Showing posts with label Tái cấu trúc. Show all posts
Showing posts with label Tái cấu trúc. Show all posts

April 28, 2013

Các kiểu nợ xấu



Blog Nguyễn Vạn Phú, 

Cũng là nợ xấu nhưng vấn đề nợ nước ngoài của Thái Lan năm 1997, nợ dưới chuẩn của Mỹ và nợ xấu của hệ thống ngân hàng Việt Nam có những đặc điểm khác nhau nên cách giải quyết cũng khác nhau. 


Khủng hoảng do nợ ở Thái Lan năm 1997

Cách đây hơn 15 năm, vào tháng 7-1997 tôi có dịp đi công tác ở Thái Lan ngay đúng ngày chính phủ nước này quyết định thả nổi đồng baht, khơi mào cho cuộc khủng hoảng tài chính toàn châu Á. Lúc đó dĩ nhiên báo chí đưa tin rầm rộ, phân tích đủ kiểu nhưng vẫn thiếu vắng một cái nhìn tỉnh táo toàn diện vấn đề nợ của Thái Lan – một cái nhìn chỉ vài năm sau mới lắng xuống thành lịch sử kinh tế. Thậm chí lúc đó, tôi còn khá ngây thơ khi phỏng vấn Thủ tướng đương nhiệm Chavalit Yongchaiyudh, “ông có thể tiên đoán gì cho nền kinh tế Thái Lan trong sáu tháng tới?” Câu trả lời của Chavalit cũng “ngây thơ” không kém: “Tại bất kỳ nước nào, tình hình kinh tế không thể đảo ngược trong vòng sáu tháng. Chúng ta không thể trông chờ sự phục hồi trong sáu tháng. Nhưng các bạn sẽ thấy phép lạ xảy ra tại Thái Lan, tôi tin thế”.

Những tháng sau đó, đồng baht mất một nửa giá trị, nền kinh tế Thái Lan suy sụp hoàn toàn, hàng loạt cao ốc, công trình xây dựng bị đình trệ, nạn thất nghiệp tràn lan, hàng loạt doanh nghiệp lớn phá sản, nhiều ngân hàng đóng cửa. Chỉ một tháng sau tuyên bố của Chavalit, IMF phải nhảy vào và bỏ ra 17,2 tỷ đô-la Mỹ để cứu nền kinh tế Thái Lan.

Bài học về nợ của Thái Lan là gì? Vấn đề nợ của Thái Lan mang yếu tố nước ngoài. Trong nhiều năm liền GDP của Thái Lan tăng bình quân đến 9% mỗi năm, lạm phát thấp, đồng baht gắn cố định với đồng đô-la Mỹ (25 baht ăn 1 đô-la Mỹ) nhưng lãi suất cao (khoảng 13,25% trước khủng hoảng) nên người ta thay nhau vay tiền nước ngoài vô tội vạ. Vay tiền về đổi ra đồng baht gởi vào ngân hàng cũng đã có lãi rồi nên nợ nước ngoài của Thái Lan tăng nhanh, là nguyên nhân chính gây khủng hoảng. Nhất là các khoản tiền này đổ vào bất động sản, tạo ra tình trạng bong bóng hay đổ vào xây dựng nhà máy xi măng, sắt, thép, hoá dầu để cuối cùng xảy ra tình trạng dư thừa ở hầu hết các ngành cơ bản.

Đến năm 1997, nợ nước ngoài của Thái Lan vọt lên 109 tỷ đô-la Mỹ, đa phần là vay ngắn hạn, cán cân vãng lai lại thâm hụt trong nhiều năm liền. Giới đầu cơ nhận định trước sau gì chính phủ Thái cũng phải phá giá đồng tiền bèn nhảy vào đầu cơ đánh giá xuống. Họ vay tiền baht, đổi ra tiền đô-la, khiến chính phủ Thái phải bỏ ra 24 tỷ đô-la (gần hai phần ba dự trữ ngoại tệ) để bảo vệ cái tỷ giá cố định trên và đến khi hết tiền, phải tuyên bố thả nổi đồng baht. Từ 25 baht ăn 1 đô-la Mỹ chỉ trong vòng vài tháng, giá trị đồng tiền này sụt xuống còn 56 baht/1 đô-la Mỹ. Rõ ràng các khoản vay nợ nước ngoài tính bằng tiền baht bỗng dưng tăng gấp đôi, làm nhiều ngân hàng phá sản vì con nợ trong nước phá sản. Khủng hoảng xảy ra và chứng khoán Thái Lan giảm từ đỉnh cao 1.753 điểm còn 207 điểm vào năm 1998. Phải mất 10 năm GDP Thái Lan tính theo đô-la mới phục hồi về lại mức năm 1996. Một ghi chú nhỏ: Thủ tướng Chavalit phải từ chức vào tháng 11-1997, không thể chờ phép lạ xảy ra.

Nợ dưới chuẩn ở Mỹ

Năm 2004 khi qua Mỹ tiếp xúc với khá nhiều người trong cộng đồng người Việt, tôi thấy nổi lên một xu hướng rất rõ: vay tiền mua nhà, rồi dùng nhà đó vay tiền mua nhà tiếp, chờ giá lên để bán hưởng lợi. Có người có đến 4 căn nhà to đùng trong khi nhu cầu không có. Lúc đó, ai cũng “phấn khởi” vì giá nhà vẫn đang lên, cao hơn so với giá mua khá nhiều. Nhẩm tính tiền lãi, ai nấy cũng rộng tay chi xài nhiều hơn thường lệ.
Thật vậy, sau này nhìn lại, người ta bảo lúc đó cho vay mua nhà ở Mỹ khá dễ dàng, những tiêu chí về nguồn thu nhập để trả nợ bị xem nhẹ - từ đó mới có từ “nợ dưới chuẩn”. Bong bóng bất động sản thu hút nhiều người tham gia (đến 40% mua nhà để đầu tư chứ không phải để ở) chừng nào giá nhà vẫn tăng đều đặn (tăng đến 124% từ năm 1997 đến năm 2006). Đến giữa năm 2006 lúc giá nhà đã lên đến đỉnh và bắt đầu giảm nhanh, vấn đề nợ dưới chuẩn nổ ra. Tiền vay mua nhà thường có lãi suất thả nổi và khi lãi suất tăng mạnh, nhiều người mất khả năng chi trả tiền nhà hàng tháng cho ngân hàng. Ngân hàng, trước đó, đã gói những hợp đồng vay tiền mua nhà trả góp đó thành sản phẩm tài chính, đem bán trên thị trường chứng khoán. Các tập đoàn tài chính ôm lấy những loại chứng khoán không còn sinh lợi này bắt đầu rơi vào tình trạng khó khăn, có nơi phá sản. Khủng hoảng nổ ra mà hiệu ứng vẫn còn kéo dài cho đến tận bây giờ.
Bài học nợ dưới chuẩn ở Mỹ là sự dễ dãi của giới ngân hàng khi cho vay rồi sự lừa dối của nhiều bên liên quan khi biến nợ thành sản phẩm chứng khoán, mua bán trên thị trường làm lây lan một cuộc khủng hoảng lẽ ra chỉ giới hạn trong lãnh vực bất động sản. Ở đây vấn đề tín dụng rẻ, dễ dãi cũng là thủ phạm; tiền cũng chạy từ nhiều nước vào Mỹ nên khủng hoảng quay ngược ảnh hưởng trở lại nhiều nước. Tỷ lệ nợ dưới chuẩn tăng nhanh lên đến 20% tổng dư nợ cho vay mua nhà và hậu quả là tháng 10-2007, tỷ lệ nợ xấu buộc phải tịch biên nhà lên 16%, tăng lên 21% vào đầu năm 2008 và 25% vào tháng 5-2008.

Trở lại Mỹ vào năm 2010, gặp nhau, người ta không còn kể chuyện mua nhà nữa mà là chuyện “kéo nhà”, tức là nơi cho vay tịch biên nhà, bán để thu hồi nợ. Người nào trước đây mua càng nhiều nhà, giờ càng bạc tóc vì lo vì trở thành con nợ không lối thoát.

Nợ xấu Việt Nam

Mới nhìn qua vấn đề nợ xấu Việt Nam cũng có những căn nguyên tương tự: tín dụng dễ dãi, dư nợ tăng vọt, tiền đổ vào nhiều, bất động sản nóng sốt, chứng khoán lên ngôi, thúc đẩy nhiều dự án hoành tráng chỉ để làm tăng giá trị cổ phiếu. Đến khi chứng khoán suy sụp, thị trường bất động sản đóng băng và nhất là khi tín dụng bị siết chặt, nợ xấu bùng phát.

Nhưng nợ xấu ở Việt Nam không giống ở Thái Lan thời thập niên 1990 ở góc cạnh không phải là nợ nước ngoài. Dư nợ của hệ thống ngân hàng Việt Nam chủ yếu là từ trong nước. Cho đến nay áp lực của nợ xấu lên tỷ giá là chưa đáng kể, nên không gây ra áp lực phá giá đồng tiền. Nợ nước ngoài của Việt Nam tăng khá nhanh, từ 31,4% GDP năm 2006 lên 41,5% GDP năm 2011 nhưng chủ yếu là các khoản vay dài hạn của Chính phủ như vốn vay ODA chứ vay thương mại chỉ chiếm tỷ lệ nhỏ. Giả thử có thêm vài ba khoản nợ xấu có nguồn gốc nước ngoài như các khoản vay của Vinashin bị Elliott đòi như vừa qua thì tình hình đã rối ren hơn nhiều.

Các gói nợ xấu của Việt Nam cũng chưa bị đóng gói thành sản phẩm chứng khoán để đem ra bán nên tác động của nợ xấu chưa mang tính lây lan mạnh như cuộc khủng hoảng ở Mỹ.

Tuy nhiên nợ xấu Việt Nam lại mang những đặc điểm đáng lo ngại không kém. Đầu tiên là sự thiếu vắng những con số chính xác, được Ngân hàng Nhà nước (NHNN) xem như chuyện bình thường. Trả lời chất vấn của các đại biểu Quốc hội, Thống đốc Nguyễn Văn Bình đưa ra hai con số: “Theo số liệu báo cáo của các tổ chức tín dụng, đến ngày 30-9 thì nợ xấu là 4,93%. Theo đánh giá của Ngân hàng Nhà nước thì con số này nằm ở khoảng 8,82%”. Các ngân hàng báo cáo một đằng, đánh giá của NHNN một nẻo mà lại không có biện pháp gì chấn chỉnh, ít nhất về mặt báo cáo số liệu là chuyện khó chấp nhận. Muốn có những giải pháp tốt cho vấn đề nợ xấu thì trước tiên phải có thông tin chính xác về nợ xấu.

Thứ hai, nguồn gốc nợ xấu chủ yếu do doanh nghiệp nhà nước hay chính quyền các cấp. Chỉ tính riêng tập đoàn Vinashin, các khoản nợ đến hạn phải trả hàng năm từ lúc nổ ra khủng hoảng lên đến hàng chục ngàn tỷ đồng mỗi năm. Vinashin bất lực, không trả được, chúng đã biến thành nợ xấu của các ngân hàng! Hàng loạt doanh nghiệp nhà nước như thế hiện là con nợ khó đòi. Theo một báo cáo, doanh nghiệp nhà nước chiếm đến 70% tổng nợ xấu. Bên cạnh đó, nợ đọng xây dựng cơ bản mà con nợ là các bộ, ngành và chính quyền địa phương cũng làm nhiều nhà thầu trở thành con nợ xấu của ngân hàng. Con số nợ đọng này lên đến 90.000 tỷ đồng nhưng bao nhiêu phần trăm biến thành nợ xấu thì không có số liệu. Như thế, giải quyết nợ xấu trở thành chuyện của nhà nước, phải tính đến chuyện khoanh nợ, tái cấp vốn – tất cả sẽ đè nặng lên ngân sách vốn đã eo hẹp. Nếu không, làm sao có chuyện ngân hàng phát mãi tài sản thế chấp của doanh nghiệp nhà nước, có ai dám bán tài sản của các doanh nghiệp này dưới giá sổ sách, đất đai được cấp nay giải quyết làm sao?

Loại trừ khoản nợ xấu nói trên, phần còn lại thiết nghĩ không khó giải quyết. Lúc đó bài học giải quyết nợ xấu ở Thái Lan hay ở Mỹ sẽ rất hữu ích. Đó là mạnh dạn cho đóng cửa những ngân hàng nào yếu kém, cho vay bất chấp rủi ro, định giá tài sản thế chấp sai lầm, lại không chịu trích lập dự phòng đầy đủ… Đó là sửa đổi Luật Phá sản để tạo điều kiện cho các doanh nghiệp bất động sản có lối thoát, tự nhiên giá cả sẽ quay về mức xã hội chấp nhận được và một phần lớn nợ xấu sẽ được thu hồi. Không lẽ chúng ta phải đợi những hệ quả của nợ xấu xảy ra như phá giá đồng tiền ở Thái Lan, vỡ nợ tại nhiều ngân hàng ở Mỹ… lúc đó mới chịu có biện pháp mạnh tay?

April 19, 2013

Biết ít nguy hiểm hơn không biết?


Có người không cần thông minh lắm chỉ cần hiểu biết tương đối cũng có thể đề ra những phương án ngừa bệnh lẫn điều trị được những loại bệnh cảm mạo, sổ mũi thông thường nhưng với những cá nhân bảo thủ không chịu “học”, hiểu biết hạn chế lại mắc chứng hoang tưởng cho rằng ta đây biết hết, tự nghĩ mình là đỉnh cao trí tuệ rất dễ gây ra thảm họa, không chỉ nhất thời mà còn di hại lâu dài, biến bệnh thông thường thành bệnh nan y di căn hết thuốc chữa và khi bệnh đã đến giai đoạn trầm trọng vẫn chưa nhận ra, vẫn tưởng rằng với nước lã, lá cây hay ngay cả lảm nhảm vài câu thần chú “với quyết tâm chính trị…” như kẻ lên đồng là có thể chữa khỏi bệnh!

Điển hình cho luận điểm không chịu “học” hiểu biết hạn chế là nguyên nhân biến bệnh thông thường thành bệnh nan y hết thuốc chữa, ứng hợp với vai trò lãnh đạo kinh tế xã hội của đảng cộng sản Việt nam được chứng minh qua lời phát biểu của các nhà quản lý khoa học, chuyên gia kinh tế tài chánh hàng đầu của Việt nam trong diễn đàn kinh tế mùa xuân diễn ra ở thành phố biển Nha trang. Nội dung thảo luận xoay quanh đề án tái cấu trúc nền kinh tế “hết thuốc chữa”, trong đó có nhiều ý kiến chỉ ra những bất cập, yếu kém, có cả “cự cãi” đổ lỗi cho nhau, cùng với một số ý kiến đề nghị chấn chỉnh khá muộn màng để vực dậy, vượt qua suy thoái của nền kinh tế thị trường vốn méo mó không giống ai, lại đeo phải chiếc cùm quá khổ “định hướng xã hội chủ nghĩa.”

Trong diễn đàn kinh tế này chúng ta nghe được những phát ngôn nổi cộm khá bi quan của các chuyên gia gắn bó mật thiết với chế độ rất lâu đời chứ không thông qua lời phê phán trên các kênh thông tin của các “thế lực thù địch”tung tin đồn thất thiệt nhằm bôi nhọ chống phá “tổ quốc”:
“…Nếu không tìm được câu trả lời cho nguyên nhân tại sao nền kinh tế Việt Nam rơi vào tình trạng như hiện nay thì có tái cấu trúc mấy đi chăng nữa chúng ta cũng không bao giờ tìm được sự phát triển ổn định…Tất cả các “bản lề” mà chúng ta hy vọng xoay chuyển tình hình trong năm nay đã lung lay hết rồi…Nhiều người đã đưa ra những ý kiến sửa đổi rất hay cùng với kinh nghiệm của các tổ chức thế giới và tham khảo các nước xung quanh đề án tái cấu trúc này nên làm lại”( Ông Cao Sỹ Kiêm, nguyên thống đốc ngân hàng nhà nước).
“…Trong quá trình phát triển có nhiều việc không kiểm soát được tốt. Nhất là trong mấy năm gần đây khi nền kinh tế phát triển quá nóng cũng không kiểm soát được tốt. Vì vậy làm cho một số nhóm lợi ích nào đó có thể được hưởng lợi rất nhiều, trong khi những ngươi khác lại chịu hệ quả của tình hình bất ổn kinh tế vĩ mô hoặc lạm phát lên cao làm cho vật giá leo thang và đời sống của họ khó khăn hơn…Đây cũng là một trong những điều quan trọng nhất mà chúng tôi cũng đang nỗ lực, để làm sao đóng góp cho Việt Nam có thể thay đổi theo hướng công bằng hơn trong phát triển.”(chuyên gia kinh tế Phạm Chi Lan, nguyên thành viên ban nghiên cứu của thủ tướng chính phủ.)
“…Điều đáng nói là không chỉ kinh tế mới có vấn đề nghiêm trọng… Đất nước đang rơi vào tình trạng suy thoái toàn diện từ kinh tế, xã hội, văn hóa, đạo đức, giáo dục y tế đến niềm tin, kỷ luật, kỷ cương, pháp luật, đạo đức…Trong xã hội đã xuất hiện những động lực làm giàu nhanh bằng các thủ đoạn bất chính, thông qua các mối quan hệ với một số người có chức có quyền… Các giá trị đạo đức của xã hội bị thách thức hay đảo lộn…Xã hội ngày càng phân hóa, khoảng cách giữa người dân và giới cầm quyền ngày càng xa cách. Tâm tư, nguyện vọng của người dân chưa có cơ chế thể hiện một cách trung thực và an toàn…”(tiến sĩ Nguyễn Đăng Doanh, nguyên viện trưởng viện quản lý kinh tế trung ương.)
“…Đề án tái cơ cấu được nghiên cứu từ lâu thảo luận ở nhiều cấp và tất cả chúng ta ngồi đây đều có cơ hội tham gia vào quá trình đó… Chúng tôi là tội đồ gây nên việc đó nên không thể giao cho chúng tôi, song tôi tin các chuyên gia ngồi đây không ai làm tốt hơn chúng tôi… Chúng ta phê phán chính phủ ngập ngừng này kia trong tái cơ cấu kinh tế, có lẽ cũng có phần của chuyên gia chúng ta…Tiên trách kỷ hậu trách nhân, bối cảnh kinh tế hiện nay có phần của chuyên gia, vì giới chuyên gia nói theo cảm tính cũng nhiều, tất cả mọi phân tích về chính sách phải chuẩn mực chứ không thể chỉ nói theo ý của mình, theo cảm tính được, ý kiến trong hai ngày diễn ra diễn đàn rất phân tán…”( tiến sĩ Nguyễn Đình Cung, phó viện trưởng viện nghiên cứu và phát triển kinh tế trung ương).
Ngoài các phát biểu “nặng ký” vừa nêu còn có một chuyên gia ẩn danh đúc kết diễn đàn kinh tế mùa xuân, xuất sắc nhất so với các lời phát biểu trước, trong cũng như sau hội nghị kinh tế mùa xuân, khi ông nhận định rằng: “Chuyên gia nói theo phong trào…chuyên gia như thế này thì chính phủ không làm được gì hết?…” Xin nói thêm, đó chỉ là nhận xét phát biểu xuất sắc trên lý luận, lý thuyết liên quan đến diễn đàn kinh tế chứ không có nghĩa nhận định xuất sắc này có khả năng chỉ ra nguyên nhân làm cho các chính sách, nghị định, nghị quyết về kinh tế xã hội của đảng, nhà nước cộng sản đã phá sản trong thực tế.
Bàn xa hơn diễn đàn kinh tế mùa xuân tức là nói đến thực chất của “các chuyên gia” phá hoại kinh tế có rất nhiều nhưng đầu tiên phải kể đến là các nhà hoạch định chính sách có tư duy bảo thủ không chịu học, hiểu biết giới hạn bị các nhóm lợi ích, các tên tư bản hoang dã nước trong lẫn nước ngoài lợi dụng thao túng phục vụ cho mục tiêu làm giàu bất chánh, được tác giả Hoàng kim sống gần gủi với nông dân trồng lúa chỉ ra chiêu trò gian manh của công ty độc quyền mua bán lúa gạo của nhà nước trong bài viết: “Hiệp Hội Lương Thực Việt Nam Đã Bần Cùng Hoá Nông Dân Việt Nam Như Thế Nào?” đăng tải trên trang Boxitvn, về chính sách mua lúa tạm trữ để tăng thu nhập cho nông dân, có kết luận như sau:
“..Chính sách mua lúa tạm trữ hiện nay theo quyết định số 31 là một chính sách trong đó các công ty của Chính phủ trong VFA mà nòng cốt là hai tổng công ty lương thực miền Nam và miền Bắc độc quyền, toàn quyền thao túng lúa gạo của nông dân, lấy hết lợi nhuận của nông dân…Còn quyền lợi của nông dân nằm ở giá bán gạo xuất khẩu và giá bán lúa thì đều bị VFA dìm xuống tận đáy. “
Bên cạnh bài viết của tác giả Hoàng Kim là bức thư của thạc sĩ Lê Thị Phi Vân gửi cho Tiến sĩ Tô Văn trường đươc công khai hóa trên các báo lề phải, có nội dung gây nhức nhối dư luận xã hội về sự thao túng phân bón, xăng dầu…của nhóm lợi ích trong nền kinh tế vốn mong manh có gắn đuôi xã hội chủ nghĩa:
“Dear anh Trường,
Em vừa đi công tác 2 tuần ở Indonesia về. Tại Indo em được tiếp xúc với khá nhiều đồng nghiệp ở 9 nước ASEAN bao gồm Việt Nam, Indonesia, Brunei, Thailan, Malaysia, Philipines, Lào, Campuchia, Myanmar. Điều chúng em nhận thấy rất rõ ràng là người dân Việt Nam mình đang bị các quan chức Việt Nam bịt mắt, cung cấp thông tin sai sự thật.
Hiện tại giá xăng dầu ở Indonesia đang ở mức rẻ không ngờ: Xăng thường dùng (ở bên Indonesia gọi là Premium) có giá bán lẻ tại các cây xăng là 4.500 rupi/lít, tương đương với 9.000 VND. Giá dầu diezel cũng có giá 4.500 rupi/lít. Đây là 2 loại xăng dầu thông dụng của người dân Indo nên Chính phủ Indo có trợ giá. Hai loại xăng còn lại là xăng A92 và A95 không được trợ giá nên giá bán lẻ ở các cây xăng là 10.400 rupi (20.800 VND) đối với xăng A92 và 10.900 rupi (21.800 VND) đối với xăng A95, như vậy ngay cả khi không được trợ giá thì người dân Indo cũng phải trả một mức giá rẻ hơn ở Việt Nam rất nhiều, trong khi đó ở VN các quan chức luôn ra rả lừa dối dân ta rằng giá xăng dầu của Việt Nam rẻ hơn giá xăng dầu ở các nước láng giềng, rằng nếu không tăng giá thì xăng dầu chảy lậu ra khỏi biên giới. Họ lấy giá tham chiếu là giá xăng dầu ở Campuchia và Lào là những nước mà chính các Tổng công ty xăng dầu của Việt Nam làm đại lý lớn nhất ở đó. Vậy là lấy giá của ta làm tham chiếu cho chính ta.
Thực ra khi ở Indo các bạn Lào và Campuchia cũng đều rất ngỡ ngàng vì cảm thấy mình bị lừa. Họ cho biết giá xăng dầu mà Việt Nam bán cho họ quá cao so với thế giới. Em hỏi các bạn Brunei thì được biết giá xăng dầu ở Brunei rẻ hơn nước khác và người dân được dùng gần như miễn phí, họ chỉ phải trả tiền như mua nước thôi. Tất nhiên ở một nước như Brunei thì mình không so sánh được rồi, tuy nhiên khi hỏi các bạn Philippines và Malaysia thì họ cho biết giá xăng dầu của họ cũng chỉ hơn $1 một chút thôi.
Tương tự, giá phân đạm mà người nông dân ở Indo phải trả rẻ hơn rất nhiều so với giá mà người dân VN phải trả: Nông dân Indo chỉ phải trả có 1,8 rupi/1 kg đạm, tương đương với 3.600 VND trong khi đó người nông dân VN đang phải gánh một mức giá siêu bất hợp lý là khoảng 10.000 – 11.000 VND/kg, tức là cao gấp gần 3 lần Indonesia, trong khi đó các doanh nghiệp sản xuất phân bón VN đang được nhà nước trợ giá đầu vào!Thật là không thể nào lý giải nổi. Những sự bất hợp lý như vậy chỉ có thể thấy được ở VN mà thôi. Thế mới biết làm công dân VN bị thiệt thòi như thế nào!
Em
Lê Thị Phi Vân.”
Ai cũng thấy các loa đài lề đảng thường dị ứng với sự thật, có thói quen đổ cho những ai nói khác các thông tin định hướng là ý đồ của các thế lực phản động lưu vong không khách quan, thiếu, nhưng với tác giả Hoàng Kim đang sống và làm việc trong nước. Thạc sĩ Lê Thị Phi Vân đang công tác tại viện chính sách và chiến lược phát triển nông nghiệp nông thôn, thuộc bộ nông nghiệp và phát triển nông thôn phần nào hạn chế luận điệu vu khống của bộ máy nhà nước.Và qua bài viết của tác giả Hoàng Kim cùng với bức thư của thạc sĩ Lê Thị Phi Vân đã chỉ ra mầm móng phá hoại kinh tế đáng kinh sợ của nhóm lợi ích đang hoành hành bên trong hệ thống .
Lẽ ra với bản lãnh lãnh đạo thực chất thì công ty độc quyền xăng dầu không đối thủ cạnh tranh của nhà nước không thể tự tung tự tác tuồn “xăng dầu” vượt biên giới thu lợi bất chính cực khủng trong thời gian dài, vẫn báo cáo lỗ đễ được bù lỗ bằng tiền thuế của dân và các mặt hàng phân bón, thuốc trừ sâu bệnh, nông dân Việt Nam phải trả cao hơn nông dân các nước trong khu vực Đông Nam Á, trong khi các công ty nhập khẩu các mặt hàng thiết yếu, phục vụ phát triển nông nghiệp, nhất là phân bón được trợ giá lẫn thuế ưu đãi đầu vào lại có giá đắt hơn gấp bội làm giá thành đội lên cao, biến nông dân thành “nô lệ” cho bọn “tư bản đỏ” bóc lột sức lao động trên chính mảnh đất của mình?
Trưng dẫn bằng chứng về sự thật giá xăng dầu, phân bón trong khu vực Đông Nam Á và mặt trái của cái gọi là nghị quyết số 31 mua lúa tạm trữ để nâng thu nhập cho nông dân có lời 30% như lời tuyên bố của thủ tướng, không chỉ đơn thuần nói đến sự khác biệt của giá xăng dầu, phân bón hay tính chất yếu kém, bất khả thi của nghị quyết thu mua lúa tạm trữ. Mục đích chính là nói đến một sự thật khác, là năng lực thật sự của số đông lãnh đạo ít học bảo thủ, hiểu biết giới hạn đã bị thiểu số gian manh, có phần hiểu biết hơn thao túng quyền lực, thu gom quyền lợi .
Thật ra, để cho nông dân nâng cao lợi tức thu nhập cũng không khó, không cần phải ra nghị quyết, nghị định này nọ hoặc hô hào cho nông dân có lời 30% nặng cảm tính hơn thực tế bởi chúng ta ai cũng thấy, giá lúa 2.000 VND tăng dần lên 5.000 VND người trồng lúa vẫn không có lãi khả quan để nâng mức sống và giá thịt heo hơi từ lúc 20.000 VND leo dần lên 50.000 VND người nuôi heo vẫn bị lỗ. Thế thì giá lúa, gíá thịt heo bao nhiêu thì người nông dân mới có lãi, nguyên nhân đến từ đâu, do đâu?
Thiển nghĩ để giải quyết bài toán nâng thu nhập cho nông dân chỉ cần sử dụng 1% các chuyên gia giáo sư, tiến sĩ của nhà nước hiện có, nghiên cứu thực hiện kế hoạch sản xuất từng phần đến tự túc toàn phần nhằm bình ổn các mặt hàng thiết yếu, sử dụng trong nông nghiệp như phân bón, thuốc trừ sâu rầy dịch bệnh, thực phẩm nuôi gia súc, nuôi trồng thủy sản…kể cả trợ giá cho nông dân, giúp hạ giá thành sản xuất, ngăn chận gian thương, lợi ích nhóm thao túng thị trường, đầu cơ tích trữ. Bên cạnh đó là từng bước ngăn chận tiêu cực phát sinh trong công ty độc quyền lúa gạo quốc doanh, kể cả giải thể công ty quốc doanh, thiết lập từng phần cơ chế thị trường cho nông dân được hưởng giá thị trường, là nông dân có thể nâng cao thu nhập, nâng cao mức sống, không cần đến nghị định, nghị quyết…hay hô hào quyết tâm chính trị, chính em chi cả!
Đúng ra, nếu là lãnh đạo tối cao thực sự có năng lực, có khả năng tương đối phải thực tế hơn, phải chuyên cần học hỏi nắm bắt tình hình chuyển đổi của thế giới để nhận ra rằng các kế hoạch phát triển kinh tế xã hội, các chính sách, nghị quyết, nghị định…không thể hữu hiệu với tư duy đơn thuần cảm tính “quyết tâm chính trị…” nhất là phải thấy một bộ phận không nhỏ suy thoái đạo đức lối sống thừa hành, tìm mọi cách kể cả thủ đoạn ăn cắp, ăn cướp vun vén cho bản thân, gia đình, phe nhóm…phá nát các kế hoạch to lẫn kế hoạch nhỏ do chính phủ đề ra.
Thực sự, nhân khi theo dõi diễn biến đề án tái cấu trúc kinh tế Việt Nam và nhắc đến chuyện nhỏ, không có gì lớn lao như giá cả xăng dầu, phân bón hay đề xuất mua lúa tạm trữ cho nông dân có lãi đều do cán bộ quan chức nhà nước nắm độc quyền nhưng cơ chế này không giúp cho đời sống nông dân tốt hơn, là muốn chỉ ra một mảnh hư hoại phát sinh từ cơ chế, hệ thống nhà nước độc quyền đã tự biến thành công cụ bóc lột “giá trị thặng dư” của giai cấp nông dân, giai cấp lãnh đạo nhà nước, xã hội vượt xa bọn địa chủ ác ghê, độc ác hơn tư bản rừng rú của vài thế kỷ trước và với tầng lớp lãnh đạo bảo thủ không chịu “học” hiểu biết giới hạn thì còn trông mong gì ở cái gọi là “cấu trúc”tái tới, tái lui cho đến bao giờ kinh tế “chín” đây hở trời!

Lê Nguyên