June 10, 2013

Tản mạn về mảnh bằng Ph.D

Những năm gần đây có khá nhiều sinh viên Việt Nam du học ở Mỹ và nhiều nước khác, bằng nhiều con đường khác nhau. Người có học bổng, chức trợ giảng (teaching assistant – TA), hoặc trợ nghiên cứu (research assistant – RA), người thì du học tự túc. Tôi không nhớ chính xác là đã đọc ở đâu đó rằng có hơn nghìn du học sinh mỗi năm sang Mỹ. Nhiều người trong số họ theo học tiến sĩ (Ph.D).
Image


Ảnh: Tiến sĩ đỏ rực trong ngày 17/7/2011, tại Học viện Khoa học Xã hội, số 477 Nguyễn Trãi, Thanh Xuân, Hà Nội (Học viện khoa học xã hội)


Image


Ảnh: bằng giả của ông Nguyễn Ngọc Ân (giám đốc sở Văn hoá – Thể thao 
& Du lịch Phú Thọ làm tiến sĩ tại Mỹ nhưng không biết tiếng Anh).
Image


Ảnh: một mẫu phôi bằng giả rao bán trên mạng

Thông tin về làm thế nào để xin học bổng, TA, RA, xin thư giới thiệu, cách viết dự định cá nhân (personal statement), vân vân đầy rẫy trên các mailing lists trên Internet.
Thế nhưng, một số câu hỏi quan trọng mà tôi ít thấy sinh viên hỏi là: “tại sao lại học Ph.D?”, “có đáng bỏ thời gian học Ph.D hay không?”, “làm thế nào để đánh giá mảnh bằng Ph.D?”, “tôi có đủ khả năng để học Ph.D hay không?”, “học Ph.D xong rồi làm gì?”, vân vân.
Có lẽ ta cần một luận án … Ph.D để trả lời phần nào thỏa đáng các câu hỏi trên. Cũng có lẽ có ai đó trong các ngành giáo dục hay tâm lý học đã làm rồi. Về mặt kinh tế thì một người bạn cho tôi biết đã có cả mớ công trình nghiên cứu về “cái giá của giáo dục” (returns to education).
Trong bài viết này, tôi thử lạm bàn lan man xung quanh các câu hỏi trên. Bài viết hoàn toàn không mang tính hàn lâm (academic), nghĩa là sẽ không có các con số thống kê, bảng phân tích, để ủng hộ một (vài) luận điểm nào đó. Sẽ không có tham khảo đến các nguồn thông tin tín cẩn và các thứ tương tự. Tác giả chỉ dựa trên các kinh nghiệm, quan sát, và suy nghĩ cá nhân, sau gần chục năm học và “hành nghề” Ph.D ở Mỹ.
Tôi chắc là một cá nhân khác trong hoàn cảnh của tôi sẽ có không ít ý kiến bất đồng. Tôi cũng không có tham vọng nói hết được những cóp nhặt kinh nghiệm của mình. Ngoài ra, tôi sẽ nhấn mạnh nhiều hơn mặt trái của việc học Ph.D.
Ðiều tôi hy vọng là qua bài viết này, tôi có thể giúp cho các sinh viên (cùng gia đình) sẽ và đang học Ph.D ít nhiều chuẩn bị tinh thần cho đoạn đường chông gai nhưng thú vị này; hy vọng chỉ ra được một góc nhìn khác về Ph.D so với quan niệm chung của xã hội.

1. Ph.D là gì?


Trước hết ta hãy thử bàn về mảnh bằng Ph.D từ cái nhìn hàn lâm. Ph.D là viết tắt của chữ Doctor of Philosophy. Học bậc Ph.D, cao nhất trong các học bậc, đầu tiên xuất hiện ở Ðức, sau đó được Mỹ và nhiều nước phương tây khác sử dụng. Bằng Ph.D đầu tiên của Mỹ xuất hiện khoảng cuối thế kỷ 19. (Ơ Y’ cho đến những năm 1980 mới có bằng Ph.D.)
Từ Ph.D có gốc latin là Philosophiae Doctor. Chữ doctor nghĩa là “thầy” (teacher), và “chuyên gia”, “chức trách” (authority). Chữ philosophy (triết học) có nguồn gốc từ thời trung cổ (medieval) ở Châu Ảu, khi mà các trường đại học có bốn chuyên khoa (faculty) chính: thần học (theology), luật học (law), y học (medicine), và triết học (philosophy). Philosophy ở đây dùng để chỉ các ngành học không dẫn đến một nghề nghiệp thực tế nhất định của thời đó như người của nhà thờ, luật sư, và bác sĩ.
Ðến nay thì không phải Ph.D nào cũng liên quan đến philosophy, cho dù lấy theo nghĩa bóng nhất của từ này. Tuy nhiên chữ doctor vẫn mang đầy đủ ý nghĩa của nó. Ở phương Tây, trong nghi thức giao tiếp người ta gọi một người có bằng Ph.D là doctor. Hầu hết các trường đại học đều đòi hỏi toàn bộ giảng viên và các giáo sư có bằng Ph.D. Ða số các nhà nghiên cứu ở các phòng nghiên cứu chuyên nghiệp đều có bằng Ph.D.
Tuy vậy, điều ngược lại không đúng: không phải tất cả các Ph.D đều có thể làm giảng viên, giáo sư, hay nghiên cứu viên. Có những Ph.D thậm chí chẳng bằng một kỹ sư thông thường. Cũng có khá nhiều Ph.D, sau khi “hành nghề” một thời gian thì lên chức, hoặc chuyển sang làm salesman hoặc làm quản lý, vân vân. Ta sẽ quay lại đề tài này sau.
Cái nhìn hiện đại của Ph.D như sau. Ðể hoàn tất Ph.D, sinh viên phải đạt được hai mục tiêu chính: (a) hoàn toàn tinh thông một ngành (hoặc phân ngành) nào đó, và (b) góp phần mở rộng khối kiến thức của nhân loại về ngành đó.
Mục tiêu (b) là cái lõi để phân biệt bậc Ph.D với các bậc học khác. Ph.D không phải là cái bằng “nhai lại”: đọc nhiều, thi lấy điểm cao là xong. Một Ph.D đúng nghĩa phải có một vài công trình và ý tưởng nghiên cứu của riêng mình (originality).
Về mặt lý thuyết thì là thế. Thực tế ra sao?

2.     ”Nghề” Ph.D: đoạn trường cũng lắm chông gai


Ở Mỹ, là sinh viên sau đại học (graduate student) cũng là một nghề. (Tôi không dùng từ “nghiên cứu sinh” vì không phải graduate student nào cũng làm nghiên cứu thực thụ, nhất là các sinh viên đang học thạc sĩ.) Các graduate students thường làm TA hoặc RA, với mức lương khoảng 900USD đến 1200USD một tháng (sau thuế), tiền học được bao. Sống tằn tiện thì mức lương này vừa đủ một người sống. Thường thì các gradudate students sống chui rúc trong một căn hộ nhỏ bé nào đó (dĩ nhiên là có ngoại lệ, đa phần do may mắn), hầu hết thời gian dùng ở các phòng lab (phòng thí nghiệm hoặc phòng máy tính) và thư viện. Tối về đến nhà là lăn ra ngủ để rồi sáng mài mèo con lại hớn hở bút chì bánh mì lên đường.
Kể chuyện cuộc sống gradudate students thì có lẽ cần một tiểu thuyết vài trăm trang. Ðiều tôi muốn đề cập là: trong hoàn cảnh làm việc căng thẳng như vậy, một sinh viên thông thường thỉnh thoảng sẽ phải tự đặt câu hỏi “có đáng không?” Nhất là khi công việc học tập và nghiên cứu không trôi chảy. Mà kể cả khi nó hoàn toàn trôi chảy, tính về các mặt kinh tế, tinh thần, thời gian, và … philosophy, câu hỏi trên vẫn hoàn toàn hợp lệ.
Về mặt kinh tế thì lương trung bình của Ph.D ra trường có nhỉnh hơn thạc sĩ (M.S) và bậc đại học (B.S) một chút, nhưng sự khác biệt này không khỏa lấp được lỗ lã cho thu nhập đã mất trong khoảng thời gian làm Ph.D: trung bình từ 4 đến 5 năm. Tính tổng số USD kiếm được cho mỗi giờ học tập thì Ph.D là hạng bét (tính tương đối theo từng ngành học).
Về mặt tinh thần thì làm việc căng thẳng và cật lực trong một thời gian dài trong một môi trường cạnh tranh tương đối công bằng nhưng khắc nghiệt (!) hoàn toàn có thể ảnh hưởng xấu đến tâm lý cá nhân. Ðiều này đặc biệt đúng với sinh viên du học: thiếu thốn các nhu cầu văn hóa và tinh thần cơ bản của quê hương, cơ hội tìm bạn tình hoặc bạn đời bị giảm thiểu (với phái nam), vân vân. Không phải hiếm mà người ta hay thấy bọn Ph.D hơi … gàn gàn. Công bằng mà nói, gradudate students do thiếu thốn văn hóa hay tìm cách nghiên cứu học hỏi thêm cái này cái khác ngoài ngành của mình (nhạc, thơ, lịch sử, chính trị, triết học, …), cho nên bọn gàn cũng có thể rất đa tài. Ở Mỹ thì địa vị xã hội của một Ph.D cũng chẳng hơn gì các nghành nghề khác là mấy.
Yếu tố tinh thần này rất quan trọng. Có không ít các gradudate students cần đến 8, 9 năm mới làm xong Ph.D. Nhiều năm trời “ở mãi kinh kỳ với bút nghiên”, ngoảnh đi ngoảnh lại chưa làm được gì ra hồn mà đã ngoài 30. Khi thị trường việc cho Ph.D bị thuyên giảm thì người ta rơi vào cái vực muôn thuở: “về hay ở”, “về thì đâm đầu vào đâu?”. Nhiều năm làm việc với mức lương vừa đủ sống, các Ph.D mới ra trường hoàn toàn không dành giụm được gì, chưa nói đến việc nợ thẻ tín dụng kha khá. Dù các nhà chức trách đã có kế hoạch đãi ngộ nhân tài, chế độ này vẫn còn xa rời thực tế. Ðầu tư tinh thần và thời gian của một Ph.D quá nhiều để có thể hài lòng với một công việc một vài triệu đồng một tháng. Họ sẽ phải tự hỏi: nếu xưa mình không đi học thì bây giờ cũng có thể đã phây phây lương vài triệu một tháng? Vậy cả chục năm trời bỏ ra công cốc à? Tôi đã nhập nhằng yếu tố tinh thần và kinh tế, nhưng đôi khi ta không tách rời chúng được.
Một khía cạnh khác của yếu tố tinh thần là sức ép của gia đình và người thân. ”Người ta 4 năm đã xong Ph.D, vợ con nhà cửa đàng hoàng, bọn không Ph.D thì cũng giám đốc với trưởng phòng, xây nhà to cửa rộng cho bố cho mẹ; còn mày bây giờ ngoài 30 mà vẫn cứ lông bông tay trắng. Ông chẳng ra ông, thằng chẳng ra thằng”.
Về mặt triết học mà nói thì có đáng học Ph.D không? Câu hỏi này phụ thuộc rất nhiều vào bản thân sinh viên: đi học Ph.D để làm gì? Ta sẽ quay lại điểm này trong phần tới.
Bây giờ hãy giả dụ cô/anh Ph.D yêu dấu của ta tìm được một công việc ổn định ở nước ngoài, quyết định ở lại tích lũy tư bản giúp gia đình và tích lũy kinh nghiệm để  sau này, cách này hay cách khác, (về) giúp quê hương. Có hai nhánh công việc chính cho một Ph.D mới ra trường: (a) làm việc ở một phòng nghiên cứu chuyên nghiệp nào đó, và (b) một chân giảng viên hoặc giáo sư ở một trường đại học.
(Hai công việc này có thể chỉ có được sau một vài năm làm postdoc nữa . Ta hãy cứ gộp luôn postdoc vào tổng thời gian cho tiện, mặc dù lương postdoc khá hơn lương gradudate students.)
Lương bổng và giá trị của vị trí mới phụ thuộc hoàn toàn vào việc người ta đánh giá Ph.D như thế nào. Tôi sẽ bàn về việc này trước. Tôi cũng có ý nói lan man vềđề tài “định trị Ph.D” sau khi đọc một bản tin ở VNExpress thấy trong nước người ta có nói về đánh giá Ph.D loại “giỏi, khá, trung bình” (sau một buổi họp nào đó). Phạm vi “định trị Ph.D” của tôi chủ yếu áp dụng cho các nghành kỹ thuật và khoa học tự nhiên như điện, điện tử, khoa học máy tính, toán, lý, …
Khi xưa thì giá trị của một Ph.D mới ra trường tùy thuộc vào giá trị công trình nghiên cứu trong luận văn tốt nghiệp. Sau khi ra trường thì doctor mới sẽ phát triển công trình này thành một vài bài báo đăng ở các tạp chí (journals) và hội nghị (conference) chuyên ngành. Các bài báo này đều được phê bình (reviewed) bởi các chuyên gia đã trưởng thành trong cùng ngành. Các bài báo không đóng góp gì nhiều hoặc vớ vẩn sẽ không được nhận đăng.
Hiện nay thì áp lực đăng báo (publication) của graduate students khi còn đang học lớn hơn gấp bội. Một công việc kha khá ở một trường đại học hay phòng nghiên cứu danh tiếng thường nhận doctor mới với hơn chục bài báo. Trung bình một giáo sư trẻ mới ra trường trong ngành khoa học máy tính có đến khoảng 3-5 journal papers và cả chục conference papers.
Dĩ nhiên số lượng là thứ yếu, chất lượng mới quan trọng. Một công trình chất lượng cao sẽ được nhiều người biết đến rất sớm, và có thể nói không ngoa là nó quan trọng hơn cả trăm bài báo dạng … “bổ củi”. (Bổ củi là tính từ dân gian trong giới khoa học Việt Nam để chỉ các bài báo thường thường bậc trung, ai làm mãi rồi cũng xong.)
Ðối với Ph.D ở Mỹ thì điểm học trung bình khi học Ph.D hầu như không mang ý nghĩa gì cả, ngoại trừ điểm tối thiểu để có thể được tiếp tục học, khoảng chừng 3.3 đến 3.5 trên 4.0, tùy theo trường. Số lượng và chất lượng các bài báo và các công trình nghiên cứu khác (một ứng dụng máy tính chẳng hạn) mới là tiêu chí đánh giá Ph.D. Không có chuyện người ta xếp loại Ph.D trung bình, yếu, giỏi, khá, vân vân. Lý do chính là: làm chuyện này hầu như là vô vọng. Ai có đủ thẩm quyền và thời gian để đánh giá. Kể cả giáo sư hướng dẫn chưa chắc đã biết hết về phân ngành mà sinh viên của mình làm, huống gì người ngoài. Có rất nhiều công trình đăng báo vài năm hoặc vài chục năm sau người ta mới thấy hết giá trị của nó. Cũng có cả tỉ công trình lúc mới đăng thì ai cũng xúm vào khen, nhưng vài năm sau thì lặng tăm.
Dĩ nhiên có khá nhiều các công trình mà người trong ngành đọc biết ngay là “dỏm” hay “xịn”. Nhưng vấn đề chính là không ai có thời gian xếp loại và định trị Ph.D. Ở Mỹ, kinh tế thị trường tương đối công bằng. Ph.D giỏi sẽ được đồng nghiệp biết đến, tìm được việc ở các trường đại học và phòng nghiên cứu danh tiếng, vân vân. Cũng có thể có Ph.D giỏi không tìm được việc, hoặc Ph.D dỏm “lọt lưới” cung cầu. Các trường hợp này đều là ngoại lệ hiếm hoi.
Lại nói thêm về đăng báo. Ta hãy nhớ mục tiêu (b) của Ph.D: đóng góp vào khối kiến thức của nhân loại. Ph.D mà không có bài báo nào thì có 10 Ph.D cũng hoàn vô nghĩa, theo nghĩa tinh khiết nhất của chữ Ph.D. Chí ít, Ph.D phải chia xẻ các thu lượm và nghiên cứu của mình với đồng nghiệp ở một vài hội nghị và journal danh tiếng nào đó.
Các nhà xuất bản khoa học ở phương Tây cũng làm kinh tế. Có rất nhiều các hội nghị và journals hạng bét, bài vớ va vớ vẩn cũng đăng vào được. Chỉ có người trong ngành mới biết được hội nghị và journal nào có uy tín. Mà kể cả ở các nơi có uy tín này ta vẫn có thể tìm thấy các bài báo tồi.
Tóm lại, công việc “định trị Ph.D” hoàn toàn không đơn giản chút nào. Áp lực phải đăng báo đè rất nặng lên vai các gradudate students. Ngược lại, cảm giác công trình của mình được đồng nghiệp công nhận và đánh giá cao cũng rất tuyệt vời!
Trong 5, 6 năm đầu sau khi ra trường, bất kể công việc là giáo sư hay nghiên cứu viên, áp lực viết báo và xin tiền làm nghiên cứu còn nặng hơn khi còn là sinh viên nữa.
(Ở đây ta loại trừ các trường hợp người ta chỉ muốn có Ph.D để theo đuổi nghề giảng viên (lecturer) nào đó. Có lẽ phải khẳng định rằng mục tiêu này cũng cao quí như các mục tiêu “cạnh tranh khắc nghiệt” khác.)
Nếu Ph.D trẻ không khẳng định được mình trong 5, 6 năm đầu tiên này thì thường là sẽ không giữ được công việc của mình. Có lẽ bạn đọc cũng có thể tưởng tượng được áp lực này nặng như thế nào. Các bài báo đều là các công trình sáng tạo mà trước đó chưa có ai làm, chưa có ai nghĩ ra (chí ít là về nguyên tắc). Làm thế nào mà ai đó có thể đảm bảo một năng suất sáng tạo nhất định trong một thời gian dài như vậy? Có đáng bỏ ngần ấy thời gian và công sức cho một mục tiêu mà phần thưởng về cả kinh tế, tinh thần, triết học, sức khỏe đều khá mập mờ?

3.     Tại sao lại học Ph.D? Có nên học Ph.D không?


Ta thử ghi ra đây một phần nhỏ các lý do:
a) Bạn bè đều đi nước ngoài học sau đại học.
b) Ðược xã hội nể trọng, oách ra phết.
c) Ðể học được kiến thức tiên tiến.
d) Không rõ lắm. Từ bé học đã giỏi, thì cứ tiếp tục học.
e) Có lẽ là con đường duy nhất để cải thiện đời sống gia đình và cá nhân.
f) Ðể mở tầm mắt ra những chân trời mới.
g) Ðể sau này về làm giáo sư đại học.
h) Ðể được làm nghiên cứu khoa học.
i) Ðể thay đổi thế giới quan.
……
z) Tất cả các lý do trên.
Và z phẩy) Không làm Ph.D thì làm gì?
Ðối với đa số gradudate students và graduate-students-tương-lai thì câu trả lời là một tập con khá lớn của vài tá câu trả lời mà ai cũng có thể nghĩ ra.
Ta hãy thử phân tích vài chọn lựa quan trọng nhất.
Làm Ph.D để mở mang kiến thức. Ðây là một mục tiêu rất quan trọng và mang tính cá nhân. Mark Twain từng nói: “đừng để trường lớp cản trở con đường giáo dục của bạn” (Don’t let school get in the way of your education). Trường lớp không phải là con đường duy nhất đến Rome của tri thức. Tuy vậy, trong hoàn cảnh lạc hậu của một nước thế giới thứ  ba như Việt Nam ta, thì ra nước ngoài học thêm là con đường hữu lý.
Câu hỏi chính mà ta nên đặt ra là chỉ nên học M.S thôi, hay là học cả Ph.D. Chỉ về kiến thức mà nói, thì hai năm M.S cũng đủ cho một sinh viên thông minh sau đó tự học. Làm Ph.D cũng đa phần là tự học thôi.
Làm Ph.D để có một cuộc sống tốt đẹp hơn, được xã hội nể trọng hơn; vì bạn bè ai cũng học Ph.D; có bằng Ph.D rất oách; từ bé đã học giỏi thì cứ tiếp tục học; vân vân.
Một Ph.D thực thụ sẽ cho bạn biết rằng các lý do loại này đều là sai lầm to lớn! Tôi hoàn toàn không có ý định “giảng đạo” về chọn lựa cá nhân của ai. Tôi cũng không nói động cơ “hám bằng cấp” hay “oai oách” là sai trái. Ðó là chọn lựa của từng cá nhân. Ðiểm tôi muốn nói là các động cơ loại này sẽ không thể giúp sinh viên hoàn thành tốt việc học Ph.D. Việc hay so sánh mình với bạn bè và người khác sẽ tạo nên áp lực tinh thần không thể chịu nổi trong khi học. Yêu thích “tiếng tăm” cũng vậy. ”Học giỏi”, theo nghĩa ở ta, là thi thố điểm cao và “nhai lại” những gì được dạy, cho nên học giỏi chưa chắc đã liên quan mấy đến khả năng sáng tạo – khả năng sống còn của Ph.D.
Từ khóa dẫn đến thành công của sinh viên Ph.D phải là “đam mê”. Ðam mê học hỏi và sáng tạo trong một phân ngành nhất định! Trừ những người thật sự xuất chúng thì đa số chúng ta sẽ không thể làm thành công Ph.D ở một ngành nào đó chỉ vì “xã hội cần nó”, hay “nó kiếm ra tiền”.
Nếu chỉ đam mê học hỏi không thôi thì cũng không đáng bỏ ra ngần ấy thời gian để làm Ph.D. Ta hoàn toàn có thể làm M.S rồi tự đọc, tự học thêm.
Tất cả các thành quả như chức vụ, danh tiếng, oai oách, vân vân đều phải, và nên, là sản phẩm phụ của quá trình theo đuổi nỗi đam mê sáng tạo và mở mang tri thức này.
Ðấy là nói về “động lực” học Ph.D. Thế còn “khả năng” thì sao? Quá trình học Ph.D lên xuống như hình sin. Sẽ có bao nhiêu trở ngại kinh tế, tinh thần phải vượt qua. Một trong những trở ngại lớn nhất là: sau một vài thất bại trong nghiên cứu, các sinh viên sẽ phải tự hỏi “ta có đủ khả năng làm Ph.D không nhỉ?”
Ðam mê và khả năng tạo thành cái vòng luẩn quẩn. Ta có xu hướng đam mê cái mà ta giỏi, và ta thường xuất sắc ở công việc mà ta đam mê. Nhảy vào được cái vòng này là hành trình cá nhân.Có lẽ không ai trả lời thay ta được.

4.     Phụ huynh: xin đừng gây áp lực tâm lý


Không ít các bậc phụ huynh mà tôi được dịp quan sát đặt rất nhiều kỳ vọng vào con em mình về con đường hàn lâm. Họ đầu tư tiền bạc và thời gian, nuôi niềm hy vọng ngày nào đó sẽ có một “trạng nguyên” vinh quy bái tổ, nở mày nở mặt với hàng xóm láng giềng và bè bạn. Chuyện này có ở tất cả các học bậc, không riêng gì Ph.D. Tuy vậy, áp lực ở Ph.D lớn hơn khá nhiều vì graduate students sẽ phải cạnh tranh với các sinh viên xuất sắc trên toàn thế giới.
Tôn trọng tri thức và học tập là điều tốt, và bằng cấp là một thước đo tương đối chính xác của tri thức. Nhưng nó không phải là thước đo duy nhất. Ðó là chưa nói đến các câu hỏi như: đạt được tri thức loại gì thì mới được coi là “thành nhân”? Khó mà có thể đo lường xem một Ph.D và một anh đạp xích lô ai có “đóng góp” nhiều hơn cho xã hội, hay ai “hạnh phúc” hơn ai, theo bất kỳ nghĩa nào của các từ này. Có một ranh giới rất bé giữa “tôn trọng tri thức” và “hám bằng cấp”.
Hy vọng tôi đã hay sẽ thuyết phục được bạn rằng Ph.D cũng thượng vàng hạ cám. Một Ph.D về khoa học máy tính chẳng hạn, nếu làm nghiên cứu về một phân ngành chẳng ai quan tâm, đăng vài bài báo ở các chỗ linh tinh, thì sẽ từ từ xa rời dòng chảy chính của tri thức nhân loại. Có không ít Ph.D về khoa học máy tính lập trình không ra hồn, thua hẳn một kỹ sư thông thường, chính là vì lý do này.
Tôi lại triết lý 3-xu rồi. Ðiều tôi muốn nói là niềm “hy vọng” của các bậc phụ huynh tạo áp lực cực lớn ảnh hưởng đến kết quả học tập và nghiên cứu của sinh viên. Trong khi chọn lựa nghề nghiệp tương lai đáng lẽ nên là chọn lựa cá nhân!

5.     Ðạt được Ph.D chỉ là bước đầu


Còn khá nhiều điểm khác tôi muốn nói, nhưng bài đã dài. Lấy Ph.D chỉ là bước đầu rất nhỏ của một nghề nghiệp, cũng như bao nhiều nghề nghiệp khác. Có Ph.D có thể đồng nghĩa với những phần thưởng đáng quí về kinh tế và tinh thần về cả mặt xã hội lẫn cá nhân, nhưng bù lại cái giá phải trả về mọi mặt cũng cao không kém. ”Nghề” Ph.D chẳng cao quí hơn nhiều nghề khác, mà thời gian và công sức bỏ ra lại nhiều hơn khá nhiều.
Cuộc sống và các chọn lựa cá nhân lẽ dĩ nhiên là phức tạp. Tôi hy vọng qua bài viết này các bạn trẻ có thể có một cái nhìn và suy nghĩ cẩn trọng hơn trước khi theo đuổi “con đường đau khổ” này. Ta không thể theo nó chỉ vì các ảo tưởng danh tiếng, bằng cấp và tiền bạc. Ðầu tư như vậy không có lãi!
Một trong những điều kiện cần cho nghề này là khả năng theo đuổi nỗi đam mê nghiên cứu và sáng tạo trong một thời gian dài. Bằng Ph.D chỉ là một bước cỏn con trong hành trình chông gai nhưng thú vị này. Nó hoàn toàn không phải là con đường duy nhất.
Thứ bảy, 29 tháng 11, 2003.
Theo NQH

TRUYỆN CƯỜI: BẰNG TIẾN SĨ

Gia đình nọ có 3 thế hệ ông-cha-cháu, 2 người ông và cháu đều là tiến sĩ trong khi ông bố lại ko có học vị gì. Chính vì thế mà ông bố thường hay bị 2 ông cháu cằn nhằn, mỉa mai.

Một hôm trong bữa cơm, 2 ông cháu lại cằn nhằn như thường lệ. Ông bố tức quá đập bàn đứng dậy, chỉ mặt thằng con quát:
- Mày đừng có mà tinh vi, thế bố mày có bằng tiến sĩ như bố tao ko mà mày kênh kiệu!
Đoạn quay sang chỉ vào ông già, bảo :
- Cả ông nữa, ông đừng tinh tướng quá, con ông có bằng tiến sĩ như con tôi không?
Ông và cháu: !!!

 Image
(Sưu tầm)

June 9, 2013

Một ví dụ về sự khác biệt văn hoá Đông - Tây

Văn hóa tính dục của bất cứ dân tộc nào cũng bị chế ước và chịu ảnh hưởng của nền văn hóa lớn trong vùng văn hóa bản địa. Nhà nghiên cứu Đàm Đại Chính (Trung Quốc) đưa ra một ví dụ dưới đây

Trong chương trình học của sinh viên lưu học tại Mỹ, nhà trường bố trí giờ thảo luận tỉ lệ rất cao nhằm nâng cao năng lực khẩu ngữ của sinh viên. Trong sách học có câu chuyện thế này: Ở một vùng nọ có con sông đầy cá sấu, trên sông chỉ có một chiếc cầu nhỏ. Trên hai bờ sông đối diện có một cặp tình nhân, cô gái và chàng trai mỗi ngày phải gặp nhau một lần. Một hôm nước lũ tràn về kéo sập mất cầu.

Cô nàng nhớ người yêu chạy khắp nơi nhờ người đưa nàng qua sông, nhưng đều bị từ chối, chỉ có một chàng trai tên Fan nói: “Nếu nàng chịu ngủ với tôi một đêm, tôi sẽ đưa nàng qua sông”. Bài học “quy định”, nếu cô không đồng ý với Fan thì ngoài ra không có cách nào khác để sang sông. Cô gái băn khoăn lắm, suy nghĩ 8 ngày, cuối cùng phải đồng ý. Nhưng khi người yêu biết được nàng đã qua sông bằng cách nào, chàng đã nổi giận tát nàng và ném nàng xuống con thuyền của Fan. Fan thấy vậy, lập tức lên bờ tìm chàng trai đánh cho một trận. Cuối cùng bài học nêu câu hỏi: “Trong ba người này, bạn phục người nào nhất? Đồng tình với ai nhất? Căm ghét ai nhất?”.

Sinh viên bốn nước phương Đông: Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc và Việt Nam nhất trí đồng tình với người tình của cô gái, vì chàng vô ý bị “cắm sừng”. Họ đều căm ghét Fan, vì hắn thừa lúc người ta gặp khó khăn mà lợi dụng, lại còn đánh người nữa. Đồng thời, họ cho rằng cô gái không nên dùng hạ sách này.




Nhưng các sinh viên đến từ các nước phương Tây: Pháp, Tây Ban Nha, Hy Lạp thì phản đối kịch liệt. Họ khâm phục nhất là Fan, cho rằng Fan dám nghĩ, dám làm, Fan yêu cô gái nên thẳng thắn đề ra yêu cầu của mình. Khi cô gái bị người tình bỏ rơi, Fan không do dự trả thù cho nàng – đó chính là hành vi của đấng nam nhi. Họ nói, họ cũng khâm phục cô gái, cô dám hy sinh mọi thứ cho tình yêu. Họ căm ghét nhất là người tình của cô gái, bao nhiêu thời gian trôi qua mà anh ta không dám qua sông mà để cho người yêu phải tự mạo hiểm, và anh ta đã bỏ cô gái vì cái gọi là lòng tự tôn. Anh ta thực sự là một thằng hèn.

Điều khác nhau này do cách nhìn của hai nền văn hóa Đông – Tây đối với hành vi của 3 nhân vật, liên quan đến quan niệm về quan hệ giữa cá thể với quần thể và quan niệm về giá trị nhân sinh khác nhau.

Văn hóa phương Tây từng trải qua chủ nghĩa cấm dục tôn giáo thời Trung cổ, nhưng phong trào Phục hưng đã giáng cho thế lực phong kiến mà đạo Cơ Đốc làm đại biểu một đòn hủy diệt. Tình dục là nhân tố làm cho con người yêu cuộc sống, là thứ đẹp đẽ và cao thượng, đặc biệt các dân tộc Latinh Tây Âu theo đuổi những thú vui cuộc đời “rượu tinh, người đẹp, ca vui”, thường biểu lộ tình cảm mãnh liệt cao độ, xem những hành vi lãng mạn trước hôn nhân và ngoài hôn nhân “là việc bình thường của con người”. Đến nay, người phương Tây càng xem tình cảm lãng mạn giữa trai gái là “mục tiêu có giá trị nhất của đời người”.

Trong khi đó, ở phương Đông thường không cho trai gái tự do tiếp xúc, không cho cơ hội giao lưu tình cảm mà nhấn mạnh “nam nữ thụ thụ bất thân”. Với phụ nữ còn nhấn mạnh “trinh tiết”, “một gái không lấy hai chồng”, “chết đói việc nhỏ, thất tiết việc to”. Hầu như con người không phải sống vì mình mà sống vì những nguyên tắc đạo đức nào đó, trên vấn đề tình yêu-tình dục, nam nữ không có quyền quyết định độc lập mà phải do sắp đặt. Âm hồn của văn hóa phong kiến vẫn tồn tại, ẩn náu trong các tầng nấc sâu nhất, chi phối quan niệm tình dục của con người.
Nguồn:  Lao Động

Mối quan hệ giữa bất động sản và Kinh tế vĩ mô

(Nguồn: saga.vn)
Theo các tác giả Franklin Allen & Douglas Gale (“Bubbles and Crisis,” The Economic Journal, Vol. 110(460), pp. 236-255., 2000), hai trạng thái bong bong có thể liên quan trực tiếp tới thị trường bất động sản do tác động của tín dụng như sau.
Thứ nhất, dịch chuyển rủi ro. Đây là khái niệm xuất hiện khoảng giữa những năm 1970, theo đó nhà đầu tư vay tiền để đầu tư vào các tài sản chưa tồn tại. Khi này dịch chuyển rủi ro khiến cho việc định giá vượt trội lên so với giá trị cơ bản của tài sản, sinh rabong bong. Thường bong bong này làm cho khủng hoảng nếu xảy ra sau đó, thì sẽ trầm trọng hơn.
Thứ hai, sự tăng trưởng đột ngột tín dụng gây ra bong bóng. Tăng trưởng nhanh nguồn tín dụng giống như tín hiệu “động viên” người ta quẳng tiền vào các vụ đầu tư rủi ro, ở hiện tại, tác động lên giá tài sản.
Những quá trình có nhiều thay đổi quan trọng, ở tầm cỡ chính sách vĩ mô, theo Allen và Gale, cũng thường gây những tác động rất khó dự báo lên hành vi các trung gian tài chính, quá trình tái tạo tiền và độ ổn định chung toàn hệ thống tài chính.
Mối quan hệ bất động sản và kinh tế vĩ mô
Trong công trình công bố năm 2000, tác giả Karl E. Case (“Real Estate and the Macroeconomy,” Brooking Papers on Economic Activity, Vol. 20(2), pp. 119-162) nghiên cứu vai trò của hai nhóm bất động sản dân sinh và thương mại trong chu kỳ vận động kinh tế của Hoa Kỳ. Nội dung nghiên cứu tập trung vào: (1) vai trò của lĩnh vực bất động sản trong mở rộng tổng cầu của nền kinh tế, (2) các rủi ro của khu vực tài chính đối với việc chấp nhận tài sản thế chấp là bất động sản, và (3) các hệ quả của lạm phát bất động sản với nền kinh tế.
Thị trường nhà ở tại Hoa Kỳ có qui mô rất lớn, tăng giá nhanh chóng và mang lại thu nhập vốn đáng kể cho chủ sở hữu. Tuy vậy, lạm phát nhà ở chỉ đóng góp một tỷ lệ khiêm tốn trong tăng trưởng tiêu dùng của giai đoạn 1995-2000. Thêm nữa, mức tăng giá nhà ở trong những năm cuối thập kỷ 1990 dường như chịu sự điều khiển của các nhân tố cơ bản trong nền kinh tế chứ không phải do đầu cơ hay quán tính tăng giá (như đã diễn ra tại các thị trường trong khu vực). Mức tăng gộp của giá nhà ở đã thu hẹp tương ứng nguồn vốn dành cho thị trường chứng khoán trong 5 năm này. Và cuối cùng, do giá nhà ở rất khó đi xuống và có quán tính khá lớn, có vẻ như suy thoái kinh tế không tạo ra sụt giảm đáng kể với giá nhà ở.
Thị trường bất động sản cầm cố dân sinh tại Hoa Kỳ vào năm 2000 có qui mô khoảng 6,2 nghìn tỷ đô-la và phát triển ngày một phức tạp. Giai đoạn 1995-2000 ghi nhận vận hành hiệu quả và lành mạnh của thị trường bất động sản cầm cố Hoa Kỳ. Rủi ro tài sản cầm cố được phân bổ rộng khắp các công ty bảo hiểm tài sản cầm cố, người sở hữu cácchứng khoán được đảm bảo bằng tài sản cầm cố, và những người cho vay theo danh mục. Mặc dù vậy, vẫn tồn tại những lo ngại về năng lực đa dạng hóa danh mục đầu tư của những người nắm giữ tài sản cầm cố, rủi ro của thị trường phòng hộ, và mức rủi ro ngày một cao hơn của thị trường nợ dưới chuẩn (chừng 5 năm sau, mối lo ngại này đã trở thành một cuộc khủng hoảng tài chính thực sự).
Trong khi đó, giá trị cộng gộp của thị trường bất động sản thương mại vẫn tiếp tục duy trì ở mức cao. Bản chất biến động nhanh chóng của nhóm hàng hóa này trên thị trường bất động sản khiến chúng dễ bị tổn thương trong các thời kỳ sụt giảm của thị trường. Tuy nhiên, thiệt hại với các bất động sản thương mại có thể được giảm bớt dựa trên cơ sở: tốc độ chậm tương đối của các hoạt động xây dựng, cơ chế sở hữu được đa dạng và phân bổ tốt về cấu trúc vốn đầu tư. Những quan sát trên thị trường này cũng chỉ ra rằng các khoản thua lỗ tiềm năng có một tỷ lệ nhỏ tương đối so với mức tăng qui mô vốn hóa của thị trường chứng khoán, thời kỳ từ 1995 đến 2000.
Kết quả nghiên cứu của K. E. Case cũng cho thấy tăng giá nhà ở, tăng tiền thuê nhà (giá thực) và phân khu thu nhập thấp (trong phân bố thu nhập của nền kinh tế) là các tác nhân đáng kể nới rộng khoảng cách thu nhập thực tế giữa nhóm người sở hữu bất động sản và những người thuê sử dụng.
Một câu hỏi quan trọng khác, chưa được Case giải quyết, đó là, sức khỏe của thị trường bất động sản và tài sản cầm cố có thể có tác động thế nào, trực tiếp và gián tiếp, tới những vận động của thị trường chứng khoán (TTCK). Nếu một quan hệ chặt chẽ được kiểm chứng thì một sự sụt giảm mạnh trên TTCK sẽ khai hỏa những khoản thiệt hại trầm trọng với bất động sản và tài sản cầm cố.
Đề cập tới chủ đề này, Edward L. Glaeser (2000) cho rằng không giống như chứng khoán, bất động sản, đặc biệt là nhà ở, vừa là tài sản vừa là tiêu dùng thiết yếu. Đặt giả thiết rằng người ta không có bất kỳ kế hoạch nào về việc thay đổi chỗ ở và cộng đồng đang sinh sống, thì các biến động giá bất động sản có tác động hầu như không đáng kể tới lợi ích ròng của cá nhân. Khi giá bất động sản tăng lên gấp đôi có thể thấy gia tài cũng tăng lên gấp đôi. Nhưng đồng thời, cũng xuất hiện một hiệu ứng ngược chiều. Đó là chi phí để sống trong ngôi nhà cũng đã tăng lên một khoản tương ứng. Giá nhà tăng chỉ mang lại cảm giác về sự giàu có hơn. Trên thực tế, do người sở hữu nhà vẫn cần tiếp tục sinh sống tại đó nên họ không hề giàu lên. Và bởi giá nhà chiếm một tỷ trọng đáng kể trong chi phí sinh hoạt, không thể xem xét biến động giá nhà ở, rộng hơn là giá bất động sản, cùng cách với các thay đổi giá trị của danh mục đầu tư trên TTCK.
Cách tiếp cận kinh tế cổ điền gợi ý rằng độ thỏa dụng cá nhân tăng lên không chỉ trong trường hợp giá bất động sản tăng mà cả khi giá giảm nữa. Lập luận này cho rằng dù giá tăng hay giảm thì người sở hữu bất động sản vẫn có thể sử dụng tài sản đó. Đây là điểm khác biệt rất rõ ràng với nhiều loại tài sản tài chính. Khi giá bất động sản đi xuống, người nắm giữ nó có điều kiện để sử dụng cùng một tài sản với chi phí thấp hơn, và do đó, có độ thỏa dụng cao hơn. Trong trường hợp giá tăng, đáng lý ra người sở hữu phải trả thêm chi phí để sử dụng bất động sản nhưng điều này hiếm khi xảy ra, và như thế, độ thỏa dụng của họ cũng tăng lên. Tuy nhiên, lợi ích có được từ việc sử dụng bất động sản đang tăng giá thường không đáng kể gì so với khản tiền mặt mà người sở hữu bất động sản có thể nhận thêm khi chuyển nhượng tài sản trong giai đoạn cao giá. Người sở hữu bất động sản, có lẽ, thực sự ghi nhận gia tăng lợi ích từ việc tăng giá bất động sản thông qua khả năng tối ưu lại nhu cầu tiêu dùng bất động sản của chính họ tại các mức giá khác nhau. Tăng giá trên thị trường chứng khoán không có tính chất này.
Mức độ vay nợ trong cơ cấu nguồn vốn hình thành sở hữu bất động sản quyết định mức độ thể hiện rõ ràng tới đâu các hiệu ứng trên. Tỷ lệ nợ càng cao thì các tác động càng mạnh và hệ thống ngân hàng là cầu nối giữa vận động của giá bất động sản với các biến động của chỉ số kinh tế vĩ mô. Phần đông các ngân hàng thương mại đều có danh mục bất động sản trong đó các khoản cho vay có thế chấp (bằng bất động sản) thường chiếm tỷ trọng cao. Có một thực tế được chấp nhận phổ biến như một quan điểm ước lệ (dù rằng có thể không hoàn toàn đúng) rằng các cuộc khủng hoảng ngân hàng luôn kết nối tới việc cho vay quá nhiều vào thị trường bất động sản. Xin lưu ý rằng bất động sản chứ không phải chứng khoán hay ngoại hối. Khả năng chứng khoán hóa các bất động sản cầm cố và thế chấp, giúp các ngân hàng xử lý tốt hơn rất nhiều vấn đề này.
Một hình thức khủng hoảng ngân hàng phổ biến khác có nguồn gốc từ việc tăng lãi suất. Lãi suất cao hơn thực sự tạo ra biến cố tại các ngân hàng do phần nhiều tài sản thế chấp và cầm cố có tính chất dài hạn và lãi suất không đổi, trong khi đó, các nguồn vốn của ngân hàng (các khoản huy động vốn như tiền gửi, tiền tiết kiệm) lại có tính ngắn hạn và có lãi suất điều chỉnh. Với nhiều tài sản cầm cố được chứng khoán hóa hơn, sự sai lệch này được giảm nhẹ và thậm chí là biến mất. Các ngân hàng thương mại trở lại chính xác với vai trò một người trung gian trên thị trường tài chính.

10 lời khuyên của chủ tịch cục dự trữ liên bang Mỹ



Thật tuyệt khi trở lại Princeton, khó mà tin rằng tôi đã rời những hội trường nơi đây để chuyển đến Washington được 11 năm. Tôi đã viết thư hỏi thăm về tình trạng của trường mới đây và nhận được câu trả lời là: "Thật tiếc, Princeton nhận được nhiều hồ sơ cho vị trí giảng dạy hơn là số lượng mà chúng tôi có thể đáp ứng".

Tôi sẽ gửi những lời chúc tốt đẹp đến các sinh viên, nhưng trước hết xin được chúc mừng các vị phụ huynh và gia đình có mặt ở đây. Cũng trên cương vị phụ huynh, tôi hiểu rằng để đưa con bạn vượt qua bậc đại học những ngày này là không dễ như đi bộ trong công viên. Một vài năm trước, một đồng nghiệp của tôi đã gửi 3 đứa trẻ đến Princeton dù cả hai vợ chồng anh ta đều không theo học ở đây. Họ đã rất tự hào về thành tích này. Song đồng nghiệp của tôi cũng nói rằng, xét trên khía cạnh tài chính, trải nghiệm này giống như mua một chiếc Cadillac mới mỗi năm và lái nó lao xuống vực. Tôi cũng phải nói thêm rằng anh ta vẫn sẽ làm vậy một lần nữa nếu có thể. Vì vậy, với các ông bố bà mẹ ở đây, các vị đã làm rất tốt.

Đây quả thực là một chủ đề tốt và phù hợp để bắt đầu.Tôi chắc chắn rằng, từ bục giảng này, những nhà lãnh tụ tinh thần kiệt xuất đã nhắc đi nhắc lại về bài học từ 10 điều răn trong kinh thánh. Tôi không có lòng tin ấy, và dù sao, thèm muốn con bò hay con lừa của hàng xóm không còn là vấn đề như nó đã từng nữa. Do đó, tôi nghĩ rằng tôi sẽ dành ít phút của ngày hôm nay để đưa ra 10 lời đề nghị, 10 điều nhận thấy về cuộc sống sau Princeton.

Hãy lưu ý rằng, những điểm này chẳng có liên quan gì đến lãi suất cả. Trình độ của tôi khi đưa ra những lời đề nghị này, bên cạnh việc được mời phát biểu bởi chủ tịch Tilghman, cũng giống như lý do khi người anh hay người chị xấu tính của bạn biện luận về quyền đi ngủ muộn - tôi già hơn các bạn. Tất cả những gì sau đây đã được kiểm nghiệm trong các tình huống thực tế, nhưng hiệu quả trong quá khứ không đảm bảo cho kết quả trong tương lai.


1. Nhà thơ Robert Burns đã từng nói về việc kế hoạch sắp xếp tốt nhất của chuột và người thường không như mong đợi. Một triết gia khác hiện đại hơn là Forrest Gump nói cuộc sống như một hộp chocolate và bạn không biết mình sẽ nhận được điều gì. Cả hai đều đúng.

Cuộc sống là khó lường đến đáng ngạc nhiên, bất cứ người trẻ 22 tuổi nào nghĩ rằng anh ta hay cô ta biết mình sẽ thế nào sau 10 năm nữa, khi chưa đến 30 tuổi, sẽ mất đi sự tưởng tượng ấy một cách giản đơn. Hãy nhìn xem những gì xảy đến với tôi, 10 năm trước, tôi còn chú tâm giảng dạy bộ môn kinh tế ở hội trường Alexander Hall và cố gắng tìm cớ tốt nhất để tránh các cuộc họp giảng viên. Rồi sau đó tôi nhận được một cuộc gọi...

Trong trường hợp bạn đang hoài nghi về cái nhìn sâu sắc của Forrest Gump, đây là một gợi ý cụ thể cho mỗi sinh viên tốt nghiệp. Hãy bỏ ra một vài phút nói chuyện với những người tham dự các cuộc gặp mặt lần thứ 25, 30 hay 40 của họ, tôi biết một số đang ở gần P-rade, hãy hỏi họ về những điều họ mong đợi vào 25, 30 hay 40 năm trước. Nếu bạn có thể khiến họ mở lòng, họ sẽ cho bạn biết họ hài lòng và hạnh phúc trên nhiều phương diện, hoặc là không, và những câu chuyện cuộc đời của họ được lấp đầy với những thăng trầm và cả giai đoạn bình lặng.

Nhưng, tôi cược rằng, những câu chuyện đó sẽ rất khác, dù lớn hay nhỏ, từ những gì họ trông đợi và những gì họ làm được. Đây là một điều tốt chứ không phải là xấu, vì liệu có ai muốn biết kết cục của một câu chuyện ngay từ những chương đầu? Đừng lo lắng khi để cuốn phim tiếp tục.


2. Có phải cuộc sống của chúng ta chịu ảnh hưởng bởi các cơ hội và dường như những hành động hay quyết định nhỏ là không cần phải lên kế hoạch và cố gắng? Không hề.

Cho dù cuộc sống luôn có sẵn cho bạn, mỗi người đều có riêng một kế hoạch dài hạn, lớn lao và đó là sự trưởng thành của chính bạn như một con người. Gia đình, bạn bè và khoảng thời gian ở Princeton đã cho bạn một khởi đầu tốt. Bạn sẽ làm gì với nó? Bạn có tiếp tục học hỏi và suy nghĩ kỹ lưỡng về những câu hỏi quan trọng nhất? Liệu bạn có trở thành một con người mạnh mẽ hơn về cảm xúc? Tài năng hơn, yêu thương nhiều hơn và đạo đức hơn? Bạn có đưa mình thành một phần tử năng động và xây dựng hơn của thế giới?

Rất nhiều điều sẽ xảy ra với bạn, dù muốn hay không, nhưng dẫn lời một câu ngạn ngữ của Woodrow Wilson School khi tôi còn ở đây: "Dù bạn đi tới đâu, bạn cũng sẽ ở đó". Nếu bạn không hạnh phúc với chính mình thì thậm chí những thành tựu lớn nhất cũng sẽ không khiến bạn hài lòng.


3. Khái niệm về thành công dẫn tôi đến việc xem xét cái được gọi là chế độ nhân tài và sự thực hiện của nó. Chúng ta được dạy rằng xã hội và thể chế trọng dụng nhân tài là công bằng. Bỏ qua thực tế rằng, không có hệ thống nào, ngay cả của riêng chúng ta, là thực sự trọng dụng nhân tài. Chế độ nhân tài có thể là công bằng hơn hoặc hiệu quả hơn so với một số lựa chọn khác. Nhưng liệu có công bằng theo nghĩa tuyệt đối? Hãy suy nghĩ về nó.

Chế độ nhân tài là hệ thống mà ở đó mọi người là may mắn nhất về sức khỏe và tài năng được di truyền của họ, may mắn nhất về sự ủng hộ của gia đình, sự cổ vũ và rõ ràng là cả thu nhập; may mắn nhất ở cơ hội nghề nghiệp và giáo dục, và may mắn nhất ở rất nhiều khía cạnh khó liệt kê được hết khác - đây chính là người chỉ gặt hái những phần thưởng lớn nhất.

Cách duy nhất cho chế độ nhân tài, dù giả định, để vượt qua các thước đo đạo đức, để được xem là công bằng, đó là những người may mắn nhất ở mọi khía cạnh cũng đảm đương những trọng trách lớn nhất để làm việc chăm chỉ, để đóng góp cho một thế giới tốt đẹp hơn, và để chia sẻ những may mắn của họ cho mọi người.


4. Ai đáng được ngưỡng mộ? Những lời răn được truyền bá trong hầu hết những truyền thống đạo đức và triết học cũng giúp giải đáp câu hỏi này. Những người đáng được ngưỡng mộ nhất là kẻ sử dụng tốt nhất những ưu thế của họ, hoặc, ai đó khác, là những người đối phó dũng cảm nhất với nghịch cảnh của họ.

Tôi nghĩ rằng hầu hết chúng ta đều đồng ý rằng những người đã, dù ít học thức, lao động một cách trung thực và siêng năng để đem thức ăn, quần áo, và giáo dục cho gia đình của họ xứng đáng được tôn trọng - và giúp đỡ, nếu cần thiết - hơn nhiều những người trông bề ngoài có vẻ rất thành công. Đó là tất cả những gì tôi biết về xã hội học.


5. Do vừa nói về những gì tôi biết về xã hội học, tôi cũng xin nói về khoa học chính trị. Đối với chính trị, tôi luôn yêu thích câu nói của Lily Tomlin: "Tôi cố gắng nghi ngờ, nhưng chỉ là tôi không thể bắt kịp". Chúng ta đôi khi đều cảm thấy như vậy. Trên thực tế, ở Washington 11 năm tôi cũng có chút cảm giác ấy. Cuối cùng, dù vậy, sự hoài nghi là sự thay thế nghèo nàn cho tư duy phê phán và hành động xây dựng. Rõ ràng, lợi ích, tiền bạc và hệ tư tưởng là tất cả những gì đang diễn ra, như bạn học được từ khoa học chính trị. Nhưng kinh nghiệm của tôi là hầu hết các chính trị gia và các nhà hoạch định của chúng ta đang cố gắng làm những điều đúng đắn, theo quan điểm và lương tâm của cá nhân họ. Nếu bạn cho rằng những kết quả tồi tệ và bàng quan xuất phát quá thường xuyên từ Washington do những động cơ cơ bản và dự định xấu, bạn đang trao quá nhiều niềm tin cho các nhà chính trị và hoạch định để họ trở nên hiệu quả. Lỗi thật thà khi đối mặt với những vấn đề phức tạp và khó giải quyết là nguồn gây ra kết quả tồi tệ lớn hơn nhiều so với những động cơ xấu. Vì những lý do này, nguồn lực lớn nhất ở Washington là các ý tưởng, và những người chuẩn bị thực hiện ý tưởng đó. Phục vụ công chúng là không dễ dàng, nhưng tóm lại, nếu bạn đang nghiêng theo hướng ấy, đó là một sự theo đuổi xứng đáng và đầy thử thách.


6. Sau chính trị và xã hội học, hãy để tôi nói về kinh tế mà tôi đang làm việc.Kinh tế là một lĩnh vực cực kỳ phức tạp của tư duy mà rất tuyệt vời để giải thích cho những nhà hoạch định chính sách chính xác lý do tại sao những lựa chọn trong quá khứ của họ là sai. Còn về tương lai thì rất ít. Tuy nhiên, những nhà phân tích kinh tế cẩn thận thực sự có giá trị quan trọng, đó là tiêu diệt những ý tưởng mà cực kỳ thiếu logic và không phù hợp với dữ liệu. Nhận thức này bao trùm ít nhất 90% chính sách kinh tế được đề xuất.


7. Tôi không nói với bạn rằng tiền không quan trọng, bởi dù sao thì bạn cũng sẽ chẳng bao giờ tin tôi. Thực tế, với rất nhiều người trên thế giới này, tiền là một mệnh đề sống-chết. Nhưng nếu bạn nằm ở phần thiểu số có thể đưa ra lựa chọn, hãy nhớ rằng tiền chỉ là công cụ, không phải là đích đến. Quyết định nghề nghiệp chỉ dựa trên tiền thay vì tình yêu công việc hay ham muốn tạo ra sự khác biệt chỉ là một công thức cho sự bất hạnh.


8. Không ai thích thất bại nhưng thất bại là một phần thiết yếu của cuộc sống và cho cả việc học hỏi. Nếu đồng phục của bạn không bẩn, bạn chưa bao giờ thực sự tham gia vào trò chơi.


9. Tôi đã nói về định nghĩa sự thành công cá nhân trong một thế giới không thể đoán trước. Tôi hy vọng rằng khi bạn tạo ra định nghĩa thành công của riêng bạn, bạn sẽ có khả năng thực hiện nó, nếu bạn muốn, với một người bạn đồng hành thân thiết trên hành trình của bạn. Khi đưa ra lựa chọn, hãy nhớ rằng vẻ đẹp thể chất là cách mà sự tiến hóa đảm bảo với chúng ta rằng người kia không có quá nhiều ký sinh trùng đường ruột. Đừng hiểu nhầm tôi, tôi luôn hết mình cho vẻ đẹp, sự lãng mạn, và hấp dẫn giới tính. Hollywood và Madison Avenue sẽ đi về đâu nếu không có chúng? Nhưng trong khi vẻ đẹp là quan trọng, đó không phải là điều duy nhất để tìm kiếm bạn đời. Hai bạn sẽ có một hành trình dài cùng nhau, tôi hy vọng rằng các bạn sẽ cần đến sự ủng hộ và cảm thông của nhau nhiều đến mức không thể đếm. Nói như ai đó cuộc hôn nhân hạnh phúc kéo dài 35 năm, tôi không thể tưởng tượng được sự lựa chọn nào đem đến nhiều hệ lụy trong một hành trình dài hơn là lựa chọn bạn đời.


10. Hãy gọi cho bố mẹ của bạn mỗi ngày. Sẽ tới lúc bạn muốn những đứa trẻ trưởng thành, bận rộn và thành công của riêng bạn gọi cho mình. Ngoài ra, hãy nhớ ai là người trả học phí cho bạn ở Princeton.


Cuối cùng, xin chúc mừng, các tân cử nhân.

VŨ VŨ

Theo Federalreserve/ Infone

June 8, 2013

0(83)


Tưởng rằng kinh tế Việt Nam đã đi vào đường băng “cất cánh” vào năm 2007 khi mức tăng trưởng kinh tế lên đến 8,48% - mức cao nhất trong vòng 10 năm trước đó. Thế nhưng tình hình thực tế những năm sau đó cho thấy điều hoàn toàn ngược lại. Kinh tế Việt Nam từ đó liên tục “ngụp lặn” trong các bất ổn vĩ mô với tình trạng lạm phát cao và tăng trưởng kinh tế chậm lại đến mức gần như đình trệ. Năm 2009, cũng như nhiều nước khác, để chống suy giảm kinh tế Chính phủ Việt Nam đã đưa ra gói kích thích kinh tế trị giá lên đến 8 tỷ USD, tương đương hơn 8% GDP trong khi đó quy mô lớn nhất là gói kích cầu của Mỹ khoảng 800 tỷ USD nhưng chỉ tương đương khoảng 6% GDP của Mỹ, gói kích cầu của Trung Quốc có quy mô 586 tỷ USD, tương đương 5,5% GDP; các nước trong khu vực Đông Nam Á như Malaysia hay Thái Lan cũng đưa ra gói kích cầu khiêm tốn chỉ 2 tỷ và 3,3 tỷ USD.
Điều đáng nói là trong khi ngân sách của Chính phủ vốn đã thâm thủng lớn thì việc đưa ra gói kích cầu đầy tham vọng sẽ mang lại nhiều rủi ro cho nền kinh tế. Thâm hụt ngân sách năm 2009 của Việt Nam theo báo cáo của Chính phủ là 6,9% GDP nhưng theo ước tính của Ngân hàng Phát triển Châu Á (ADB) có thể lên đến hơn 8% GDP, thậm chí gần 9% GDP nếu tính cả các khoản thâm hụt ngoài ngân sách. Mặc dù được hỗ trợ

bởi gói kích cầu quy mô lớn nhưng tăng trưởng kinh tế năm 2009 cũng chỉ đạt 5,32%.
Tăng trưởng kinh tế thấp trong khi thâm hụt ngân sách lên đến đỉnh điểm đã làm cho tỷ lệ nợ chính phủ trên GDP nhảy vọt từ mức khoảng 42,9% năm 2008 lên đến 51,16% năm 2009, tức đã vượt qua ngưỡng nợ công vốn được xem là an toàn trước đó là 50% GDP. Có vẻ mức nợ này chưa phải quá lớn đến mức đủ để cảnh báo các nhà chức trách khi vẫn luôn có những trấn an rằng nợ vẫn đang “trong tầm kiểm soát.” Điều đáng ngờ là ngưỡng nợ an toàn luôn được tịnh tiến lên trong khi thiếu những giải trình có trách nhiệm. Mặc dù vậy, có một điều mà người ta không thể phớt lờ là tỷ lệ nợ công đang tăng lên và tăng nhanh.
Thực trạng nợ công:
Từ sau cuộc khủng hoảng Đông Á 1997 – 1998, tỷ lệ chi tiêu của Chính phủ so với GDP ngày càng tăng lên từ mức khoảng 21,6% năm 1998 lên mức đỉnh 33,4% năm 2009 và 32,15% năm 2010. Tỷ lệ chi tiêu so với GDP tăng lên cũng đồng nghĩa với việc nhu cầu chi tiêu của chính phủ tăng nhanh hơn mức tăng của GDP. Nói cách khác, nhu cầu chi tiêu của chính phủ đang có khuynh hướng tăng nhanh hơn lượng của cải mà nền kinh tế có khả năng tạo ra. Trong khi đó, các khoản thu ngân sách hàng năm của chính phủ luôn chiếm tỷ lệ thấp hơn trong GDP so với chi tiêu. Điều này cũng có nghĩa là Chính phủ Việt Nam luôn phải gánh chịu bội chi ngân sách triền miên, ít nhất là từ sau cuộc khủng hoảng tài chính Đông Á đến nay. Tỷ lệ bội chi ngân sách đạt mức đỉnh điểm gần 8,9% GDP năm 2009 khi Việt Nam đối mặt với tình trạng suy giảm kinh tế và buộc phải đưa ra gói kích thích kinh tế quy mô lớn.
Tình trạng bội chi ngân sách cao và kéo dài trong nhiều năm trong khi tăng trưởng kinh tế bình quân nhìn chung không cao đã dẫn đến hệ quả tất yếu là tỷ lệ nợ trên GDP của Chính phủ cũng liên tục tăng lên. Hình 3 cho thấy tỷ lệ nợ gộp trên GDP của Chính phủ Việt Nam tăng rất nhanh từ mức chỉ khoảng 31,6% GDP năm 2001 nay đã lên đến trên 50% GDP. Điều đáng nói là dường như có một sự chủ quan nào đó được thể hiện qua các phát biểu của các quan chức Chính phủ. Khi tỷ lệ nợ công khoảng 30% GDP thì người ta cho rằng 40% mới đáng ngại nhưng khi tỷ lệ này lên trên 40% thì người ta lại nói rằng 50% mới là chuẩn an toàn của thế giới, rồi một lần nữa khi cái chuẩn an toàn này bị phá vỡ vào năm 2009 thì người ta lại đề xuất mức chuẩn an toàn của Việt Nam phải là 60% GDP. Hình 3 cũng cho thấy tỷ lệ nợ ròng so với GDP của chính phủ cũng tăng lên liên tục qua các năm nhưng quan trọng hơn tỷ lệ này có khuynh hướng tăng nhanh hơn tỷ lệ nợ gộp từ năm 2008 trở lại đây do các tài sản và dự trữ tài chính của Chính phủ liên tục sụt giảm.

PD 01
Hình 1. Thu chi ngân sách và vay ròng của Chính phủ Việt Nam (% GDP) .
PD02


Hình 2. Tỷ lệ nợ công trên GDP của Việt Nam và các nước so sánh (% GDP)

PD03


Hình 3. Tỷ lệ nợ gộp và nợ ròng của Chính phủ Việt Nam (% GDP)

PD04


Hình 4. Thâm hụt vãng lai và tỷ lệ nợ nước ngoài của Việt Nam (% GDP)
So sánh với các nước trong khu vực Đông Nam Á (Hình 5) cho thấy, tỷ lệ nợ công gộp trên GDP của Việt Nam hiện chỉ đứng sau Singapore, Malaysia và Lào, trong khi cao hơn rất nhiều so với các nước còn lại. Nếu như việc so sánh với Singapore tỏ ra khiêng cưỡng vì đây là một nước đã phát triển có thu nhập đầu người rất cao và năng lực tài chính khá bền vững thì tỷ lệ nợ công của Lào và Malaysia cao hơn Việt Nam không đáng kể, thậm chí tỷ lệ nợ công của Lào đang có khuynh hướng cải thiện. Bức tranh cũng tương tự nếu so sánh với các nước và nhóm nước khác (Hình 6). Năm 2010, tỷ lệ nợ công gộp trên GDP bình quân của thế giới là 46,7%, của các nước đang phát triển và mới nổi là
35,09%, còn các nước đang phát triển Châu Á chỉ là 31,03%, trong khi Việt Nam là 52,85%. Riêng đối

với Trung Quốc, một nước có thể chế chính trị tương đồng với Việt Nam và cũng có quy mô khu vực công rất lớn nhưng tỷ lệ nợ công gộp trên GDP của nước này năm 2010 chỉ là 17,71%.

PD06
Hình 5. Nợ công của Việt Nam so sánh với các nước ASEAN (% GDP)
pd

Hình 6. Nợ công của Việt Nam so với các nhóm nước khác (% GDP)
Trong cơ cấu nợ công của Việt Nam thì nợ nước ngoài luôn chiếm tỷ trọng lớn hơn. Năm 2009, tỷ trọng nợ nước ngoài trong cơ cấu nợ công của Việt Nam khoảng gần 62,58% và ước tính tỷ trọng của năm 2010 tăng lên gần 65%. Điều cần nói thêm là trong cơ cấu nợ nước ngoài của Việt Nam thì tỷ trọng nợ của khu vực chính phủ chiếm đến trên dưới 80%, trong khi khu vực tư nhân chỉ chiếm khoảng 20%. Mặc dù tỷ trọng nợ của khu vực chính phủ đã có phần giảm đi nhưng tỷ trọng này vẫn còn rất cao. Vấn đề quan trọng nằm ở năng lực quản lý nợ và hiệu quả sử dụng nợ vay của các khu vực. Mặc dù niềm tin của thị trường thường đặt trọng số lớn hơn vào khu vực chính phủ nhưng điều này không đồng nghĩa với việc nợ vay sẽ sử dụng và quản lý tốt hơn ở khu vực công so với khu vực tư nhân. Điều đáng lưu ý là trong cơ cấu tỷ lệ nợ nước ngoài của Chính phủ thì tỷ trọng nợ do chính phủ bảo lãnh đang ngày càng tăng nhanh từ mức khoảng 7% năm 2006 lên 14,29% năm 2010. Trong cơ cấu của các khoản vay mới, các khoản nợ nước ngoài do chính phủ bảo lãnh thậm chí còn chiếm tỷ trọng lớn hơn nhiều và đạt mức 18,5% năm 2010. Một điều cũng đáng lo ngại nữa là gánh nặng lãi vay đối với các khoản nợ nước ngoài do chính phủ bảo lãnh thường rất cao, từ mức chỉ khoảng 13,08% trong cơ cấu trả lãi vay năm 2006 thì năm 2010 đã lên đến 32,07%. Điều này một phần là do lãi suất đối với các khoản vay do chính phủ bảo lãnh thường rất cao khoảng gấp 2 đến 3 lần mức lãi suất khoản vay của chính phủ.
Bảng Lãi suất hiệu dụng của các khoản nợ nước ngoài của Việt Nam.

bang 2


Tỷ trọng nợ nước ngoài lớn trong cơ cấu nợ công của Việt Nam còn đặt ra một rủi ro lớn khác bên
cạnh cạnh rủi ro lãi suất đó là rủi ro tỷ giá. Nếu tình trạng này không được xử lý tốt sẽ đặt Việt Nam vào thế tiến thoái lưỡng nan đối với chính sách tỷ giá. Nghĩa là, nếu tiền đồng bị giảm giá sẽ làm tăng gánh nặng nợ nước ngoài của Việt Nam nói chung và nợ nước ngoài của Chính phủ nói riêng nhưng nếu níu kéo tỷ giá sẽ càng làm tăng áp lực lên cán cân thương mại vốn đã thâm hụt kéo dài.

PD08

Hình 7. Cơ cấu nợ nước ngoài giữa hai khu vực của Việt Nam
Hệ lụy:
Thâm hụt ngân sách cao và kéo dài liên tục trong hàng chục năm là nguyên nhân chủ yếu làm gia tăng gánh nặng nợ công ở Việt Nam. Từ năm 2009 khi tăng trưởng kinh tế xấu đi thì việc phải đưa ra gói kích thích kinh tế quy mô lớn là tác nhân quan trọng đẩy tỷ lệ nợ trên GDP của Việt Nam vượt quá chỉ báo trung bình 50% GDP của thế giới. Tỷ lệ nợ công tăng lên sẽ làm giảm mức hạng tín nhiệm của chính phủ, từ đó làm tăng chi phí vay vốn. Nợ công tăng và lãi suất tăng trong khi tăng trưởng kinh tế thấp sẽ lại làm tăng tỷ lệ nợ công trên GDP. Trò chơi Ponzi đầy rủi ro xuất hiện khi chính phủ đi vay nợ mới chỉ đủ để trang trải chi phí lãi vay của nợ cũ. Khi đó, nguồn tài trợ duy nhất còn hiệu lực đối với chính phủ là in thêm tiền. In tiền sẽ làm tăng sức ép lạm phát và buộc ngân hàng trung ương phải thắt chặt tiền tệ. Thắt chặt tiền tệ tất yếu dẫn đến gia tăng lãi suất mà điều này cũng đồng nghĩa với việc gia tăng gánh nặng trả lãi lên ngân sách. Trong trường hợp này thì chính sách tiền tệ đã bị vô hiệu hóa và chính sách tài khóa mới là nhân tốt quyết định mức giá chung của nền kinh tế. Trong khi đó, việc gia tăng vay nợ nước ngoài của chính phủ không những phải đối mặt với rủi ro lãi suất mà còn là rủi ro tỷ giá. Chính sách phá giá tiền tệ tất yếu sẽ làm tăng nghĩa vụ trả nợ trong ngắn hạn nhưng lại giúp cải thiện tình trạng của cán cân vãng lai. Tuy nhiên, nếu tiếp tục níu giữ tỷ giá sẽ không chỉ làm trầm trọng hơn nữa tình trạng thâm hụt của cán cân vãng lai mà còn tạo động cơ khuyến khích việc gia tăng các khoản nợ mới.
Theo ĐỖ THIÊN ANH TUẤN FULBRIGHT ECONOMICS TEACHING PROGRAM

Vài câu hỏi cốt tử về nợ xấu Việt Nam


Ảnh internet, 
By: Wegreen
Thời gian gần đây, Nợ Xấu đang là một trong những vấn đề trọng điểm trong các cuộc họp bàn của Chính phủ cũng như trên các mặt báo của giới truyền thông. Nợ xấu gia tăng được coi là một trong những nguyên nhân cốt lõi dẫn đến sự đình đốn của nền kinh tế Việt Nam, khiến ngôi sao đang lên của Châu Á bị lao dốc tăng trưởng kinh tế xuống mức thấp nhất (5,03%) trong vòng 13 năm đầu của thế kỷ 21 [1], khiến hàng trăm nghìn doanh nghiệp trong nước phải đóng cửa trong hơn 2 năm vừa qua. Vậy đâu là những vấn đề cốt tử của câu chuyện nợ xấu đang đè nặng lên nền kinh tế Việt Nam này?
1. WHAT: NỢ XẤU VIỆT NAM CẤU THÀNH TỪ NHỮNG NGUỒN NÀO?
a. Bất động sản đóng băng:
Theo báo cáo của Bộ Xây dựng, riêng nợ liên quan bất động sản khoảng trên 1 triệu tỷ đồng. Trong đó, nợ xấu chưa được bóc tách nhưng chắc chắn không hề nhỏ. [2] Một thực tế là trong thời kỳ tăng trưởng nóng những năm 2007-2008 ở Việt Nam, quá nhiều doanh nghiệp lớn tham lam vay tiền đầu tư dàn trải ngoài lĩnh vực kinh doanh cốt lõi sang bất động sản và bị tắc dòng vốn ở đây không tài nào gỡ ra được khi nền kinh tế thế giới bị cảm nặng từ con virus khủng hoảng tài chính Mỹ và Châu Âu.

b. Sản xuất đình trệ đặc biệt từ khu vực DNNN
Tổng nợ xấu thương mại giữa các doanh nghiệp đến nay là bao nhiêu và liên quan đến nợ xấu của hệ thống ngân hàng thế nào, hiện không có cơ quan nào thống kê và đưa ra.

Chỉ tính riêng khối doanh nghiệp nhà nước (DNNN), theo báo cáo của Bộ Tài chính, tính đến cuối năm 2011, tổng nợ phải trả của các tập đoàn, tổng công ty nhà nước là 1.292.400 tỷ đồng, nhưng bao nhiêu trong số này là nợ xấu vẫn đang là ẩn số. [3]

Việc tăng trưởng kinh tế (GDP) cao và dựa vào kênh tăng vốn là chính, trong khi công nghệ hỗ trợ tăng trưởng và hiệu năng quản lý bị trượt dài phía sau, nảy sinh ra vấn đề doanh nghiệp càng vay nhiều càng khó có khả năng quản lý hiệu quả các đồng vốn vay đó, dẫn đến hệ số ICOR thấp, lãng phí đồng vốn và gia tăng nguy cơ tham nhũng khi đồng tiền như “mỡ để miệng mèo”.

c. Xây dựng cơ bảnTình trạng nợ đọng xây dựng cơ bản tại các địa phương diễn ra khá phổ biến và ở mức độ khá nghiêm trọng. Nên nhớ rằng, đầu tư xây dựng cơ bản là một phần quan trọng của đầu tư công của Chính phủ trong nỗ lực phát triển cơ sở hạ tầng cho phát triển kinh tế đất nước.

Hậu quả là công trình thi công dở dang, kéo dài, hiệu quả đầu tư kém; chủ đầu tư không có nguồn vốn để thanh toán; nhiều doanh nghiệp xây dựng, nhà thầu nợ lương công nhân, chiếm dụng vốn của nhau, không ít doanh nghiệp giải thể và phá sản; góp phần làm cho nợ xấu của ngân hàng tăng lên... Điều đó đã và đang ảnh hưởng xấu đến an ninh tài chính, an toàn nợ công và tăng trưởng kinh tế bền vững. [4]

d. Thị trường chứng khoán bong bóng & trì trệ
Đây cũng là một yếu tố tác động không nhỏ khi thực tế không ít các công ty, đại gia, và các nhà đầu tư nhỏ lẻ cũng đã vay tiền không tiếc tay rồi đổ vào sòng bạc này và bị “đá đít” ra khỏi sân chơi đầu tư cổ phiếu với không một manh áo giữ lại sau giai đoạn thị trường chứng khoán bị lên đồng bởi tâm lý đám đông của các nhà đầu tư, hoang tưởng rằng bữa tiệc của thị trường giá lên sẽ không bao giờ tàn.

2. WHERE: ĐÂU LÀ NGUYÊN NHÂN THÚC ĐẨY SỰ GIA TĂNG NỢ XẤU?

Tất nhiên và đơn giản thường có 2 nhóm nguyên nhân chính:

a. Khách quan:
Khủng hoảng kinh tế thế giới lan rộng khiến các doanh nghiệp Việt Nam bị shock do mất mát vô số hợp đồng đã được ký. Vinashin là một điển hình khi các hợp đồng đóng tàu từ các khách hàng, đối tác nước ngoài bị hủy bỏ do sự suy thoái của ngành vận tải đường biển toàn cầu [5]. Xuất khẩu bị đình trệ, dẫn đến nhiều doanh nghiệp xuất khẩu cùng các doanh nghiệp ăn theo trôi tới bờ vực phá sản.

b. Chủ quan:
Một nền kinh tế đang rơi vào tình trạng ngủ mê. Các nhà đầu tư mơ về một thị trường chứng khoán - hàn thử biểu của nền kinh tế - chỉ có lên trong kể cả ngắn hạn và trung hạn. Các doanh nghiệp mơ trở thành điển hình phát triển thần kỳ và các doanh nhân mơ sớm tới ngày được bước chân vào cung điện của giới siêu giàu Việt Nam nơi những Đặng Nhật Vượng (Vincom), Đoàn Nguyên Đức (HAGL), Đỗ Quang Hiển (SHB), Đặng Lê Nguyên Vũ (Trung Nguyên)… đeo những vòng nguyệt quế bằng vàng ròng đang ngự trị. Các ngân hàng thì mơ giấc mơ lãi suất ngày này tháng khác luôn ở mức 2 con số khiến tiền vào như nước và sẽ nhanh chóng trở thành những Bank of America, City Group, hay Well Fargo của Việt Nam. Chính phủ thì mơ Việt Nam sẽ chẳng mấy chốc sẽ vượt Thái Lan và tiệm cận Hàn Quốc (những quốc gia mà 50 năm trước đây chẳng hơn gì Việt Nam) nhờ tài năng điều hành phi thường của mình.

3. HOW MUCH: CON SỐ NỢ XẤU THỰC LÀ BAO NHIÊU?

Mới đây, tiến sĩ Nguyễn Đức Thành (VERP) nhận xét, nếu căn cứ vào tỷ lệ nợ xấu được Ngân hàng Nhà nước (NHNN) công bố là 6% vào tháng 2-2013 vừa qua, và các số liệu nợ xấu khác, thì nợ xấu của toàn hệ thống ngân hàng nằm trong khoảng 180 -300 ngàn tỉ đồng. [6]

Trong khi đó, theo báo cáo của Ngân hàng Nhà nước (NHNN), các khoản nợ xấu được các tổ chức tín dụng cơ cấu lại tính đến tháng 10-2012 cỡ 250.000 tỷ đồng, tương ứng 8% dư nợ tín dụng. Tuy nhiên, trao đổi với phóng viên báo Tiền Phong, TS. Trần Đình Thiên, Viện trưởng Viện Kinh tế Việt Nam cho biết, con số mới nhất mà ông được biết thì nợ xấu ngân hàng tới 400.000 tỷ đồng (~20 tỷ USD) [7]. Điều đó có nghĩa là nợ xấu của Việt Nam đang vào khoảng hơn 12% chứ không thực sự khoảng 6% như NHNN công bố.

4. WHEN: KHI NÀO THÌ NỢ XẤU GÂY PHÁ SẢN CÁC NGÂN HÀNG?

Có một minh họa rất đáng ngẫm rằng, nếu những ông chủ ngân hàng bỏ ra 5 đồng (gọi là vốn tự có), thu hút tiền gửi 95 đồng và họ cho vay 100 đồng thì như thế nếu nợ không đòi được là 6 đồng thì vốn tự có của các ông chủ ngân hàng coi như hơn mất sạch. Ở Việt Nam, hệ số vốn hiện nay chỉ khoảng 4-6% [8], và kết hợp với dự đoán của các chuyên gia kinh tế Việt Nam và NHNN bên trên rằng tỷ lệ nợ xấu khoảng 8-12% thì chắc chắn một tỷ lệ không thể nhỏ các NHTM đang rơi vào tình trạng vỡ nợ mà không dám công bố.

5. WHO: AI LÀ CHỦ NỢ LỚN CỦA VIỆT NAM?

Thêm một đòn knock out cho khu vực nợ công của Việt Nam là, nợ nước ngoài tính bằng nội tệ tăng với tốc độ chóng mặt, kích thích rủi ro tỷ giá. Các chủ nợ lớn của Chính phủ Việt Nam bao gồm Nhật (chiếm 34,3% tổng nợ) và các tổ chức quốc tế như Hiệp hội phát triển quốc tế IDA (International Development Association - 24,9%) và Ngân hàng phát triển châu Á ADB (Aisan Development Bank - 15,0%). Mỹ và khối EU chỉ chiếm lần lượt 0,3% và gần 6,9% tổng nợ của Chính phủ Việt Nam, tuy nhiên nợ theo đồng tiền của các nước/khu vực này lại chiếm tỉ trọng lớn. Các chủ nợ thường có xu hướng sử dụng những đồng tiền mạnh, và việc vay nợ theo các đồng tiền mạnh này khiến nợ nước ngoài chịu rủi ro cao khi chúng có xu hướng lên giá theo thời gian. [9]

Chỉ tính kể từ đầu năm 2010 đến cuối tháng 6/2011, ba đồng tiền chủ chốt gồm EUR, USD và JPY trong giỏ nợ nước ngoài của Việt Nam đã lên giá lần lượt khoảng 12%, 13% và 26% so với VND. Điều này cũng đồng nghĩa với việc gánh nặng nợ nước ngoài tính theo nội tệ đang tăng với tốc độ chóng mặt và gây sức ép đối với thâm hụt ngân sách và chính sách tiền tệ. [9]

6. HOW: ĐÂU LÀ NHỮNG GIẢI PHÁP CỐT LÕI GIẢI QUYẾT NỢ XẤU?

Nhiều cuộc họp bàn sôi nổi của các chuyên gia kinh tế và các Think Tank của Chính phủ đã được tiến hành xung quanh vấn đề nợ công và nợ xấu. Tựu chung lại, giải pháp vẫn nằm ở:

a. Tái cấu trúc nợ của các tập đoàn, tổng công ty Nhà Nước, từ những anh hút và xúc tài nguyên đang khan hiếm lên để hưởng lợi nhuận như Petrolimex và Vinacomin, tới những anh độc quyền bán ánh sáng điện cho 90 triệu dân Việt Nam như EVN hay bám biển đảo để làm giàu như Vinashin và Vinalines.

b. Ngân hàng Nhà Nước (NHNN) giảm lãi suất tái cấp vốn xuống để hỗ trợ các NHTM phục hồi. Các ngân hàng thương mại đồng thời cũng giảm lãi suất cho vay hay dãn nợ cho doanh nghiệp để cùng tồn tại. Hành lang giám sát bên vay để đảm bảo họ sử dụng vốn vay đúng quy ước cũng cần phải siết chặt.

c. Thành lập trung gian (Công ty Quản lý tài sản là một ví dụ) để giúp xóa nợ xấu cho các NHTM thông qua sự hỗ trợ tài chính của Chính phủ, qua đó cứu trợ khu vực ngân hàng trong cơn bể dâu.
d. Tìm kiếm sự viện trợ kỹ thuật và tài chính từ các Tổ chức quốc tế, cũng như vận động kiều hối, để bơm tiền vào nền kinh tế bong bóng đang bị xịt và có nguy cơ rơi vào vòng xoáy đình lạm (Stagflation) [10].
…

7. WHY: TẠI SAO CÔNG TY QUẢN TÀI SẢN (VAMC) KHÔNG PHẢI LÀ GIẢI PHÁP HIỆU QUẢ CHO ĐỐNG NỢ XẤU ĐANG GIA TĂNG?

Nghị định thành lập Công ty Quản tài sản (VAMC) vừa được Thủ tướng ký ban hành và có hiệu lực kể từ 9/7/2013. Theo đó, VAMC sẽ là công ty TNHH một thành viên do Nhà nước sở hữu 100%, với vốn điều lệ 500 tỷ đồng. VAMC ngoài quyền năng phát hành trái phiếu đặc biệt thời hạn tối đa 5 năm và lãi suất bằng 0% để hỗ trợ kéo các NHTM khỏi bờ vực phá sản còn có khả năng mua nợ xấu của tổ chức tín dụng theo giá trị thị trường bằng nguồn vốn không phải trái phiếu đặc biệt [11].

Tuy nhiên, có thể thấy kỳ vọng vào “nước thánh” của VAMC không thực sự nhiều khi xét tới quy mô không gian khổng lồ của nợ xấu. Liệu một công ty có quy mô 500 tỷ đồng có làm teo nhỏ đáng kế món nợ xấu gấp 500 tới 800 lần (250.000 – 400.000 tỷ) mà nền kinh tế Việt Nam đang phải gánh chịu? Hơn nữa, bối cảnh kinh tế Việt Nam đang đầy một màu xám khi nợ xấu đang nằm chính ở khu vực DNNN – khu vực kinh tế chủ đạo và có hệ số ICOR thấp nhất trong các khu vực kinh tế, các Doanh nghiệp tư nhân phá sản hàng loạt, thị trường chứng khoán – nơi hút tiền đầu tư quan trọng nhất – thì lạnh lẽo, và thị trường bất động sản – nơi hàng đống tiền của các “ông lớn” đang bị kẹt – thì đông cứng.

8. WHICH: VẬY YẾU TỐ NÀO THỰC SỰ LÀ GIẢI PHÁP GIÁ TRỊ HƠN CHO BÀI TOÁN NỢ XẤU?

Trong các tác nhân chính (NHNN, Công ty Quản lý tài sản – tay trung gian đòi nợ xấu, NHTM, Doanh nghiệp) tham gia vào bức tranh nợ xấu quốc gia, doanh nghiệp chính là nút thắt cổ chai mà nếu không cố giải pháp quyết triệt để cho khu vực này thì không cách nào thực sự giảm được nợ xấu. 

Nếu để doanh nghiệp phá sản hàng loạt (như đang diễn ra) thì họ xuống mồ để lại nguyên đống nợ xấu cho các NHTM mà không cách nào xóa được. Ngoài ra, đến lượt mình, để tránh bị phá sản do nợ xấu vượt quá hệ số vốn tự có, NHTM phải phụ thuộc vào “bầu sữa” cứu trợ thanh khoản từ NHNN. Song, nếu các doanh nghiệp bị chết hoặc sống như các Zombia thì họ không thể có lợi nhuận, và do đó Chính phủ sẽ không thu được thuế để bỏ vào két của NHNN mà qua đó NHNN có phao tiền tệ mang đi cứu trợ. 

Tuy nhiên, giả thiết màu hồng là NHNN có tiền thoải mái cho NHTM vay, NHTM có tiền thoải mái cho doanh nghiệp vay, và Công ty quản lý tài sản cùng NHTM cho phép doanh nghiệp dãn trả lãi và vốn vay thì thực tế rằng doanh nghiệp vẫn sẽ vô cùng khó khăn trong khâu tìm kiếm lợi nhuận để quay về thời thịnh vượng. 

Tại sao? Tại vì lợi nhuận phụ thuộc đầu ra sản phẩm có tiêu thụ được không. Và hiện tại, thị trường nội địa đang rơi vào giảm phát trầm trọng người dân phải tiết kiệm không dám tiêu dùng, trong khi các doanh nghiệp khách hàng của các doanh nghiệp khác cũng không còn tiền hoặc không dám vay để mua nguyên vật liệu sản xuất. Tệ không kém, cuộc khủng hoảng tài chính thế giới bắt nguồn từ Mỹ năm 2008 vẫn đang như đám mây vần vũ ngăn cản sự ấm lên của nền kinh tế thế giới, dẫn đến các doanh nghiệp Việt Nam không tài nào gia tăng năng lực xuất khẩu được.

Dù thế nào, có thể thấy Doanh nghiệp là tác nhân ảnh hưởng lớn tới vòng xoay của nợ xấu. Cởi trói cho các khu vực kinh tế, đặc biệt là khu vực kinh tế tư nhân, với những chính sách công bằng hơn cho khu vực năng động chiếm trên dưới 90% thị trường này là giải pháp không thể thiếu để cứu túi tiền của Chính phủ, cứu khu vực ngân hàng, và tái thiết niềm tin của thị trường cùng các nhà đầu tư trong và ngoài nước.

Quả là tiến thoái lưỡng nan và sẽ thật thần kỳ nếu Chính phủ của thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng có thể gỡ rối được mớ bòng bong đang quấn chặt lấy nền kinh tế Việt Nam. Chúc ông và các nhà lãnh đạo Việt Nam gặp nhiều may mắn.
----------------------------------
Chú thích:

Nguồn bài này:

June 6, 2013

Tình yêu của người con trai 70 tuổi dành cho mẹ bại liệt

Theo kênh 14, 

Do điều kiện gia đình khó khăn, ông Wang không kết hôn mà ở vậy chăm sóc mẹ già 95 tuổi bại liệt suốt nhiều năm liền.
Ông Wang He, 70 tuổi, sống tại 1 ngôi làng ở quận Ninghe, tỉnh Thiên Tân, Trung Quốc. Mẹ của ông năm nay đã 96 tuổi và bị liệt toàn thân. Suốt 10 năm qua, bà chỉ nằm yên trên giường và không thể tự làm bất cứ việc gì. 

Do điều kiện gia đình, ông Wang không lập gia đình. Hàng năm, ông nhận được trợ số tiền trợ cấp từ chính phủ là 5.000NDT (khoảng 14 triệu đồng).

Để chăm sóc được người mẹ già của mình, mỗi ngày ông Wang chỉ được ngủ 4 tiếng. Ngày nào cũng vậy, ông thường tắm rửa, thay tã và tẩm quất cho người mẹ đau yếu của mình. Để mẹ đỡ buồn, ông cũng thường xuyên nói chuyện với mẹ về những gì đang diễn ra xung quanh. Và đáp lại những câu chuyện ấy, mẹ của ông chỉ có thể gật và lắc đầu. 

Dù có vất vả nhưng ông Wang hy vọng rằng mẹ có thể sống lâu trăm tuổi để 2 mẹ con cùng nương tựa vào nhau trong quãng đời còn lại.    

tinh-yeu-cua-nguoi-con-trai-70-tuoi-danh-cho-me-bai-liet
Hàng ngày ông Wang thường đút cơm cho mẹ ăn.

tinh-yeu-cua-nguoi-con-trai-70-tuoi-danh-cho-me-bai-liet
Lau rửa người...

tinh-yeu-cua-nguoi-con-trai-70-tuoi-danh-cho-me-bai-liet
... rồi chải tóc cho mẹ.

tinh-yeu-cua-nguoi-con-trai-70-tuoi-danh-cho-me-bai-liet
Sau khi cho mẹ ăn xong, ông mới ngồi bên cạnh để ăn những đồ ăn còn thừa.

tinh-yeu-cua-nguoi-con-trai-70-tuoi-danh-cho-me-bai-liet
Ông Wang thường thay quần áo rồi tự tay giặt giũ đồ cho mẹ.

tinh-yeu-cua-nguoi-con-trai-70-tuoi-danh-cho-me-bai-liet

Ngoài thời gian chăm sóc mẹ, ông tranh thủ trồng rau để lấy thức ăn hàng ngày.