June 1, 2014

Hình ảnh tưởng tượng vui

Hình ảnh tưởng tượng vui 

http://toithichdoc.blogspot.com/2014/06/158-anh-vui-sieu-tuong-3.html#more

http://toithichdoc.blogspot.com/2014/06/157-anh-vui-sieu-tuong-2.html


March 19, 2014

Tính háo danh vụ lợi nhỏ mọn của người Việt

Nguyễn Hoàng Đức, Theo blog Bà Đầm Xòe

Việt Nam có hơn 24.000 tiến sĩ, đông bậc nhất thế giới nhưng là nước nghèo nàn đội sổ bậc nhất thế giới, và cũng có đông người làm thơ nhất cỡ ít ra cả triệu nhà thơ nhưng không thấy tác phẩm lớn mà chỉ thấy các mẩu vụn vẫn được gọi là “thơ hắt hơi”, những thứ bé hơn cả chuồng gà chuồng vịt. Tại sao? Bởi vì người Việt chỉ háo danh hão huyền nhắm vào vụ lợi “tham bát bỏ mâm” gắp cho mình, nên đất nước mới nghèo nàn lạc hậu và thi ca chỉ là chiếu rách à ơi mua vui bên chén rượu nhạt hay chén trà trong chốc lát. Hôm nay tôi xin bàn vào việc này.

Số lượng hơn 24.000 tiến sĩ Việt, kết quả thế nào? Nếu mỗi tiến sĩ chỉ cần viết một bài tiểu luận, thì chúng ta sẽ có ngần ấy bài, và in được khoảng 240 cuốn sách dầy dặn với mỗi cuốn có 100 bài. Nhưng than ôi, làm gì có ai thấy hơn hai trăm cuốn sách đó, mà 24 cuốn cũng không?

Chúng ta nghĩ gì khi một tiến sĩ không viết nổi 1 bài tiểu luận? Vậy thì 1 luận án bảo vệ tiến sĩ của người ta dầy hơn một trăm trang A4 lại không hơn một tiểu luận chỉ nghìn chữ thôi sao? Có một vụ án đã vỡ lở tại Việt Nam, một kẻ vừa tốt nghiệp đại học ra trường đã dịch vụ làm luận án cho hơn trăm tiến sĩ bằng cách vào các thư viện sao chép các đoạn tài liệu. Điều đó nói lên cái gì? Đó là những tài liệu vô hồn, chỉ có số liệu mà không có phán đoán, nhưng như vậy cũng đủ cho một bằng tiến sĩ. Ở Việt Nam, tôi được biết trong nhiều khoa người ta chấm lẫn cho nhau để có 100% thạc sĩ, người nào cũng nhận điểm suýt soát tối đa “nắm phải chim” tức là “chín phẩy năm”.

Chính vì tiến sĩ của ta đa số là chép tài liệu, đẩy đít như không cần có ngoại ngữ, hoặc ú ớ mấy từ, không cần biết phán đoán cá nhân, mà như nhân gian nói, chúng ta chỉ là “tiến sĩ giấy”, có thể ăn được, nói được, chém gió rất tài, nhưng lại không làm được. Việc viết được luận án tiến sĩ ư? Đó chỉ là trong khoa, trong trường chấm “nội bộ” lẫn nhau, nhưng việc viết một bài tiểu luận hay một cuốn sách chuyên luận là rất khó, bởi lẽ việc đó phải hiện diện trước công luận, chứ không phải thứ úm ba la chém gió trong nhà. Ngành văn học là dễ thấy nhất, có cả triệu người đã học trình độ đại học, nhưng cả nước không có đủ chục người có khả năng viết phê bình văn học. Còn các ngành khác? So với Nhật Bản hay Hàn Quốc, các chuyên gia tính, số đăng ký bản quyền phát minh ở Việt Nam kém hơn cả nghìn lần. Than ôi, lượng tiến sĩ của mình thì đông gấp năm lần người ta, nhưng bằng phát minh thì chưa được một phần nghìn. Nghĩa là chúng ta chỉ có bằng giấy không thể nào ra quả được.

Ở đời ai cũng khát danh vọng, bởi vì cái đó là biểu hiện của vinh quang cũng như sự tôn trọng. Đó là điều chính đáng! Một viên sỏi ném xuống nước còn sủi bọt lên, làm người mà vô tăm tích như bèo trôi trên sông không để lại dấu vết gì thì cũng thật buồn. Nhưng như người Việt nói “Thế gian chuộng của chuộng công/ Nào ai có chuộng người không bao giờ”. Còn người phương Tây có phương ngôn “Người ta được quí trọng ngang với những gì cống hiến cho mọi người”. Nếu ta không cống hiến hay hy sinh cái gì cho người khác, thì làm sao muốn người ta trọng thị mình? Anh vĩ đại ư? Nhưng anh đã làm gì để thành vĩ đại? Thi hào Goethe nói cụ thể: “Mọi vinh quang phải đi kèm với công lao”. Nằm ngủ gãi háng để rồi vinh quang sẽ rơi xuống như nhện rơi từ trần nhà xuống người mình ư? Trong tự nhiên, cũng có cả qui luật huyền bí, đó là nhện sẽ không bao giờ rơi xuống kẻ vô tích sự, bởi vì “nhện sa sà đón xin đừng vội lo”.

Người phương Tây họ cũng háo danh, nhưng háo danh bằng cách nhảy thác Niagara, nghĩa là đem cả mạng sống mình để đổi lấy sự nổi tiếng còn hơn phải chết buồn trong cuộc đời buồn tẻ không phát xạ bất cứ đốm sáng nào khác thường. Rồi người ta đăng ký các kỷ lục Guinness từ tâng bóng, đến đá cầu hay ăn ớt… Đó chí ít là vinh quang cụ thể mà người ta làm được. Nhưng còn các tiến sĩ ở ta? Họ tung mọi tiền bạc ra chạy cán đích có phải để ẵm chiếc bằng là vinh quang chữ nghĩa? Không, cái bằng đó là thứ để đổi lấy một cấp bậc cụ thể hay mức lương nào đó. Có cả các vị quan đã cho cả người đi học hộ mình mong lĩnh bằng cho việc thăng chức.

Còn việc làm thơ? Có phải người Việt rất yêu thơ không? Không hề! Vì một người yêu âm nhạc hay ca khúc, nghe tiếng nhạc họ liền nhún nhảy hát theo, không cần để ý bài hát đó là của ai sáng tác. Ngược lại người làm thơ xứ ta, yêu thơ đến độ chỉ thích đọc thơ mình, thơ của ai dù hay mấy cũng bị bỏ ngoài tai. Thực ra đó chỉ là người bán hàng, muốn giật loa khỏi tay người khác để quảng cáo cho sản phẩm của mình. Nhưng đây là bi kịch lớn nhất của thơ Việt, sau khi giật được loa, chiếm được sàn diễn trên báo, ngồi ì cả mấy chục năm nhưng không biết quảng cáo sản phẩm của mình có gì.

Làm thơ ở Việt Nam chỉ là cách để người ta háo danh nhanh nhất và lười biếng nhất. Cụ thể, một câu lạc bộ thơ bên phía bắc sông Hồng, sau thời gian đua nhau ra các tập thơ mỏng như tờ rơi, họ liền tiến vào báo văn nghệ của thủ đô, làm vài trang ra mắt chào mừng, liên hoan với nhau mấy can bia to tướng cùng lạc luộc. Điều ấy có vui không? Có! Nhưng nếu chỉ có vậy thì không sao? Đừng này sau khi đăng báo, mấy vị thơ nhà quê lại trách móc, tại sao thơ của chúng tôi không được các nhà phê bình khen như thể thơ đã leo lên báo. Chao ơi, thơ từ bùn đất quê nhà được leo lên báo thủ đô quả là quãng đường của phi công Phạm Tuân bay lên vũ trụ, mà không được bình phẩm sáng láng lại chìm xuồng như bia lạc chui vào dạ dầy rồi lại chui ra ư?

Đấy chúng ta thử nhìn cách sống, cách nghĩ, cách sáng tạo của người Việt. Ở Việt Nam không có một chiếc thuyền thúng nào được đặt tên cả. Còn khi đã đóng một con tầu, thì nó phải được đặt tên rồi mang số hiệu. Muốn làm một con tầu thì sao? Nó phải có ý tưởng lớn đầu tiên như đi dường dài hay vượt biển. Rồi phải được lắp đặt bằng các chi tiết nhỏ nhất bằng kỹ thuật. Một người mới loanh quanh trong sân, nghê nga mấy câu thơ sau lũy tre làng, lại là lúc nông nhàn, sao lại khao khát mình nổi danh là nhà thơ thiên hạ. Làm thơ ít ra phải như Nguyễn Du sôi kinh nấu sử, mang “Thanh Tâm Tài Nhân” của Tầu xa vạn dặm về nhà sao chế mới mong “tầu vượt biển” có danh chứ, đằng này chữ nghĩa chưa hết cấp ba, nông binh còn đượm mùi bùn, sao lại đòi ẵm vương miện vinh quang của chữ nghĩa? Như vậy chẳng là ảo mộng hão là gì?

Tất cả mọi người đều khao khát vinh quang! Tôi cũng không nằm ngoài số đó. Chỉ có điều chúng ta nên nhớ “vinh quang phải ngang bằng công lao”, mấy vần thơ cảm xúc trong ao nhà không cách gì đóng hộ chúng ta một chiến hạm khổng lồ để vượt đại dương đâu?! Nếu chúng ta không sửa soạn đóng tầu với những khung giàn thép khổng lồ, thì đừng có mơ, con thuyền lá tre bé tẹo dù có xinh xắn mấy của ta bỗng chốc trở thành tầu chạy năng lượng hạt nhân lướt sóng đại dương vù vù. Người đời khuyên “biết mình biết ta”, để tránh ảo tưởng về mình, mỗi chúng ta nên biết phản tỉnh để nhận ra khả năng của mình. Một người nông dân làm thơ để vui chơi, không sao cả, nhưng người đó muốn nằm mơ thành thi hào xuất chúng thì không tốt. Càng dở hơn nếu người đó có người chống lưng mong ước hộ mình, câu lạc bộ thơ làng ta sẽ lên báo hết, và sau bữa bia lạc chúng ta sẽ trở thành các nhà thơ được giới phê bình tung hô. Những chiếc thuyền thúng đừng nên nghĩ có một phép lạ nào để nhập nhèm đứng cạnh khoe vóc dáng với tầu sân bay.

Muốn nước nhà hùng mạnh, chúng ta nên có tư duy làm tầu lớn từ khung thép đến sàn tầu. Còn nhanh và tiện như làm thuyền thúng ư, một triệu cái thuyền thúng vẫn chỉ là thứ bé bỏng vô danh mà thôi.

NHĐ 17/03/2014

March 7, 2014

Thành ngữ thời nay


Thành ngữ thời nay: Gian nhà, hòn đất, mất cả anh em

Thành ngữ thời nay1. Dạy con trẻ vạn lời hay, không bằng nửa ngày làm gương, làm mẫu.
2. Cha mẹ chỉ biết cho, chẳng biết đòi. Con cái thích vòi mà không biết trả.
3. Dâu, rể tốt cha mẹ được đề cao. Con cái hỗn hào đứt mười khúc ruột.
4. Cha mẹ dạy điều hay, kêu lắm lời. Bước chân vào đời ngớ nga ngớ ngẩn.
5. Cha nỡ coi khinh, mẹ dám coi thường. Bước chân ra đường phi trộm thì cướp.
6. Cha mẹ ngồi đấy không hỏi, không han. Bước vào cơ quan cúi chào thủ trưởng.
7. Con trai chào trăm câu không bằng nàng dâu một lời thăm hỏi.
8. Khôn đừng cãi người già, chớ có dại mà chửi nhau với trẻ.
9. Gọi cha: ông khốt, gọi mẹ: bà bô. Ăn nói xô bồ thành người vô đạo.
10. Mỗi cây mỗi hoa, đừng trách mẹ cha nghèo tiền nghèo của.

11. Cái gì cũng cho con tất cả, coi chừng ra mả mà cười.
12. Đồng tiền trên nghĩa, trên tình,
mái ấm gia đình trở thành mái lạnh.
13. Gian nhà, hòn đất, mất cả anh em.
Mái ấm bỗng nhiên trở thành mái nóng.
14. Bố mẹ không có của ăn của để, con rể khinh luôn.
15. Coi khinh bên ngoại, chớ mong có rể hiền.
Ăn ở mất cả họ hàng, chớ mơ có nàng dâu thảo.

16. Rể quý bố vợ vì có nhà mặt phố.
Con trai thương bố vì chức vì quyền.
17. Đi với Bụt mặc áo cà sa
Quen sống bê tha thân tàn ma dại.
18. Ngồi bên bia rượu hàng giờ, dễ hơn đợi chờ nửa giây đèn đỏ.
20. Củi mục khó đun, chồng cùn sống bậy,
con cái mất dạy, phí cả một đời.

21 Hay thì ở, dở ra toà, chia của chia nhà, con vào xóm “bụi”.
22. Ngồi cùng thiên hạ, trăm việc khoe hay,
Mẹ ốm bảy ngày không lời thăm hỏi.
23. Đi có bạn đường chân không biết mỏi,
còn có mẹ cha sao không hỏi khi cần.
24. Nói gần nói xa,
đừng biến mẹ già
thành bà đi ở.
25. Bài hát Tây Tàu hát hay mọi nhẽ
Lời ru của mẹ chẳng thuộc câu nào.

26. Con trai, con rể bí tỷ say mềm
Nàng dâu ngồi chơi, mẹ già rửa bát.
27. Khoẻ mạnh mẹ ở với con, đau ốm gầy còm tuỳ nghi di tản.
28. Thắt lưng buộc bụng nhịn đói nuôi con,
dâu rể vuông tròn, cuối đời chết rét.
39. Mẹ chết mồ mả chưa yên,
anh em xô nhau chia tiền phúng viếng.
30. Khấn Phật, cầu Trời, lễ bái khắp nơi, nhưng quên ngày giỗ Tổ.

31. Vào quán thịt cầy, trăm ngàn coi nhẹ,
góp giỗ cha mẹ suy tị từng đồng.
32. Giỗ cha coi nhẹ, nuôi mẹ thì không,
Cả vợ lẫn chồng đi làm từ thiện.
33. Một miếng ngọt bùi khi còn cha mẹ,
một miếng bánh đa hơn mười ba mâm báo hiếu.
34. Cha mẹ còn thơm thảo bát canh rau
Đừng để mai sau xây mồ to, mả đẹp.

35. Ở đời bất thiện, là tại nhàn cư
Con cháu mới hư đừng cho là hỏng.
36. Bạn bè tri kỷ, nói thẳng nói ngay
Con cháu chưa hay đừng chê đồ bỏ.
37. Bảy mươi còn phải học bảy mốt
Mới nhảy vài bước chớ vội khoe tài.
38. Phong bì trao trước, bia bọt uống sau,
dâu rể ngồi đâu đố ai mà biết!
39. Tiếp thị vào nhà bẻm mép,
cẩn thận cảnh giác, đôi dép không còn.
40. Cầu thủ thế giới tên gọi chi chi,
thoáng nhìn tivi đọc như cháo chảy,
ông nội ngồi đấy thử hỏi tên gì?

N.V.Ph - Hội Người cao tuổi phường Tân Thành (TP Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên)

February 27, 2014

Bầu Kiên & vàng

TBKTSG
Hải Lý 

Thứ Năm, 27/2/2014, 19:00 (GMT+7) 

(TBKTSG) - Thật khó viết về chân dung một con người vốn từng làm tốn nhiều giấy mực của các phương tiện truyền thông như ông Nguyễn Đức Kiên (thường được nhắc đến bằng cái tên “bầu Kiên”) trong một vài trang báo. Tội trạng của ông đến đâu, đúng sai thế nào là việc điều tra, xét xử của các cơ quan luật pháp. Trong bài viết dưới đây, tác giả chỉ ghi chép lại những thông tin nhặt nhạnh được về ông trực tiếp và gián tiếp trong quá trình tác nghiệp của một nhà báo chuyên theo mảng tài chính - ngân hàng, để bạn đọc tham khảo. 

Bầu Kiên nói gì trước giờ bị bắt? 

Hoàn toàn tình cờ, cuộc phỏng vấn của phóng viên TBKTSG với bầu Kiên kéo dài khoảng một tiếng rưỡi đồng hồ, kết thúc lúc gần 17 giờ 30 chiều tại cà phê tầng trệt của khách sạn Hilton (Hà Nội) ngày 20-8-2012, diễn ra ngay trước thời điểm ông bị bắt tạm giam. Trước đó vài tiếng ông gặp gỡ một số phóng viên thể thao vì hình như hôm ấy có một số trận bóng đá gay cấn. Cuộc nói chuyện liên tục bị cắt ngang bởi tiếng chuông từ hai chiếc điện thoại di động. Ông không nghe hai, ba cuộc, rồi cằn nhằn: “Sao hôm nay nhiều điện thoại thế nhỉ?”. Có một cuộc ông trả lời ngắn gọn, đại khái về khoản tiền thưởng cho một đội bóng nào đó. Ông nói tiền thưởng vẫn như năm ngoái, 500 triệu đồng và cúp máy. 

Ba câu trả lời của ông khiến người nghe chú ý. Thứ nhất, ông đề xuất giảm lãi suất vì doanh nghiệp quá khó khăn. Tiếp theo, chấn chỉnh thị trường liên ngân hàng. Những khoản nợ đọng trên thị trường này thời điểm ấy khá lớn và ACB đang có dư nợ cho vay hơn 1.000 tỉ đồng cho một tổ chức tín dụng đã quá hạn chưa đòi được. (Mãi gần đây khoản nợ liên ngân hàng này của ACB mới được giải quyết bao gồm gốc và lãi thu được 9%/năm, thấp hơn nhiều so với lãi suất thỏa thuận cho vay ban đầu - NV). Điều thứ ba được ông nhấn mạnh là cho phép các ngân hàng được trích lập dự phòng rủi ro tối đa. Dường như có điều gì hơi bất thường trong sự nhấn mạnh vì rõ ràng cơ quan quản lý không hề giới hạn mức trích lập dự phòng, thậm chí Ngân hàng Nhà nước còn yêu cầu các ngân hàng tăng trích lập để xử lý nợ xấu. 

Ông ngần ngừ và không trả lời câu hỏi liệu việc trích lập dự phòng có liên quan đến kinh doanh vàng. Một câu hỏi khác ông cũng ngập ngừng là giá cổ phiếu Eximbank. Hai tuần liền thị giá Eximbank leo dốc và ngày hôm ấy nó vượt qua mốc 20.000 đồng/cổ phiếu. Trên thị trường có tin đồn một số cổ đông lớn, trong đó có ông đang mua vào. Ông xác nhận một nhóm cổ đông đang nắm giữ hơn 20% cổ phần Eximbank và phủ nhận khả năng Eximbank sẽ hợp nhất với ACB. Đề cập đến Sacombank ông nói một thành viên hội đồng quản trị của nhóm cổ đông mới phát biểu với báo chí sẽ không có ngân hàng nào sáp nhập vào Sacombank là không chính xác. “Phải nói là không sáp nhập trong tương lai gần”, ông bảo. 


Khi rời bàn đứng lên, không thấy ông kêu tính tiền. Có lẽ ông là khách quen ở đây? Ông đi ra cửa sau, nơi có chiếc Rolls Royce đứng đợi. Tầm 20-21 giờ hôm đó tin ông bị bắt lan trong cánh báo chí. Tôi gọi điện đến ACB, thông tin được xác nhận. 



 


Người dân đến giao dịch tại ACB sau khi nghe thông tin bầu Kiên bị bắt. Ảnh: Kinh Luân 

Lần “ra mắt” đầu tiên 
ACB thành lập đầu những năm 1990. Lúc đầu trong danh sách các cổ đông sáng lập không có tên bầu Kiên. Thời gian sau, khi đăng ký lại giấy phép kinh doanh, thấy không đủ người, các cổ đông sáng lập đồng ý đưa tên ông Kiên vào. Từ đó ông Kiên trở thành một trong những cổ đông sáng lập ngân hàng. 

Cả chục năm, khi ACB họp báo hay tiếp xúc với báo giới TPHCM, không bao giờ thấy có mặt bầu Kiên. Nhiều nhà báo theo mảng ngân hàng không biết ACB có một phó chủ tịch hội đồng quản trị tên Nguyễn Đức Kiên. Khi “ngày thứ ba đen tối” trong tháng 10-2003 xảy ra, ACB bị rút tiền bởi tin đồn thất thiệt tổng giám đốc bỏ trốn, bầu Kiên lần đầu “ra mắt” báo chí. Tối hôm ấy ở quầy giao dịch hội sở chính trên đường Nguyễn Thị Minh Khai của ACB, người ta thấy một người đàn ông tóc đen, hơi thấp, xăng xái đi lại, chỉ tay chỗ này chỗ kia. Khi thấy tình hình rút tiền không có dấu hiệu thuyên giảm, ông ta và một số lãnh đạo ACB tiến gần đến chỗ các quan chức Ngân hàng Nhà nước, đề nghị gì đó. Sau đấy nguyên Thống đốc Lê Đức Thúy đứng lên cái bàn giữa phòng giao dịch, tuyên bố cam kết đảm bảo tiền gửi của bà con an toàn và kêu gọi mọi người yên tâm về nhà. 

Gần 23 giờ đêm ACB họp báo. Đó là cuộc họp báo có một không hai, nhưng cánh phóng viên, kể cả phóng viên ảnh đến khá nhiều. Người gửi tiền vẫn tiếp tục xếp hàng rút tiền. Bên ngoài trời mưa. Trong đêm, những người đã rút được tiền không dám về, họ ôm tiền, ngồi ngay ở ngân hàng. Bên ngoài bảo vệ đóng cửa. Những người không vào được chen nhau đẩy cánh cổng. Đứng từ trên lầu một nhìn xuống, thấy cánh cổng chắc bật đến nơi, ông Kiên kêu anh em bảo vệ mở cho họ vào. 

Đêm không ngủ ấy tóc ông Kiên không đổi màu. Mấy năm sau tóc ông mới bạc trắng. 

Bầu Kiên đã sảy chân với vàng, sa cơ lỡ vận vì vàng và với vàng ông là “kẻ thua cuộc”. Vàng đã đẩy ông đi từ sai lầm này đến sai lầm khác. 

Kẻ thua cuộc 

Những người thường xuyên tiếp xúc với ông Kiên nhận xét ông tham vọng. Một số người thân cận trong giới ngân hàng nói ông tham lam. Họ kể câu chuyện nửa đùa nửa thật. Một bữa ông Kiên ngồi trong nhà, thấy có con bò đi qua cửa, liền tìm cách dắt nó vào nhà nhưng không được. Thế là ông nói “tôi mất một con bò”! 

Sau khi gọi vốn nước ngoài, những năm 2005-2006 ACB và một số ngân hàng cổ phần “lớn” rất nhanh. Một phần do cơ hội Việt Nam chuẩn bị gia nhập WTO mang lại, phần khác tăng trưởng kinh tế những năm đó thuận lợi. Khi ấy ACB đã dẫn đầu khối cổ phần và thể hiện tham vọng cạnh tranh với bốn ngân hàng quốc doanh. Bước cạnh tranh đầu tiên là về tổng tài sản và lợi nhuận. 

Năm 2006 lợi nhuận trước thuế của ACB đạt 687 tỉ đồng. Năm sau con số lợi nhuận tăng gấp ba lần, nhảy lên 2.127 tỉ đồng. Cùng thời gian, tổng tài sản của ACB bắt đầu leo thang. Một trong những yếu tố tạo đà nhảy cho tổng tài sản của ACB là huy động vàng. Không có ngân hàng nào huy động được nhiều vàng trong dân như ACB. Vào lúc đỉnh điểm, ACB đã huy động được một lượng vàng khổng lồ, hơn 33 tấn. 

Quy định cho phép huy động vốn bằng vàng và chuyển 30% vàng huy động thành tiền để cho vay là một chủ trương thức thời. Tuy nhiên việc điều hành, quản lý và kiểm soát phải bám sát thực tế, đơn giản vì vàng là ngoại tệ, là thứ tài sản tích lũy mang tính truyền thống của người Việt Nam. Tiếc thay quản lý vàng suốt nhiều năm đã bị buông lỏng, làm ảnh hưởng đến tỷ giá, tạo ra những “lỗ hổng” và những cơn sốt có thời điểm làm chao đảo nền kinh tế. 

Bầu Kiên đã sảy chân với vàng, sa cơ lỡ vận vì vàng và với vàng ông là “kẻ thua cuộc”. Vàng đã đẩy ông đi từ sai lầm này đến sai lầm khác. Và khi sai lầm tích lũy, nó đã tiếp tay, dẫn ông đến những hành động vi phạm pháp luật. 

Giới ngân hàng cho biết bầu Kiên bắt đầu kinh doanh vàng tài khoản từ năm 2008. Ông sử dụng pháp nhân của sáu công ty không có chức năng kinh doanh vàng để tham gia vào thị trường vàng quốc tế. (Cáo trạng của Viện Kiểm sát nhân dân tối cao kết luận ông phạm tội kinh doanh trái phép). Ông bán vàng trong nước, mua vàng tài khoản nước ngoài để bù đắp trạng thái. Điều này chẳng khác nào nghiệp vụ bán khống, mà một trong những quy tắc của bán khống là cover (mua lại) càng nhanh càng tốt. Bầu Kiên đã không làm như vậy. Có những đợt phải mấy tháng sau ông mới mua lại vàng đã bán. Chưa kể người ta bán khống trong thị trường giá xuống, còn ông bán khống trong thị trường giá lên. 

Tổng giám đốc một ngân hàng kể: “Năm 2009-2010 đi đâu cũng thấy ông Kiên kè kè một cái điện thoại và 5-10 phút lại nhìn vào đó để xem sự biến động giá vàng thế giới. Một lần tôi nói các tổ chức quốc tế đều dự báo giá vàng sẽ qua mốc 1.300 đô la Mỹ/ounce, ông gạt phắt làm gì có”. 

Cuối năm 2009, đầu năm 2010 bầu Kiên đã có những quyết định “chết người” với vàng. Ông vay vàng trong nước (vàng huy động của các ngân hàng), và bán. Có ngày ông bán 20.000 lượng vàng ở mức giá 26 triệu đồng/lượng. Vay vàng lãi suất thấp, bán và lấy tiền đồng gửi lại ngân hàng hoặc cho vay lãi suất cao, tính ra chênh lệch tới ba lần/năm. Tuy nhiên người tính không bằng trời tính. Không ai có thể ngờ giá vàng đã tăng với tốc độ chóng mặt. Khi giá tăng, ngân hàng yêu cầu người vay nộp thêm tài sản, hoặc tất toán trạng thái, chấp nhận lỗ. Vàng đã biến tài sản của bầu Kiên thành con số âm! Những đêm không ngủ theo dõi thị trường vàng thế giới (do múi giờ của châu Âu, Mỹ lệch với Việt Nam) là thủ phạm gây bạc tóc. Kể từ đó “ông đầu bạc” trở thành biệt danh của bầu Kiên. 

Cái “chết” vì vàng của bầu Kiên có thể sẽ không tạo ra nhiều hậu quả đến thế cho bản thân ông và ACB nếu ACB và một số ngân hàng kiên quyết ép buộc ông đóng trạng thái khi đến điểm phải cắt lỗ. Đằng này họ đã cho ông nợ trạng thái với hy vọng giá vàng thế giới quay đầu đi xuống. Trên thị trường đầu cơ, không có cái gì lên mãi và cái gì xuống mãi. Đúng là giá vàng quốc tế đã giảm sau 12 năm thăng hoa, nhưng nó giảm ở thời điểm quá xa so với ngày bầu Kiên bán khống. 

Vòng lao lý 

Để bù đắp cho sự mất mát do vàng gây nên, bầu Kiên lao vào kiếm tiền bằng kinh doanh chứng khoán, kinh doanh ngân hàng, bằng “tư vấn” cho một số thương vụ thâu tóm từ nguồn tiền ảo. Một trong những thứ tài sản ông sở hữu là cổ phiếu ngân hàng. Một lãnh đạo ngân hàng có thâm niên phân tích: “Ông Kiên đã dùng tiền của ACB để mua cổ phiếu ACB, kể cả mua bán “kỹ thuật” tay phải qua tay trái, nhằm đỡ giá cổ phiếu. ACB là blue-chips, có ảnh hưởng đến mặt bằng cổ phiếu ngân hàng nói chung. Ai cũng nhìn thấy sự rơi tự do của cổ phiếu ngân hàng trong những năm qua khắc nghiệt như thế nào. Nếu đà rơi không bị chặn lại, không ít các ông chủ ngân hàng sẽ gặp “nạn”, vì tỷ lệ đòn bẩy để có tiền góp vào các đợt tăng vốn của tổ chức tín dụng rất lớn”. 

Bầu Kiên dính vào vòng lao lý đã kéo theo phần lớn dàn lãnh đạo ACB liên lụy. Từ lâu ACB đã tập trung vào các nghiệp vụ đòi hỏi nhiều “chất xám” như kinh doanh trái phiếu; kinh doanh liên ngân hàng; vàng, ngoại tệ; cho vay với khách hàng có thu nhập tầm trung trở lên ở các đô thị và ngân hàng đầu tư. ACB không cho vay với nông thôn, nông dân. Rất ít khi tỷ lệ cho vay trên huy động của ACB đến 80%. Ít ai biết rằng ACB đã từng “thắng” lớn khi đầu tư vào trái phiếu chính phủ của một số quốc gia bị định giá tín nhiệm rủi ro với lãi suất bằng ngoại tệ tới 8%/năm. 

Như đã viết ở đầu bài, khó có thể đưa vào hết chi tiết ngóc ngách về bầu Kiên trong khuôn khổ một bài báo. Xét cho cùng, vì sao một số ngân hàng cho bầu Kiên vay vàng nhiều đến thế để bán? Vì sao chấp nhận cho ông nợ? Bằng cách nào ông trở thành cổ đông lớn và thể hiện vai trò chi phối ở một số tổ chức tín dụng? Cách thức ông khống chế các thành viên hội đồng quản trị và nhất là vì sao người ta lại nhắc đến tên ông mỗi khi đề cập đến vụ thâu tóm thù địch ở Sacombank dù ông không sở hữu một cổ phiếu nào ở đó? Câu chuyện còn dài và có thể một ngày nào đó chúng tôi sẽ tiếp tục ghi lại hầu bạn đọc. 

February 26, 2014

Đi Học và Đi Dạy

Theo TTD Blog's

Đi Học và Đi Dạy
Nguyễn Ngọc Chính: “Hằng năm cứ vào cuối thu, lá ngoài đường rụng nhiều và trên không có những đám mây bàng bạc trôi đi, thì lòng tôi lại nao nức những kỷ niệm hoang mang của buổi tựu trường… 

Thủ bút của Thanh Tịnh … Buổi sáng mai hôm ấy, một buổi mai đầy sương thu và gió lạnh. Mẹ tôi âu yếm nắm tay tôi dẫn đi trên con đường làng dài và hẹp. Con đường này tôi đã quen đi lại lắm lần, nhưng lần này tự nhiên tôi thấy lạ. Cảnh vật chung quanh tôi đều thay đổi, vì chính lòng tôi đang có sự thay đổi lớn: Hôm nay tôi đi học…”

Ở Miền Nam, chắc hẳn những người ngày nay đã ngoài 60 không thể nào quên đoạn văn trên của Thanh Tịnh [1] trong truyện ngắn Tôi Đi Học, rút từ tập Quê Mẹ, viết năm 1941. Đó là “bài văn mẫu” của môn Việt văn mà tất cả học sinh trung học đều phải học thuộc nằm lòng và đó cũng là những cảm xúc của một cậu bé lần đầu được mẹ dẫn đến trường làng:

“Trước mặt tôi, trường Mỹ Lý vừa xinh xắn vừa oai nghiêm như cái đình Hòa Ấp. Sân nó rộng, mình nó cao hơn những buổi trưa hè đầy vắng lặng. Lòng tôi đâm ra lo sợ vẩn vơ… Cũng như tôi, mấy cậu học trò mới bỡ ngỡ đứng nép bên người thân, chỉ dám nhìn một nửa hay dám đi từng bước nhẹ. Họ như con chim con đứng trên bờ tổ, nhìn quãng trời rộng muốn bay, nhưng còn ngập ngừng e sợ. Họ thèm vụng và ước ao thầm được như những học trò cũ, biết lớp, biết thầy để khỏi phải rụt rè trong cảnh lạ…”

Ngày xưa, hiệu trưởng được gọi bằng tên “Ông Đốc”. Ông Đốc trường Mỹ Lý đọc tên những học trò “lính mới tò te” và Thanh Tịnh cảm thấy như “quả tim ngừng đập” khi tên mình được đọc lên để xếp hàng vào lớp. Ông Đốc nhắn nhủ học trò mới:

“Thế là các em đã vào Lớp Năm [ngày nay là Lớp Một]. Các em phải cố gắng học để thầy mẹ được vui lòng, và để thầy dạy chúng em được sung sướng. Các em đã nghe chưa?... Thôi, các em đứng sắp hàng để vào lớp học.”

Quả thật đám học trò mới nghe rất rõ nhưng chẳng đứa nào dám mạnh dạn trả lời. Cũng may đã có tiếng dạ ran của phụ huynh đáp lại… Một cậu đứng đầu ôm mặt khóc và cậu bé Thanh Tịnh bất giác quay lưng lại rồi dúi đầu vào lòng mẹ, nức nở khóc theo, đâu đó cũng có tiếng thút thít…

Kể cũng buồn cười. Khi ra chào đời mọi người đều cất tiếng khóc và rồi lại có những người cất tiếng khóc… chào lớp, chào trường trong khung cảnh trang nghiêm của ngày đầu đi học. Và thế là kể từ lúc đó bắt đầu một chuỗi ngày dài đằng đẵng để làm học sinh mà người đời vẫn gán cho một cái tội… “nhất quỷ, nhì ma, thứ ba học trò”.

Quả thật, đứng hàng thứ ba sau quỷ và ma là điều mà những học trò nghịch ngợm nhất cũng cảm thấy sự ví von là… quá đáng. Còn đối với những học trò ngoan ngoãn thì sự ví von này đúng là… bất công.

Có chê thì cũng phải có khen. Có một bài hát mà học trò ở Miền Nam ngày xưa đều thuộc nằm lòng, đó là bài Học sinh hành khúc (nghe tại: http://mp3.zing.vn/bai-hat/Hoc-sinh-.../IWZC8I09.html). Nhạc sĩ Lê Thương ca tụng học sinh hết lời với những câu mở đầu không thể nào hay hơn:

Học sinh là người tổ quốc mong cho mai sau.
Học sinh xây đời niên thiếu trên bao công lao.
Lúc khắp quốc dân tranh đấu hy sinh cho nền độc lập.
Học sinh nề chi tuổi xanh trong lúc phấn đấu.
Đem hết can tràng của người Việt Nam tiến lên!
Khi cất tiếng hát bài hành khúc, có học trò nào mà không tự hào khi được gắn liền với những lý tưởng cao đẹp như tổ quốc, độc lập… rồi tới điệp khúc lại vinh danh học sinh bằng những hình ảnh như “mầm sống của ngày mai”, “nối chí lớn”, “sống vì giống nòi” và “liều thân vì nước, vì dân”…

Học sinh là mầm sống của ngày mai.
Nung đúc tâm hồn để nối chí lớn.
Theo các thanh niên sống vì giống nòi.
Liều thân vì nước, vì dân mà thôi.

Biết bao thế hệ học sinh đã hăng say cất tiếng hát Học sinh Hành khúc từ cuối thập niên 50 để quên đi cảnh lớp học của thầy đồ với lũ học trò nằm bò trên phản hay trên chiếu để học viết chữ Nho của thánh hiền khiến Trần Tế Xương đã phải thốt lên:

“Thầy đồ thầy đạc, dạy học dạy hành
Vài quyển sách nát, ba thằng trẻ ranh”

Hồi đó còn chưa có lối so sánh “nhất quỷ, nhì ma…” nên thầy đồ Cao Bá Quát đã ví học trò là thứ “nửa người, nửa ngợm, nửa đười ươi”, một lối “tả chân” đầy hình tượng:

“Nhà trống ba gian, một thầy, một cô, một chó cái
Học trò dăm đứa, nửa người, nửa ngợm, nửa đười ươi”
Học trò ngày xưa khi bắt đầu đi học với thầy đồ là bắt đầu ê a Tam Tự Kinh, mỗi câu chỉ có 3 chữ được viết theo vần điệu, khởi đầu là “Nhân chi sơ, tính bổn thiện” (con người sinh ra, bản tính vốn thiện lành) được dân gian “chế” thành… “Nhân chi sơ, sờ tí mẹ”!

Học hết Tam Tự Kinh là có số vốn hơn 1000 chữ Hán để tiếp tục học lên cao. Tam Tự Kinh còn dạy đạo lý làm người như “Ngọc bất trác, bất thành khí; Nhân bất học, bất tri lý" (Ngọc không mài không thành đồ quý; Người không học không biết đạo lý).

Có thể nói, Tam Tự Kinh là một trong những cuốn sách giáo khoa duy nhất cho người học chữ Nho bao gồm các môm đạo đức, sử ký, vạn vật mà học sinh các thế hệ chữ quốc ngữ học tại trường lớp được tổ chức có quy củ sau này phải dùng nhiều sách theo kiểu Tây học.


Lớp học của thầy đồ xưa 

Thầy đồ thường là những “tú tài lạc đệ” hay nói khác đi là những người thất bại trong thi cử nên về “ở ẩn” mở lớp dạy học. Đọc Lều Chõng của Ngô Tất Tố người ta mới thấy con đường làm quan ngày càng thu hẹp và con đường làm thầy đồ ngày càng mở rộng. Ngô Tất Tố viết: 

“Ngày nay nghe đến hai tiếng "Lều", "Chõng" có lẽ nhiều người sẽ lấy làm lạ vì những vật ấy từ biệt chúng ta mà đi đến chỗ mất tích đã gần ba chục năm nay. Nhưng mà trước hơn hai chục năm đi ngược trở lên, cho đến hơn một nghìn năm, "Lều" "Chõng" vẫn làm chủ vận mệnh của giang sơn cũ kỹ mà người ta vẫn khoe là "bốn nghìn năm văn hiến". Những ông ngồi trong miếu đường làm rường làm cột cho nước nhà, những ông ở nơi tuyền thạch, làm khuôn mẫu cho đạo đức phong hóa, đều ở trong đám lều chõng mà ra.

Lều Chõng với nước Việt Nam không khác một ông tạo vật, đã chế tạo đủ các hạng người hữu dụng hoặc vô dụng. Chính nó đã làm cho nước Việt Nam trở nên một nước có văn hóa, rồi lại chính nó đã đưa nước Việt Nam đến cõi diệt vong. Vì nó, nước Việt Nam trong một thời kì rất dài đã phát hiện ra nhiều cảnh tượng kỳ quái, có thể khiến cho người ta phải cười, phải khóc, phải rùng rợn hồi hộp”.


Chân dung một thầy đồ phải nói chữ nghĩa tiếng Việt đã may mắn chọn con đường “La Tinh Hóa”, một phương tiện tiếp cận với văn minh Âu Mỹ dễ dàng hơn so với chữ Hán và chữ Nôm. Nước ta sau một thời gian dài Bắc Thuộc với cách viết tượng thanh, tượng hình, chỉ sự, hội ý… qua hơn 200 bộ chữ đã thực hiện được một cuộc chuyển hướng ngoạn mục theo mẫu tự La Tinh.

Hồi còn trong trại cải tạo tôi đã có một thời gian học viết chữ Nho với “thầy đồ” là một anh bạn người Việt gốc Hoa, đổi lại tôi “kèm” Anh văn cho anh, thế là cả hai bên “cùng có lợi”. Thay vì bút lông, chúng tôi dùng que viết lên mặt đất và cứ như thế vốn Hán văn của tôi lên đến… cả trăm chữ!

Kinh nghiệm bản thân cho thấy “ở tù” là thời gian tốt nhất để học hỏi từ các bạn đồng cảnh ngộ. Việc học trong giai đoạn “chẳng đặng đừng” này khiến ta khám phá được nhiều điều mới lạ mà ngoài đời thường sẽ chẳng bao giờ học được. Bản thân việc tìm tự do trong hoàn cảnh “mất tự do” cũng là một bài học mà ít người chú ý đến. 

Làng tranh dân gian Đông Hồ và Hàng Trống khai thác mảng thầy đồ qua những bức tranh vui, điển hình là bức “Lão oa giang độc” (Thầy đồ cóc) vẽ một lớp học này xưa với “thầy đồ cóc” ngồi trên sập gụ, phía dưới là cả một bầy cóc nhái, con thì đứng khúm núm trả bài cho thầy, con thì bưng nước cho thầy giải lao.

Góc trên phía bên phải có cóc “trưởng tràng” hay “giảng tràng” là những “trợ lý” của thầy đồ đang giảng bài cho những học trò mới. Góc dưới phía bên phải là cảnh một chú nhái lười học đang bị đánh đòn bằng roi mây.

Bức tranh “cóc nhái” nói lên cảnh nền Nho học đang bước vào thời kỳ suy thoái, đó là giai đoạn chuyển tiếp trước khi có chữ quốc ngữ. Đó cũng là thời kỳ “đổi bút lông sang bút chì” hay còn được gọi là “bỏ Nho học sang Tây học”. 


Thầy đồ cóc và lũ học trò 

Bắt đầu từ năm 1917 chính quyền thuộc địa của người Pháp đã áp dụng một hệ thống giáo dục thống nhất trên toàn cõi Đông Dương, gồm 3 miền Bắc, Trung, Nam và hai nước lân cận là Lào và Cao Miên. Hệ thống giáo dục này có ba bậc: tiểu học, trung học, và đại học. Chương trình học là chương trình của Pháp, với một chút sửa đổi nhỏ áp dụng cho các cơ sở giáo dục bản xứ, dùng tiếng Pháp làm ngôn ngữ chính, tiếng Việt chỉ là ngôn ngữ phụ.

Tại Miền Bắc, nổi tiếng trong thời Pháp thuộc là trường Bưởi một cái tên mà học sinh thời đó hay dùng để tránh gọi cái tên do người Pháp đặt ra từ năm 1908: Collège du Protectorat (Trường Thành chung Bảo hộ). Năm 1931, trường được nâng cấp thành một Lycée (tương đương trường cấp III hiện nay): Lycée du Protectorat (Trường Trung học Bảo hộ). Trường được xây dựng trên đất làng Thụy Khuê ở vùng Kẻ Bưởi, ven hồ Tây, nên người dân vẫn gọi là trường Bưởi.

Bắc Kỳ khi đó chỉ có trường Bưởi là trường dành cho học sinh người Việt, mỗi năm chỉ có 120 chỗ cho học sinh mới khiến ngôi trường này đã trở thành cái nôi của lớp trí thức Bắc Hà. Ngoài ra, Hà Nội còn có Lycée Albert Sarraut chỉ dành cho học sinh người Pháp, họ lấy rất ít học sinh Việt.

Sau khi Nhật đảo chính Pháp, Giáo sư Hoàng Xuân Hãn [2], Bộ Trưởng Giáo dục-Mỹ thuật trong nội các Trần Trọng Kim đã ký nghị định xóa bỏ tên Collège du Protectorat, thay bằng tên mới là Quốc lập Trung học hiệu Chu văn An (Trường Trung học Chu Văn An) và cử giáo sư Nguyễn Gia Tường làm Hiệu trưởng. Ông là Hiệu trưởng người Việt đầu tiên của Trường Bưởi.

Cùng với việc đổi tên trường, ông Hoàng Xuân Hãn còn quy định việc học và thi Tú Tài bằng tiếng Việt, dùng tiếng Việt trong trường học khi “Đế quốc Việt Nam” của chính phủ Trần Trọng Kim tuyên bố độc lập vào ngày 17/4/1945. Chương trình giáo dục của Việt Nam, còn gọi là chương trình Hoàng Xuân Hãn, được đem ra áp dụng tại Trung kỳ và Bắc kỳ. 


Trường Bưởi (Trường Bảo hộ – Lycée du Protectorat) 

Riêng ở miền Nam, vì có sự trở lại của người Pháp nên chương trình giáo dục Pháp vẫn còn tiếp tục cho đến giữa thập niên 1950. Collège Chasseloup-Laubat (tên của Bộ trưởng Pháp quốc Hải ngoại, còn gọi là Bộ thuộc địa) là trường trung học đầu tiên ở Sài Gòn. Trường được thành lập từ năm 1874, dạy học sinh từ tiểu học đến hết trung học theo chương trình Pháp. 

Trường được chia thành 2 khu vực: Khu dành riêng cho học trò người Pháp (Quartier Européen) và Khu bản xứ (Quartier Indigène). Ðến năm 1958, trường đổi tên là Lycée Jean-Jacques Rousseau, tên một nhà trí thức Pháp trong phong trào "Ánh Sáng" thế kỷ 18. Sau năm 1975, trường lại được đổi tên thành Trường Phổ thông Trung học Lê Quý Đôn.


Collège Chasseloup-Laubat 

Nhớ lại thời điêu linh sau khi đi học tập cải tạo về, tôi có một thời gian bươn chải đủ nghề từ “lao động phổ thông” chuyên ngồi đập gạch, lên đến chân bán hàng cho bà chị họ tại Chợ Lớn Mới rồi đi bỏ mối lò dầu hôi đúng vào thời kỳ “Đổi Mới”.

Cũng may, chính quyền mới “cho phép” một số cựu giảng viên trường Sinh ngữ Quân đội được dạy Anh văn qua hình thức “cộng tác” với Trung tâm Nghiên cứu & Dịch thuật. Trung tâm này mở nhiều lớp đêm tại các trường lớn trong thành phố, trong đó có trường Lê Quý Đôn mà tiền thân là Collège Chasseloup-Laubat.

Phải nói đây là ngôi trường khang trang nhất Sài Gòn với những gốc cây cổ thụ có hàng trăm năm tuổi, có mái ngói rêu phong, có tường sơn màu vàng với kiến trúc hoàn toàn theo phong cách Pháp.

Giờ nghỉ giải lao tôi lại có dịp ghé “giang sơn” của ca sĩ Duy Trác và vợ đứng… bán nước. Tôi không uống nước nhưng dành 10 phút giải lao quý giá đó để cùng Duy Trác nhắc lại những giai đoạn thấm thía của thời điêu linh.

Cũng may nhờ chỗ quen biết qua tình “đồng nghiệp”, dù chỉ dạy lớp đêm, tôi còn xin cho hai đứa con gái được vào học Lê Quý Đôn. Đây là một ngôi trường hầu như chỉ dành riêng cho con em của những người có chức, có quyền…


Trường Lê Quý Đôn ngày nay 

Kể từ năm 1954, hoàn cảnh lịch sử và chiến tranh đã chia nền giáo dục Việt Nam thành hai hệ thống trái ngược nhau qua việc hình thành hai thể chế: Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (VNDCCH) tại Miền Bắc và Việt Nam Cộng hòa (VNCH) tại Miền Nam. Hai nền giáo dục này trong suốt 20 năm đã đào tạo ra những tầng lớp thanh niên theo đúng hướng mà các chính phủ đã đề ra. 

Điều rõ nét nhất là nền giáo dục VNDCCH tại Miền Bắc có định hướng chính trị và giáo dục được xem là một thành phần phục vụ quan điểm của nhà nước. Trong khi đó, tại Miền Nam, giáo dục được xây dựng trên ba nguyên tắc: nhân bản, dân tộc và khai phóng theo tinh thần của Đại hội Giáo dục Quốc gia (lần I) tại Sài Gòn vào năm 1958.

Tại Miền Bắc, trong những thập niên 1940 và 1950 là phải xóa nạn mù chữ với sự đóng góp của Nha Bình dân Học vụ. Về hình thức, hệ thống giáo dục của Trung Quốc và Liên Xô được dùng làm mẫu với sự giúp đỡ của các cố vấn Liên Xô.

Từ năm 1950, hai bậc tiểu học và trung học được quy định lại với tổng cộng có 9 lớp: tiểu học (cấp I), 4 năm; trung học cơ sở (cấp II), 3 năm và trung học phổ thông (cấp III), 2 năm. Tuy nhiên, đến năm 1956, chính quyền lại ra nghị quyết cải tổ giáo dục phổ thông, đổi lại thành 10 năm: cấp I, 4 năm; cấp II và cấp III, mỗi cấp có 3 năm.

Năm 1956, VNDCCH tổ chức lại cấp đại học và lập ra năm trường đại học gồm Bách khoa, Nông lâm, Sư phạm, Y dược và Tổng hợp. Cũng kể từ đó giáo trình đại học bỏ mô hình của Pháp và theo chương trình học của Liên Xô, chú tâm đến mặt thực dụng.

Hệ thống giáo dục đại học bị phân tán đơn lẻ khiến Bộ Giáo dục không giữ vai trò quản lý mà chỉ là cơ quan liên lạc giữa các trường sở. Bậc đại học trong thời gian hơn 20 năm không cấp bằng tiến sĩ nào nên sinh viên cần đào tạo kiến thức cao hơn sẽ phải đi du học ở Liên Xô và Đông Âu.

Cũng vì quan niệm giáo dục phải phục vụ mục tiêu chính trị nên bất kể học ở chuyên ngành nào, sinh viên đại học đều phải học triết học Mác-Lê và lý thuyết đấu tranh giai cấp. Sinh viên khi tốt nghiệp không trình luận án mà chỉ thi hai phần: Chuyên môn và Chính trị.

Bắt đầu từ niên học 1959-1960, các đối tượng được xét tuyển vào đại học được xếp thành ba nhóm với những điều kiện căn cứ trên giai cấp và lý lịch:

(1) Thành phần cán bộ kháng chiến, thanh niên giai cấp công nông, cán bộ dân tộc thiểu số có lý lịch sạch, tư tưởng chính trị vững chắc, học xong lớp 10 sẽ được ưu tiên nhập học; (2) Thành phần cán bộ, đảng viên, con em bần nông, cố nông, hoặc trung nông, con em liệt sĩ và (3) Thành phần khác được chọn theo điểm nhưng thành phần "giai cấp bóc lột" không được quá 3%.

Chỉ 6 ngày sau khi sự kiện 30/4/1975, Arthur W. Galston, Giáo sư Đại học Yale đến Miền Bắc, khi đó vẫn thuộc thể chế VNDCCH. Bài viết của Galston trên tạp chí Science (số ra ngày 29/8/1975) tiết lộ một trong những chủ đề khiến các nhà lãnh đạo Miền Bắc bận tâm vào lúc đó là vấn đề thống nhất với Miền Nam: “Việc thống nhất trong lĩnh vực khoa học và giáo dục có lẽ sẽ có nhiều khó khăn vì hai miền đã phát triển theo hai chiều hướng khác nhau trong nhiều thập niên”.

Nhưng dù cho có nhiều khó khăn, Galston vẫn nhận thấy “các nhà lãnh đạo miền Bắc công khai bày tỏ sự ngưỡng mộ đối với nhiều đặc điểm của nền khoa học và giáo dục ở Miền Nam; họ dự định kết hợp những đặc điểm này vào Miền Bắc khi quá trình thống nhất đang được thảo luận sôi nổi…”


Lễ khai giảng trường Đại học Quốc gia Việt Nam, 
cơ sở giáo dục đại học đầu tiên của VNDCCH năm 1945 

Tại Miền Nam, ngay từ những ngày đầu hình thành nền Đệ nhất Cộng hòa, những người làm công tác giáo dục đã xây dựng được nền móng quan trọng cho quốc gia, tìm ra câu trả lời cho những vấn đề giáo dục cốt yếu và những gì thuộc phạm vi chính trị nhất thời đều ngưng lại trước ngưỡng cửa học đường.

Ông Mai Thái Lĩnh, cựu sinh viên Viện Đại học Đà Lạt, nguyên Phó Chủ tịch Hội đồng Nhân dân Thành phố Đà Lạt sau năm 1975 kể lại:

“Tôi là con của một cán bộ Việt Minh – tham gia Cách mạng tháng Tám tại Lâm Đồng sau đó tập kết ra miền Bắc [...] Chế độ Việt Nam Cộng hòa lúc đó biết lý lịch của tôi, nhưng vẫn không phân biệt đối xử, cho nên tôi vẫn có thể học hành đến nơi đến chốn. Tính chất tốt đẹp của nền giáo dục cũ của Miền Nam là điều tôi công khai thừa nhận, vì vậy suốt 14 năm phục vụ trong ngành giáo dục "xã hội chủ nghĩa" (1975-1989), tôi bị người ta gán cho đủ thứ nhãn hiệu, chụp cho nhiều thứ mũ chỉ vì tôi nêu rõ những ưu điểm của nền giáo dục cũ cần phải học hỏi. Chính là do thừa hưởng nền giáo dục đó của miền Nam mà tôi có được tính độc lập trong tư duy, không bao giờ chịu nô lệ về tư tưởng...”


Nữ sinh Miền Nam 


Về tổng quan, người ta thấy mô hình giáo dục ở Miền Nam có khuynh hướng xa dần ảnh hưởng của Pháp vốn chú trọng đào tạo một số ít phần tử ưu tú trong xã hội và có khuynh hướng thiên về lý thuyết. Thay vào đó là việc áp dụng mô hình giáo dục của Hoa Kỳ có tính cách đại chúng và thực tiễn.

Dĩ nhiên có những điều khen-chê về mô hình này, có ý kiến cho rằng: “Sau khi Hiệp định Giơ-ne-vơ được ký kết, đế quốc Mỹ đã thay chân Pháp, nhảy vào miền Nam Việt Nam. Mỹ-Ngụy đã cố sử dụng giáo dục làm công cụ xâm lược Việt Nam. Chúng đã gieo rắc trong học sinh, sinh viên tư tưởng hoài nghi, mơ hồ, tư tưởng an phận, sợ Mỹ, phục Mỹ. Chúng phát triển trong học sinh, sinh viên lối sống thực dụng, quay lưng với hiện tại, chấp nhận cuộc sống vị kỷ ương hèn... Mặt khác, Mỹ-Ngụy tìm mọi cách tiêu diệt nền giáo dục cách mạng, tìm cách ngăn chặn, loại trừ những mầm mống cách mạng trong nhà trường.”

Hai nền Cộng hòa (đệ nhất và đệ nhị) chỉ tồn tại chỉ trong 20 năm, từ 1955 đến 1975, nhưng phải nhìn nhận hoạt động giáo dục đã phát triển vượt bậc, bất chấp những ảnh hưởng nặng nề của chiến tranh và những bất ổn chính trị thường xảy ra. Thêm vào đó là tình trạng ngân sách eo hẹp do phần lớn ngân sách quốc gia phải dành cho quốc phòng và nội vụ.

Trường Đại học Sư phạm Sài Gòn thuộc Viện Đại học Sài Gòn được thành lập vào năm 1957, là cơ sở sư phạm đầu tiên, bắt đầu khai giảng năm 1958. Sau có thêm các trường Cao đẳng Sư phạm ở Ban Mê Thuột, Huế, Vĩnh Long, Long An, Quy Nhơn, Nha Trang, Mỹ Tho, Cần Thơ, Long Xuyên. Bên cạnh đó còn có Trường Đại học Sư phạm Huế thuộc Viện Đại học Huế và Trường Đại học Sư phạm Đà Lạt thuộc Viện Đại học Đà Lạt.


Một lớp tiểu học ở Miền Nam năm 1961 

Vào thời điểm năm 1974, cả nước có 16 cơ sở đào tạo giáo viên tiểu học với chương trình hai năm còn gọi là chương trình Sư phạm Cấp tốc. Chương trình này nhận những người đã đậu bằng Trung học Đệ nhất cấp, hằng năm đào tạo khoảng 2.000 giáo viên tiểu học.

Giáo sư trung học thì phải theo học chương trình của trường Đại học Sư phạm. Sinh viên các trường sư phạm được cấp học bổng nếu ký hợp đồng 10 năm làm việc cho chính phủ ở các trường công lập sau khi tốt nghiệp.

Chỉ số lương của giáo viên tiểu học mới ra trường là 250, giáo học bổ túc hạng 5 là 320, giáo sư trung học đệ nhất cấp hạng 4 là 400, giáo sư trung học đệ nhị cấp hạng 5 là 430, hạng 4 là 470. Với mức lương căn bản như vậy, cộng thêm phụ cấp sư phạm, nhà giáo ở các thành phố thời Đệ nhất Cộng hòa có cuộc sống khá thoải mái, có thể mướn được người giúp việc trong nhà.

Sang thời Đệ nhị Cộng hòa, đời sống bắt đầu đắt đỏ, vật giá leo thang, nhà giáo cảm thấy chật vật hơn, nhất là ở những thành phố lớn như Sài Gòn và Đà Nẵng. Tuy vậy, lúc nào các nhà giáo cũng giữ vững tinh thần và tư cách của nhà mô phạm từ cách ăn mặc thật đứng đắn đến cách ăn nói, giao tiếp với phụ huynh và học sinh, và với cả giới chức chính quyền địa phương.

Việc thi cử cũng có nhiều cải tiến. Đề thi trắc nghiệm đã được sử dụng cho môn Công dân, Sử, Địa trong các kỳ thi Tú tài I và Tú tài II từ niên khóa 1965-1966. Ngay từ đầu những năm 1970, Nha Khảo thí của Bộ Quốc gia Giáo dục đã ký hợp đồng với công ty IBM để “điện toán hóa” toàn bộ hồ sơ thí vụ, từ việc ghi danh, làm phiếu báo danh, chứng chỉ trúng tuyển... đến các con số thống kê cần thiết.

Bảng trả lời cho đề thi trắc nghiệm được đặt từ Hoa Kỳ, và bài làm của thí sinh được chấm bằng máy IBM 1230. Điểm chấm xong từ máy chấm được chuyển sang máy IBM 534 để đục lỗ. Những phiếu đục lỗ này được đưa vào máy IBM 360 để đọc điểm, nhân hệ số, cộng điểm, tính điểm trung bình và tính thứ hạng trúng tuyển. Đến năm 1974, các môn thi trong kỳ thi tú tài gồm toàn những câu hỏi trắc nghiệm. 

Viện Đại học Sài Gòn, cơ sở giáo dục đại học lớn nhất Miền Nam 

Đọc Ngựa Chứng Trên Sân Trường của Duyên Anh [3] người ta thấy rõ bức tranh toàn cảnh của việc Dậy và Học dưới thời VNCH trong thời chiến tranh. Nhân vật chính trong truyện là thầy giáo Trần Minh Định, 24 tuổi, độc thân và thậm chí còn chưa có người yêu.

Định xuất thân từ một đứa trẻ nhà nghèo, đi bán báo từ năm học Đệ Thất để có tiền ăn học và vì yêu nghề dạy học nên anh thi vào Đại học Sư phạm. Khi ra trường, anh được bổ nhiệm về dạy tại một tỉnh miền Đông, “thành tích” đầu tiên của anh là “chống gian lận thi cử” nên bị trả về Bộ. Cuối cùng anh chọn một trường trên cao nguyên và đối đầu với vài “con ngựa chứng” lớp Đệ Nhị B2.

Một trong những “con ngựa” chứng đã nói thẳng vào mặt thầy Định: “Ông mới về đây biết con mẹ gì. Lớp này trước hơn sáu chục mạng. Mỗi ngày một vơi đi, giờ chỉ còn ba chục. Bạn bè tôi lần lượt đi lính. Nhiều đứa đã chết. Tôi cóc muốn học. Tôi khoái nổi loạn, chờ ngày đăng lính. Ông cứ việc đuổi tôi. Tôi tởm những thằng giáo sư trẻ. Chúng nó vô tư cách”.

Giáo sư Định suy nghĩ: “Ở trường sư phạm, người ta không dạy tôi cách đối phó với những đứa học trò ngang tàng. Người ta chỉ truyền cho tôi những kinh nghiệm sư phạm và khả năng chuyên môn. Tôi đã thực tập tại nhiều trường. Những lớp tôi tới thực tập toàn là lớp kiểu mẫu. Tôi cũng đã đọc thêm nhiều sách viết về tâm lý giáo dục. Tuyệt nhiên, tôi chưa được học, được đọc cách giáo huấn phủ đầu những học trò như những thằng đang khiêu khích tôi. Tôi hơi bối rối (…) Vì tôi không thể tưởng tượng “Bầy Thú Trước Bảng Đen” [4] lại có thật trước bảng đen trong lớp học của tôi. Tôi là đứa trẻ nghèo khổ đã chinh phục mọi nỗi gian nan để vươn lên. Tôi kiêu hãnh điều đó. Tôi đã chiến thắng cuộc đời thì không thể thua một vài con ngựa chứng”.


"Ngựa Chứng Trrong Sân Trường" của Duyên Anh 

Sang đến thời kỳ “hậu-1975” có nhiều điều đáng nói về giáo dục. Trong niên học 1975-1976, niên học đầu tiên của hai miền Nam-Bắc, lối học tập chính trị được đem áp dụng triệt để ở Miền Nam và cả năm học đó được dành cho "công tác chính trị tư tưởng" cho các học sinh, sinh viên cũng như giáo viên, giảng viên.

Đặc biệt, giáo viên môn Văn và Sử phải là người từ Miền Bắc “tăng cường” vào Nam vì họ là những người có đủ trình độ chính trị để giảng dạy. Chính một cán bộ văn hóa đã tuyên bố một câu hết sức thẳng thừng khi trả lời nhà văn Nguyễn Thị Hoàng: “Miền Nam của các anh chị làm gì có văn hóa!”

Học sinh có một số là con em cán bộ từ Miền Bắc vào và được xếp lớp theo tiêu chuẩn lớp 7 ngoài Bắc thì vào ngồi lớp 9 và lớp 8 leo lên lớp 10 trong Nam. Lý do là bậc trung học của miền Bắc chỉ có 10 năm, còn trong Nam, học trò phải trải qua tới 12 năm.

Về phần giáo viên thuộc chế độ cũ, họ phải làm quen với một số từ ngữ lạ tai như “đứng lớp”, “tiết học”, “giáo trình”, “giáo án”, “phụ đạo”, “ngoại khóa”… rồi cả những cụm từ ngữ như “giáo viên chủ nhiệm”, “học sinh cá biệt”, “lao động xã hội chủ nghĩa”, “dũng sĩ kế hoạch nhỏ”…

Nhà văn Nhật Tiến [5], với gần 4 năm giảng dạy “dưới mái trường xã hội chủ nghĩa”, đã có nhiều ghi chép khá thú vị về giai đoạn này qua loạt bài “Nhà giáo – một thời nhếch nhác” viết năm 2012 tại California.

Trước khi được gọi là nhà văn, Nhật Tiến đã là một nhà giáo với hơn 15 năm cầm phấn giảng dạy môn Lý-Hóa. Tuy nhiên, sau khi Sài Gòn đổi chủ, ông cảm thấy “mình phải kiêm nhiệm cùng một lúc cả hai vai trò: vừa là thầy giảng dạy, vừa là tên học trò cứ bị nhà trường uốn nắn thường xuyên từ tác phong, cử chỉ cho đến lời ăn tiếng nói”
… 

“Tôi sẽ không oán thán gì về cái sự đã làm thầy giáo rồi mà vẫn cứ bị đè cổ ra để bắt học tiếp. Miễn là việc học ấy không bắt tôi phải chối bỏ chính mình, và nó thực sự đem lại cho tôi những kiến thức tốt đẹp để tôi có thể truyền đạt lại cho học sinh trong vai trò của một nhà giáo”.

Và đây là tâm sự thầm kín của Nhật Tiến, một giáo viên được “lưu dung” dưới “mái trường xã hội chủ nghĩa”:

“Trong mấy tuần lễ đầu, lớp học của tôi chỉ lác đác có vài đứa học trò vốn là con em cán bộ từ xa tới, còn hầu hết đều là những học sinh miền Nam cũ. Đứng trên bục giảng, nếu mắt không chạm phải tấm biểu ngữ nền đỏ chữ vàng treo ở bức tường phía cuối lớp thì tôi vẫn tưởng như mình đang giảng dạy trong một lớp học của hai năm trước đó. Nhưng cái cảm giác này bị tan biến đi ngay vì tôi biết rất rõ biểu ngữ này trên có chữ “Không có gì quý hơn độc lập tự do” đã nghiễm nhiên thay thế cho hàng chữ “Tiên học Lễ, hậu học Văn” vốn ngự trị ở đó từ hàng chục năm qua. Hồi đầu hè, đã có lần tôi hỏi một thầy trong Hội Nhà Giáo Yêu Nước là tại sao lại xóa bỏ câu “Tiên học Lễ, hậu học Văn” thì thầy nhún vai trả lời “tàn dư lạc hậu, hay ho gì cái thứ lễ nghĩa đó”.
…

“Đám giáo viên thuộc chế độ cũ chúng tôi, bất kể thâm niên hay cấp lớp giảng dạy, trong niên học đầu tiên mọi người đều được lãnh đồng đều mỗi tháng 30 đồng, và chỉ thay đổi bậc lương khi mỗi người được chính thức vào “biên chế”. Lương 30 đồng mà thời giá khi đó là 10 đồng 1 kí gạo, 1 đồng 1 lon ngô đong vừa đầy một ống lon đựng sữa bò, thì tất nhiên là phải có thêm nhu yếu phẩm cấp phát đi kèm.

Hầu như mỗi tháng 2 kỳ, mỗi giáo viên được lãnh 1 hộp sữa bò, một túi đường trắng có khi là đường bổi, đường miếng (tôi chưa bao giờ cân xem nó nặng bao nhiêu gam), một túi nhỏ đậu xanh hay đậu đen, 1 thếp giấy viết khổ đôi, 2 cuộn giấy đi cầu (loại giấy đã tái chế biến, dầy xộp, có mầu đỏ hồng chứ không phải mầu trắng).

Lâu lâu thì có thêm 1 chai bia hay một gói thuốc lá. Nhưng mấy thứ này thì phải chia nhau. Bia thì cứ hai người một chai, thuốc lá hai người một gói. Ai không uống bia, hút thuốc thì đối lấy đường, lấy đậu xanh, hay ngay cả cuộn giấy đi cầu. Nếu cả hai cùng muốn uống bia thì rút thăm, hoặc mở tại chỗ uống chung, thay phiên nhau môi người một ngụm!”


Nhà văn & Nhà giáo Nhật Tiến 
Chú thích:

[1] Thanh Tịnh (1911-1988), tên thật là Trần Văn Ninh (6 tuổi được đổi là Trần Thanh Tịnh), các bút danh khác của ông: Thinh Không, Pathé (trước 1945), Thanh Thanh, Trinh Thuần (sau 1945).

Ông sinh ngày 12/12/1911 tại xóm Gia Lạc, ven sông Hương, ngoại ô Huế. Thuở nhỏ, ông theo học chữ Hán đến năm 11 tuổi, thì theo học chữ Quốc ngữ tại trường tiểu học (trường Đông Ba) và trung học (trường Pellerin của giáo hội Thiên Chúa giáo) ở Huế.

Đỗ bằng Thành chung năm 1933, ông đi làm ở các sở tư rồi sau đó làm nghề dạy học. Thời gian này, ông bắt đầu viết văn, làm thơ và cộng tác với các báo Phong hóa, Ngày nay, Hà Nội báo, Tiểu thuyết thứ Năm, Thanh Nghị, Tinh Hoa... Sáng tác đầu tay của ông là truyện "Cha làm trâu, con làm ngựa" đăng trên Thần Kinh tạp chí (1934).

Tác phẩm đã xuất bản:

· Hận chiến trường (thơ, 1937)
· Quê mẹ (tập truyện ngắn, 1941)
· Chị và em (truyện ngắn, 1942)
· Ngậm ngải tìm trầm (truyện ngắn, 1943)
· Sức mồ hôi (thơ và ca dao, 1954)
· Những giọt nước biển (tập truyện ngắn, 1956)
· Đi từ giữa mùa sen (truyện thơ, 1973)
· Thơ ca (thơ, 1980)
· Thanh Tịnh đời và văn (1996).

[2] Đọc thêm về Giáo sư Hoàng Xuân Hãn:
Hành trình ngôn ngữ Xưa & Nay: A Bê Xê hay A Bờ Cờ?http://chinhhoiuc.blogspot.com/2012/...be-xe-hay.html

[3] Đọc thêm về nhà văn Duyên Anh:
Góp nhặt buồn vui thời điêu linh: Đốt sách

[4] “Bầy Thú Trước Bảng Đen” là tựa tiếng Việt theo phim “Blackboard Jungle”, của hãng MGM’s, một phim về học đường do tài tử Glenn Ford đóng vai thầy giáo Richard Dadier. Giáo sư Dadier phải đối đầu với đám học sinh “mất dậy” tại Trường trung học North Manual được cầm đầu bởi Gregory Miller do tài tử người da mầu Sidney Poitier đóng. 

[5] Nhật Tiến, sinh năm 1936 tại Hà Nội trong một gia đình trung lưu, có 7 người con (sau có hai người theo nghiệp văn là Nhật Tiến và Nhật Tuấn (http://nhattuan2011.blogspot.com/). Thuở nhỏ, ông học trường Hàng Vôi, rồi học trung học tại trường Chu Văn An (Hà Nội).

Năm 1951, truyện ngắn "Chiếc nhẫn mặt ngọc" của Nhật Tiến được đăng trên tờ Giang Sơn, đây là tác phẩm đầu tiên của ông được đăng trên báo. Khi nhà văn Nhất Linh ra tạp chí Văn hóa Ngày nay, ông được mời cộng tác ngay từ số đầu.

Năm 1954, ông di cư vào Nam, đầu tiên sống tại Đà Lạt, chuyên viết kịch cho Đài phát thanh Ngự lâm quân, rồi về Sài Gòn dạy lý hóa cho các trường tư. Năm 1959 - 1975, ông làm Chủ biên nhà xuất bản Huyền Trân, và làm Chủ bút tuần báo Thiếu Nhi (1971-1975) do nhà sách Khai Trí xuất bản. Ngoài ra, ông còn từng là cây viết đều đặn cho các báo Tân phong, Văn, Bách khoa, Văn học, Đông phương,...

Năm 1975, ông tiếp tục dạy lý hóa ở trường Hưng Đạo cho tới năm 1979, thì vượt biển qua Thái Lan tỵ nạn rồi định cư tại Santa Ana, California từ năm 1980. Một số tác phẩm tiêu biểu của Nhật Tiến:

· Những người áo trắng (Huyền Trân, 1959)
· Những vì sao lạc (Phượng Giang, 1960)
· Thềm hoang (Đời Nay, 1961 - Giải thưởng Văn chương Toàn quốc 1962)
· Mây hoàng hôn (Phượng Giang, 1962)
· Người kéo màn (tiểu thuyết kịch, Huyền Trân, 1962)
· Chuyện Bé Phượng (Đông Phương, 1964)
· Giấc ngủ chập chờn (Đông Phương, 1967)
· Vách đá cheo leo (Đông Phương, 1965)
· Quê nhà Quê người (viết chung với Nhật Tuấn, Nhà xuất bản Văn học, Hà Nội, 1994)