mấy hôm trước, tình cờ tôi gặp lại một cán bộ cao cấp, về hưu. Thuộc lớp đàn em lại từng được tiếp xúc khi ông còn đương chức, anh em gặp lại, rất vui, rủ nhau ra Đảo gió uống mấy li. Có hơi men, câu chuyện thêm đậm đà. Ông nhìn tôi chăm chú dường như có điều gì muốn thổ lộ, ít giây sau, nói : Mấy hôm nay báo “các lề” tung hô tướng Giáp dữ quá, đám viếng, tang chỉ thua kém cụ Hồ chút ít!
Tôi chưa kịp “phụ họa”, ông anh khà (sau khi nhấp ngụm), tiếp: Cậu có hiểu vì sao tướng Giáp bị hai ông Lê Duẩn – Lê Đức Thọ làm cho sống dở chết dở, không?



Thấy đây là cơ hội tìm hiểu chuyện thâm cung bí sử của chốn cung đình, tôi hăng hái lên tiếng ngay: Em làm sao mà biết được. Chả cứ em, nhiều người cũng thắc mắc nhưng “bặt vô âm tín”. Đây là chuyện cấm kị mà.

- Cũng đúng, anh biết chuyện này, im lặng gần cả cuộc đời, đến giờ, cũng sắp xuống lỗ rồi, đành kể cho chú nghe để chú hiểu thêm....


Tổng Bí thư Lê Duẩn (bên trái) lãnh tụ Việt Nam duy nhất dọa Mao Trạch Đông (Wikeleaks) bên cạnh là tướng Võ Nguyên Giáp và ông Hô Nghinh

Ông anh ngừng lại, tợp tiếp, gắp miếng nhắm, nhai, nuốt đoạn kể cho tôi nghe câu chuyện cuộc đời của một số “vĩ nhân”. Các sự kiện ông diễn giải trong câu chuyện gây cho tôi ấn tượng sâu sắc. Tôi cho rằng, ông là người hiểu biết nội tình của đảng CSVN. Câu chuyện của ông đề cập nhiều vấn đề, tuy khó được kiểm chứng, nhưng đáng để chúng ta quan tâm, chỉ chọn một vài chuyện để suy gẫm:

- Trung tướng Nguyễn Bình bị phục kích chết trong chuyến đi tù Nam Bộ ra Bắc báo cáo tình hình với TƯ. Ông bị sát hại ở một vùng núi trên đường đi. Sự kiện quan trọng đó, sau này người ta tìm hiểu, không có trong hồ sơ của Bộ Tổng Tham mưu quân đội viễn chinh Pháp (nghĩa là không phải Pháp giết). Khi quân đội miền Bắc đánh chiếm được Bộ TTM quân đội Sài gòn, hồ sơ lưu trữ cũng không hề có một dòng nào nói về vụ việc này, mà lẽ ra 2 quân đội Pháp – Mỹ, nếu họ làm, nhất định đều phải có, ghi lại, lưu trữ .

Vậy ai giết Trung Tướng Nguyễn Bình ?

Và còn nhiều nghi vấn khác nữa…


Riêng về tướng Giáp, thu hút sự chú ý của tôi, ông kể:

Khi cách mạng tháng 8 năm 1945 nổ ra, thành công, hai ông Lê Duẩn và Lê Đức Thọ lúc này vẫn đang nằm trong xà lim “chuồng cọp” ở Côn Đảo. Các ông vui mừng và chờ đợi đất liền cho tầu ra đón. Thế nhưng, chẳng hiểu vì sao (…) mãi gần hai chục ngày sau mới họ mới được về.

Khi về đến đất liên, ông Lê Đức Thọ do TƯ phân công làm công tác Đảng, còn ông Lê Duẩn được ông Võ Nguyên Giáp – phân công làm Cục trưởng cục Dân quân – một cái cục thấp – bé nhất trong Bộ Quốc phòng, một chức danh chỉ giành cho người “ngồi chơi sơi nước”. Dư luận chính trường bất ngờ trong khi ông Lê Duẩn thực sự có tài, có uy tín, nhiều năm hoạt động trên địa bàn miền Nam… Cuộc phân công đó, dưới mắt dư luận “thật khó coi”, không thể không gây cho các đối tượng sự bức xúc…

Chưa hết, những chiến hữu thân cận, tài năng dưới quyền các ông như Tô Ký, Huỳnh Văn Nghệ…đều chỉ được phong các chức danh “khiêm tốn” (mãi sau Tô Ký mới có hàm Thiếu tướng, Huỳnh Văn Nghệ hàm Thượng tá…). Trước những đối xử như vậy, 2 ông kiên quyết xin được trở lại miền Nam “nằm vùng”, chuẩn bị cho một cuộc chiến mới : Tạo thế hợp pháp để đấu tranh (vì hiệp định Geneve) bằng cách đưa ông Lê Duẩn ra tranh cử Tổng Thống với ông Ngô Đình Diệm…



Dân Triều Tiên khóc lãnh tụ


Sự việc không thành, ông Lê Duẩn phải rút vào hoạt động bí mật. Trong thời gian đó, ông đã nghiên cứu vạch ra chiến lược cho cách mạng miên Nam rồi gửi ra TƯ bản báo cáo quan trọng, xác định rõ: Muốn thống nhất đất nước, không có con đường nào khác là – Phải chuẩn bị, phát động nhân dân cả nước tiến hành đấu tranh vũ trang mà trực tiếp, trực diện là nhân dân miền Nam , còn miền Bắc sẽ là hậu phương vững chắc cho trận chiến này. BCT có người còn phân vân… riêng cụ Hồ – trong tư cách là Chủ tịch đảng – hoàn toàn đồng ý với báo cáo của 2 ông Duẩn, ông Thọ, quyết định triệu tập ĐH Đảng CS Việt nam lần thứ 3 (sau ĐH3 đổi tên thành đảng Lao Động Việt Nam), nhằm đi đến thống nhất chủ trương này bằng nghị quyết làm kim chỉ nam cho mọi hành động đi đến thống nhất đất nước, thực hiện ý tưởng của cụ Hồ (trong lần ốm nặng): “Dù có phải đốt cháy cả dẫy Trường Sơn cũng phải giành cho được độc lập dân tộc”.

xxx

Đại Hội ĐCSVN lần thứ 3 (ĐH3 – tên mới Đảng LĐVN)) được triệu tập trong bối cảnh đặc biệt :
- Miền Bắc vừa trải qua “cơn gió độc” Cải cách ruộng đất, lòng dân li tán, uy tín của Đảng – Chính quyền suy giảm, nền kinh tế đang củng cố, chua kịp phát triển, nông nghiệp suy sụp.

- Ê kíp lãnh đạo (Cụ Hồ, ông TBT Trường Chinh, ông Võ Nguyên Giáp…) vừa phải kiểm điểm trách nhiệm đã để xẩy ra vụ Cải Cách Ruộng Đất (CCRĐ), một số nhận án kỉ luật. TBT Trường Chinh phải từ chức…

- Cần người có kinh nghiệm đảm trách việc đôn đốc thực hiện NQ ĐH3. Dưới cái nhìn hẹp hòi, cục bộ của phe ông Chinh, ông Giáp (phe bảo thủ miền Bắc, theo TQ) đối với phe cách tân (miền Nam) ông Duẩn, ông Thọ. Việc chọn một ê kí lãnh đạo mới thật khó khăn, nhưng Chủ tịch đảng, ông Hồ Chí Minh đã dùng uy tín, quyền lực của mình gạt mọi ý kiến bất đồng (và cả chống đối), ép Chọn ê kíp Lê Duẩn – Lê Đức Thọ lãnh đạo Đảng và chính quyền, ông Lê Duẩn làm Tổng Bí Thư, ông Lê Đức Thọ làm Trưởng ban Tổ Chức TƯ – một ban vô cùng quan trọng để duy trì quyền lực của ê kíp (sau này, suốt 26 năm 1960 – 1986) BTC TƯ đã chứng tỏ uy lực đó! Chọn, giữ lại ông Phạm Văn Đồng – nhân vật “phải phải” của ê kíp cũ – làm thủ tướng để dễ điều hành…

Tuy ý kiến của chủ tịch đảng đã rõ ràng, nhưng cả phe cánh đối thủ vẫn chống đối kịch liệt. Chiêu cuối cùng của đối thủ là: Dựa vào điều lệ đảng mà 2 ông Lê Duẩn, Lê Đức Thọ đều vi phạm: Cả hai ông đều đã có vợ rồi, vẫn lấy 2 cô học sinh trẻ làm vợ thứ 2. Đến chiêu này thì hai ông Duẩn, ông Thọ không còn cách biện báo. Chiêu phản kích cuối cùng khá độc, nhằm ngăn trở họ không được bầu làm TBT và TBTCTUW.

Vì đã xác định người có khả năng giúp mình “đốt cháy Trương Sơn…’’ chủ tịch đảng phải ra tay, dút điểm: Trong phiên họp cuối cùng chọn nhân sụ trước khi đại hội bắt đầu, Chủ tịch Đảng phải dùng quyền phủ quyết…và tuyên bố gay gắt, đại ý: Trong số các đồng chí lãnh đạo chủ chốt ở đây, không có ai đã đi đến miền Nam, lại càng không hiểu biết địa bàn chiến trường miền Nam. Chỉ có 2 đồng chí Lê Duẩn, Lê Đức Thọ đáp ứng được yêu cầu này. Nếu chúng ta muốn thống nhất đất nước, chỉ có 2 người này mới có thể hoàn thành nhiệm vụ. Một số khuyết điểm có tính chất sinh hoạt của họ đã xẩy ra trước đây, chúng ta châm chước, cho qua, từ nay về sau, ai vi phạm sẽ bị kỉ luật nặng.

Thời bấy giờ uy tín của Chủ tịch Đảng rất cao nên sau ý kiến của ông Chủ tịch đảng, đại hội Đảng CSVN đã bầu ông Lê Duẩn làm Tổng Bí Thư.
Nhưng cũng phải mất 7 năm sau (1960 – 1967), ê kíp ông Duẩn, ông Thọ mới bắt đầu “tính sổ – cả vốn lẫn lãi” với ông Võ Nguyên Giáp bằng bản nghị quyết “Chống xét lại hiện đại – NQ9/khóa 3″. Ông bị quy cho là‚ “đầu sỏ xét lại, tay sai của N. Khơ rut sốp”, điển hình là cho giải ngũ 8 vạn binh sĩ năm 1958. Chỉ trong một đêm nhiều cán bộ chủ chốt của Cục tác chiến và tướng tá thân cận của tướng Giáp trong bộ Quốc phòng bị bắt. Ông Tổng tư lệnh bị chặt hết chân tay… cuộc đời ông đi xuống bắt đầu thể hiện rõ từ đây và thê thảm hơn nữa vào các năm sau này…

Khi tiến hành chiến dịch Tổng tiến công giải phóng miền Nam, ông Giáp hoàn toàn đứng ngoài, chức Tổng tư lệnh chỉ là cái danh, thực chất do các ông Lê Duẩn, Lê Đức Thọ chỉ huy, tướng Văn Tiến Dũng và ê kíp tiến hành (điều này được tướng Văn Tiến Dũng viết lại trong hồi kí Đại thắng mùa xuân 1975, đăng nhiều kì trên báo QĐND).



Ông Lê Duẩn và ông Văn Tiến Dũng

Ông Lê Duẩn, Lê Đức Tho “chơi” đối thủ sát ván: Hạ nhục, kích thích lòng tự ái, tự trọng để nếu ông không chịu được “bật lò so”…họ có cớ hủy diệt! Cũng may, ông Giáp là người giảng dậy sử học, đã bình tĩnh vượt qua cơn sóng gió này, cũng như ông đã từng kiên nhẫn không rơi vào bẫy của Mỹ trong “Sự kiên Vịnh bắc bộ – 1965″ để tiếp tục tồn tại cho đến hôm nay! (Trường họp hủy diệt Trần Xuân Bách lại rơi vào hoàn cảnh khác, có dịp chúng ta sẽ bàn sau…).

Thế đấy ! Có Nhân tất có Quả, nhân nào thì quả ấy !
“Chả ai nắm được tay từ chập tối đến sáng”.

“Chú khi nay anh khi khác”. Những lời răn dạy của tiền nhân vẫn vang vọng trong lòng, chắc chắn sẽ giúp cho những người lãnh đạo nhiều bài học bổ ich: Khi có Quyền – Thế – Tiền, đừng vội cạn tầu ráo máng với nhau, với người dưới. Hãy để cho mình một lối đi dù là nhỏ nhất, đề phòng khi có biến còn có đường thoát.

Người dân khóc thương ông Lê Duẩn

Võ Nguyên Giáp là tấm gương sáng cho hậu thế soi chung về nhiều mặt nhất là vinh quang. Những thất bại trong cuộc đời ông cũng đáng để chúng ta suy gẫm, rút ra bài học từ những lỗi lầm “chết người” mà ông phạm phải. Chỉ nhìn thấy vinh quang, vuốt đuôi, tuyên truyền một chiều, thái quá – chỉ làm hại thế hệ trẻ hôm nay và mai sau !
Trần Gia Lạc
13.10.2013
(Blog Bà Đầm Xòe)

October 14, 2013

Còn là tinh anh

Blog GS. Nguyen Van Tuan

Còn là tinh anh

Tôi hân hạnh giới thiệu một bài viết cảm động về Đại tướng Võ Nguyên Giáp của tác giả Lưu Nhi Dũ. Bài này đã được gửi cho báo Người lao động nhưng báo không đăng. 

“Còn là tinh anh”…


Lưu Nhi Dũ


Con chim phượng hoàng, con hồng hạc Võ Nguyên Giáp đã bay xa. Cánh bay ấy vút lên không gian để lại những ánh sáng chói lòa và không bao giờ tắt, để lại những tinh anh cho đời. Nguyễn Du từng nghĩ như vậy: “Thác là thể phách, hồn là tinh anh”.


Hãy nhìn dòng người bất tận sắp hàng vào nhà riêng của Tướng Giáp ở 30 Hoàng Diệu. Hãy nhìn dòng người nối tiếp dòng người ở Nhà tang lễ quốc gia. Hãy nhìn dòng người đứng dọc hai bên đường từ Nhà tang lễ quốc gia đến sân bay Nội Bài; từ sân bay Đồng Hới đến Vũng Chùa - Đảo Yến… Những giọt nước mắt, những khuôn mặt thành tâm, những cái lạy vọng từ xa tỏ lòng kính trọng Đại tướng nhưng cũng gửi đến chúng ta - những người đang sống thông điệp chứa đựng những tình cảm chân thật, hy vọng và cả những ưu tư… của dân với nước. Đằng sau những tình cảm ấy là tình dân, nghĩa dân và lòng dân với Đại tướng, với nước. Chỉ có những người sống vì dân mới được dân yêu đến như vậy.


Từ lâu Đại tướng đã là anh hùng dân tộc dù chưa bao giờ nhận danh hiệu đó. Người lính Võ Nguyên Giáp chỉ nhận một lần phong quân hàm, đó là quân hàm Đại tướng và đi suốt cuộc đời binh nghiệp. Bây giờ, một cách tự nhiên, Đại tướng cùng với Lê Lợi, Trần Hưng Đạo, Quang Trung… là những anh hùng dân tộc, làm vẻ vang cho dân tộc.


Tầm vóc của Tướng Giáp vượt qua khỏi đất nước, bởi chính Đại tướng là người làm thay đổi, định hình một trật tự thế giới mới như ngày hôm nay. Điện Biên Phủ, Chiến thắng 30-4 đã nói lên điều đó. Hai chiến thắng lẫy lừng đó đã chôn vùi chủ nghĩa thực dân, cả chủ nghĩa thực dân mới. Đó là lý do vì sao Ducan Towon - một nhà nghiên cứu lịch sử người Anh đã xếp Võ Nguyên Giáp vào số 21 danh tướng thế giới qua 25 thế kỷ. Bách khoa Toàn thư Anh, xuất bản năm 1985, tập 10, chỉ ghi tên hai danh tướng Việt Nam: Trần Hưng Đạo và Võ Nguyên Giáp.


Phương tây và cả kẻ thù từng soi mói cuộc đời của Đại tướng, dù phải “ngã mũ chào ông”. Ông đâu phải là vị tướng “chiến thắng bằng mọi giá” như họ nghĩ. Bất cứ một sĩ quan cấp sơ cấp nào cũng hiểu rằng việc “nướng quân” là điều không có trong giáo trình đào tạo sĩ quan và cả trên chiến trường. Hãy tưởng tượng, năm 1947, Trung đoàn Thủ đô non trẻ, trang bị rất hạn chế, cùng với các đội quân dân tự vệ đã có 60 ngày đêm cầm cự với quân Pháp được trang bị những khí tài quân sự hiện đại nhất, sao lại không tổn thất khi bộ đội quyết “cảm tử” để tổ quốc quyết sinh. Họ muốn nói đến trận chiến chiếm Đồi A1 - Điện Biên Phủ? Họ đã không hiểu tinh thần độc lập, tự do, lòng yêu nước của người Việt. Cha ông ta đã để lại mảnh đất hình chữ S tuyệt vời, vậy mà cho đến 1945, chúng ta không có một tất đất. Mất nước thì phải lấy máu mà rửa, như người Pháp đã lấy máu mình để giành lại đất nước họ từ Phát xít Đức. Vậy mà họ không hiểu máu của người Việt, đáng tiếc thay…


Võ Nguyên Giáp, người dạy lịch sử, làm nên lịch sử, hơn ai hết ông hiểu giá trị của máu. Ông là vị tướng của hòa bình nhưng làm sao có hòa bình khi chúng ta mất nước? Ông đã gầy dựng nên Quân đội ta, Quân đội của dân thì làm sao kẻ thù có thể tiêu diệt được!


Chiến thắng Điện Biên Phủ, chiến thắng 30-4-1975 đã đi vào quân sử thế giới, có trong các sách giáo khoa quân sự, đã nói lên thiên tài quân sự của Tướng Giáp.


Ông là vị tướng của hòa bình, vị tướng lịch lãm, cả với kẻ thù. Hãy xem Tướng Giáp tiếp Mc Namara thì hiểu, với nụ cười sảng khoái của hai chính khách, hai vị tướng đã “xếp kiếm cung”, chứ không phải như kẻ chiến thắng. Tướng Raoul Salan, từ có mặt ở chiến trường Đông Dương từ năm 1924, sau này là Tư lệnh quân Pháp ở Bắc bộ trong cuốn Mémoire (Hồi ức) đã bày tỏ sự kính trọng với Tướng Giáp. Trong một lần hội đàm căng thẳng thì cận vệ vào báo tin vợ ông sinh con gái; tướng Giáp chúc mừng và mấy hôm sau gửi tặng vợ ông một bức sơn mài rất đẹp, làm Salan nhớ mãi…


Những tính cách quyết đoán, tình cảm, nhân ái, hòa hợp, hiểu rõ nhân tình thế thái… đã giúp ông đã đi suốt hành trình một đời người hơn thế kỷ, đi cùng với nhân dân. Vị tướng đã hơn 30 năm rời chính trường vẫn được dân yêu quý dường ấy, tất cả cho thấy ông là vị tướng của nhân dân.


Nghỉ hưu, ông không chịu nghỉ ngơi. Ông không về Côn Sơn như Nguyễn Trãi nhưng giống như Nguyễn Trãi, tính nhập thế của ông vẫn mãnh liệt: “Một tấm lòng son nóng bừng như lửa lò luyện đan” (Ức Trai thi tập, bài 63). “Ngọn núi tuyết phủ” là Tướng Giáp, trăn trở suốt đời chỉ vì một chữ đinh (dân) như Nguyễn Trãi. 


Những di sản cuối đời của ông để lại khiến tất cả chúng ta suy ngẫm. Di sản cả cuộc đời ông càng vĩ đại. Ngay cả cuộc ra đi của ông cũng để lại những điều cả dân tộc phải suy nghĩ, hãy nghĩ đến lòng dân, đến dân, vì dân.

Còn di sản cuối cùng của ông nữa cũng cho thấy cuộc đời vì dân vì nước của ông. Với một người bình thường, khi nằm xuống ai cũng muốn nằm bên cha mẹ mình, nhưng với Tướng Giáp, là con người của nước, theo di nguyện của ông, ông cũng chọn Quảng Bình nhưng là Vũng Chùa - Đảo Yến ở Quảng Trạch. Ông là người của dân tộc chứ không chỉ của Lệ Thủy, quê ông. Ông nằm đó, đôi mắt nhìn ra Biển Đông quê hương …