August 24, 2013

Top 4 nghề nghiệp tại gia trong ngành tài chính


Đối với nhiều người, việc lựa chọn một công việc có thể làm tại nhà mang đến cho họ rất nhiều lợi thế. Họ có thể có được sự đảm bảo về nghề nghiệp với mức lương như một công việc toàn thời gian mà không cần phải tốn thời gian, chi phí di chuyển đến công sở. Ngành công nghiệp tài chính đã và đang chứng kiến rất nhiều việc làm theo hình thức như vậy, mang lại nhiều cơ hội hơn cho những người làm việc tại gia. Những việc làm này rất đa dạng, từ những vị trí toàn thời gian cho công ty, đến những cơ hội cho các doanh nghiệp và các nhà thầu độc lập. Trong phạm vi bài viết này, tác giả sẽ đề cập đến bốn vị trí được trả lương cao nhất trong ngành tài chính theo hình thức làm việc này
Nhà đầu tư hằng ngày
Một nhà đầu tư hằng ngày có thể nắm giữ nhiều vị thế trên thị trường trong một khoảng thời gian ngắn, thường là từ vài phút đến vài giờ đồng hồ, và có thể có rất nhiều giao dịch trong ngày. Trong hầu hết các trường hợp, các hoạt động mua bán mở sẽ được kết thúc vào lúc cuối ngày.
Trong khi công việc này đảm bảo cho bạn một mức lương cứng hay những lợi ích khác, nó lại mang lại cho những người mà đã rất thành công với hình thức này những khoản lợi nhuận trên vốn khổng lồ. Một vài nhà đầu tư có thể đạt được mức lợi nhuận 300% hoặc hơn thế trong một năm, trong khi với những hình thức làm việc khác, lợi nhuận thì thấp hơn rất nhiều. Trở thành một nhà đầu tư hằng ngày thành công đòi hỏi rất nhiều kỹ năng, công cụ, vốn nhàn rỗi và khả năng chịu đựng về mặt cảm xúc tốt, hơn là dựa vào những suy đoán may rủi.
  • Một kế hoạch trading dài hạn và khả năng tiếp cận thông tin thị trường theo từng phút, kể cả những báo giá theo thời điểm thực tế.
  • Khả năng dự đoán xu hướng ngắn hạn của thị trường
  • Cập nhật, tiếp cận liên tục các nguồn tin trực tiếp, như CNBC
  • Một phần mềm phân tích sẽ giúp cho các nhà đầu tư hằng ngày nhìn ra những hình mẫu nhanh hơn và giảm thiểu thời gian thực hiện giao dịch.
Công việc này không phải là phù hợp với tất cả mọi người. Những nhà đầu tư phải luôn giữ cho tinh thần ổn định, bảo quản tốt đồng vốn của mình, chịu được những khoản lỗ ngắn hạn và tinh thần lạc quan tiến lên phía trước. Một số nhà đầu tư chú trọng đến cổ phiếu thường, trong khi những nhà đầu tư khác lại đầu cơ trên thị trường phái sinh hay thị trường ngoại hối. Đối với một vài nhà đầu tư đã rất thành công và trở nên giàu có, họ cũng không thể xác định chính xác những khoản đền bù trung bình với họ, bởi vì ngay cả những nhà đầu tư giỏi nhất sẽ thấy được những khoản thiếu hụt thất thường mà họ có thể chấp nhận được trong khoản lợi nhuận của họ, trong vòng một đến hai năm. Nếu bạn muốn có một khoản thu nhập cố định thì ngành nghề này không phải là nghề dành cho bạn.
Viết sách, tin bài về tài chính
Dù rằng đây là một công việc rất hiếm khi được công bố rộng rãi trong phạm vi ngành, nhưng những nhà văn giỏi và có nhiều kinh nghiệm vẫn luôn được săn đón. Ngày nay, tin tức tài chính, văn học và các trang web tin tức tràn ngập khắp mọi nơi. Bên cạnh đó cũng có rất nhiều nhu cầu dành cho lĩnh vực giáo dục và đào tạo chuyên môn về tài chính.
Công việc này có thể xem là công việc dễ dàng nhất để thực hiện tại nhà, vì hầu hết các tác phẩm đều được gửi đi qua email hoặc các trang web. Những cây bút giàu tài năng và kinh nghiệm thực sự không cần phải bận tâm đến việc thiếu công việc để làm, nhất là những cây bút có thể viết được những bản thảo tốt cho một chủ đề khó. Những nhà văn và nhà biên tập tài chính có thể kiếm được vài trăm đô-la cho một bài viết, và cũng có một vài vị trí được trả từ 70,000 đến 90,000 đô-la một năm.

Nhà lập kế hoạch tài chính tự do
Mặc dù không phải lúc nào cũng như vậy, nhưng những nhà lập kế hoạch tài chính tự do hoặc những tư vấn viên tài chính có thể đặt một văn phòng ngay tại nhà ở của mình, miễn là họ có đầy đủ những trang thiết bị chuyên nghiệp để làm việc. Rõ ràng rằng, một khách hàng sẽ cảm thấy thích thú hơn khi được ghé đến phòng làm việc của một nhà lập kế hoạch tài chính trong một căn nhà rộng rãi, khang trang, được trang bị đầy đủ để làm việc, hơn là một căn hộ cấp 3 tồi tàn ở một khu vực hẻo lánh trong thành phố.  Hơn thế nữa, một vài loại giấy phép kinh doanh chỉ cho phép bạn tiếp một khách hàng tại nhà vào một thời điểm, thế nên nếu bạn cảm thấy điều này khá nhạy cảm, tiếp khách tại nhà riêng có lẽ không phải là sự lựa chọn hợp lý nhất.
Và cũng có một vài vấn đề về vị trí, nơi chốn cần được quan tâm, ví dụ như nơi đậu xe, lối đi riêng dành cho người khuyết tật, nhà vệ sinh… Hơn thế nữa, một vấn đề trọng yếu khi thực hiện cách làm việc này, đó là liệu rằng, những thành viên trong gia đình của bạn có đồng ý chia sẻ ngôi nhà để ở thành một văn phòng, một công ty hay không.
Cùng lúc đó, những nhà tư vấn mà có thể thu xếp hợp lý cho cả bản thân và khách hàng, có thể giảm thiểu tối đa những gánh nặng chi phí cũng như phí tổn cho việc đi lại, di chuyển. Khoản bù đắp cho những nhà tư vấn tại gia thành công sẽ giống như khoản bù đắp của những nhà tư vấn làm việc tại nơi khác nhưng chưa kể đến các chi phí mà họ phải chịu.

Các nghề liên quan đến tài chính doanh nghiệp
Nhóm công việc tại gia cuối cùng này bao gồm nhiều lĩnh vực, kể cả phân tích tài chính, kế toán công lành nghề, điều tra viên về thuế, lập trình viên máy tính, v.v. Một số lượng lớn những công việc như vậy đang được thực hiện bởi những nhân viên tự do. Rất nhiều công việc liên quan đến máy vi tính cũng đang được thực hiện ở khắp mọi nơi. Vì thế, các chủ doanh nghiệp có thể sẽ miễn cưỡng khi lựa chọn nhân viên làm việc tại văn phòng hay nhân viên làm việc tại nhà. Trong thực tế, rất nhiều những nhân viên ngày nay đều được cho phép làm việc tại gia, ít nhất là bán thời gian. Và cũng có rất nhiều công việc liên quan đến doanh nghiệp nhưng chỉ yêu cầu nhân viên có mặt tại văn phòng một hoặc hai lần mỗi tuần, để tham dự các buổi họp hoặc hội thảo, và điều này cũng nhằm mục đích tạo điều kiện hơn cho họ trong việc duy trì công việc tại nhà.

Điều mấu chốt, cốt yếu…
Cũng giống như những ngành khác trong nền kinh tế, laptop, máy vi tính, điện thoại đều được các nhân viên sử dụng rộng rãi nhằm tăng hiệu quả làm việc. Càng ngày càng có nhiều công việc được thực hiện tại nhà hoặc những nơi khác, bên ngoài văn phòng, và xu hướng này có vẻ sẽ tiếp tục chiếm lĩnh trong tương lai. Những nhân sự trong ngành tài chính hiện nay sẽ có rất nhiều lựa chọn khác để có thể làm việc tại nhà, tránh xa sự nhàm chán với thủ tục văn phòng ngày qua ngày.

Khánh Minh
Phochungkhoan

Những thiên tài toán học đang điều khiển Wall Street

Vào lúc 1 giờ 5 phút thứ 3, ngày 23 tháng 4 năm 2013, hãng tin tức AP từ Washington tung lên Twitter tin giật gân “2 vụ nổ lớn ở nhà Trắng và Tổng thống Barack Obama đã bị thương”. Nhưng nó không có thật – tài khoản của AP đã bị xâm nhập bởi một nhóm tin tặc tình nghi tự xưng là "Đội quân điện tử Syrian" – nhưng chỉ trong vài mili giây, tin này đã thu hút được sự chú ý của các hệ thống giao dịch bằng máy tính ở Wall Street.
 
 
 
Hãy quên Gordon Gekko. Những nhà đầu tư theo trường phái cũ dường như đang bị thay thế bởi những chuyên gia toán học- những người đang sử dụng siêu máy tính để đánh bại thị trường. Vậy tài chính định lượng tốt hay xấu?
 
Vào lúc 1 giờ 5 phút thứ 3, ngày 23 tháng 4 năm 2013, hãng tin tức AP từ Washington tung lên Twitter tin giật gân “2 vụ nổ lớn ở nhà Trắng và Tổng thống Barack Obama đã bị thương”. Nhưng nó không có thật – tài khoản của AP đã bị xâm nhập bởi một nhóm tin tặc tình nghi tự xưng là "Đội quân điện tử Syrian" – nhưng chỉ trong vài mili giây, tin này đã thu hút được sự chú ý của các hệ thống giao dịch bằng máy tính ở Wall Street.
 
Được lập trình để quét duyệt các từ hay các cụm từ trên trên mạng có thể ảnh hưởng đến thị trường chứng khoán, những cổ máy không suy nghĩ lập tức bắt được tin đó với các từ khóa “Obama”,”vụ nổ”,”nhà trắng” và thực hiện khối lượng giao dịch lớn. Chỉ trong vòng vài giây, chỉ số Dow Jones hạ 140 điểm và hơn 200 tỷ đô la Mỹ đã bị bay sạch.
 
Vài phút sau đó, các báo cáo đã chỉ ra đó là giả tạo và thị trường nhanh chóng trở lại mức điểm như trước khi có tin đồn. Nhưng đối với nhiều người, việc một tin tức giả mạo có thể ảnh hưởng to lớn đến thị trường tài chính thật đáng kinh ngạc. Như vậy ai đang điều khiển Wall Street? Con người hay máy tính?
 
Nếu bạn nghĩ là con người, bạn đã lỗi thời rồi. Trong suốt thập kỷ vừa qua, công nghệ đã phát triển trên sàn giao dịch. Kiểu Gordon Gekko ngày xưa với mái tóc chải ngược ra sau đã bị thay thế bởi những siêu máy tính mạnh mẽ đến mức không thể tin được với khả năng phân tích số lượng lớn thông tin và mua bán chỉ trong nháy mắt. Ngày nay, nếu bạn ghé thăm một sàn giao dịch, thay vì đụng phải người đàn ông với cà vạt lỏng lẻo đang la hét trong điện thoại, bạn sẽ nhìn thấy hàng dài những người đang ngồi trước màn hình máy tính, yên lặng ngồi theo dõi các giao dịch thực hiện bởi máy tính.
 
Khoảng 70% những lệnh mua hay bán trên Wall Street giờ bị thay thế bởi phần mềm, và những nhà thiên tài toán học có nhiệm vụ viết chương trình, là những người thông minh nhất trên sàn giao dịch. Đây là kỉ nguyên của thuật toán.
 
Những nhà toán học bắt đầu thâm nhập vào thế giới tài chính vào cuối những thập niên 60. Edward Thorp, một giáo sư toán của trường đại học California, xuất bản cuốn sách vào năm 1967 có tên là “Đánh bại thị trường”, trong đó tác giả trình bày hết sức rõ ràng những cách anh ta kiếm tiền trên thị trường chứng khoán, tất cả dựa vào hệ thống mà anh ta đã nghĩ ra để đánh bại sòng bài. Và hệ thống đó đã thành công và buộc các sòng bài phải thay đổi luật chơi và cuốn sách “Đánh bại thị trường” – sẽ làm một việc là bán tất cả các cổ phiếu và trái phiếu với 1 mức giá và mua chúng lại với giá thấp hơn – (bán khống) minh chứng cho sự sáng tạo. Vào năm 1974, Thorp thành lập qũy đầu tư gọi là Princeton/Newport Partners và tiếp tục càn quét thị trường.
 
 
Edward Thorp, giáo sư toán học, người 'đánh bại thị trường'
 
Tại thời điểm đó, triển vọng nghề nghiệp cho các nhà khoa học giảm xuống đột ngột. Từ năm 1969, chính phủ Mỹ đã cắt giảm các chương trình cho nhà khoa học và chuyển sang cho chiến tranh ở Việt Nam.
 
“Một thế hệ các nhà vật lý đã tốt nghiệp cao học ra đi với tấm bằng Tiến sĩ để tham gia vào thị trường việc làm đầy cạnh tranh”, James Owen Weatheral- tác giả cuốn Vật lý tài chính- giải thích. Họ phải kiếm sống và nhìn thấy cơ hội kiếm tiền ở Wall-street, nên rất nhiều người chuyển sang ngành tài chính.
 
Thời kỳ Liên minh Xô Viết sụp đổ đã tạo ra làn sóng các nhà khoa học Warsaw Pact đổ vào nước Anh. Những nhà khoa học đã mang những phương pháp luận mới dựa vào việc phân tích dữ liệu và tin tưởng rằng, việc sử dụng những máy tính có thể dự đoán được thị trường. Đó là sự bắt đầu của một hướng mới, phân tích định lượng, và nhà định lượng nổi tiếng nhất trong tất cả là những chuyên gia toán là một người với bộ râu thô kệch và không ưa những đôi vớ ngắn, đó là Jim Simons.
 
Với những người biết về vật lý, Simons là một huyền thoại sống. Những mảng kiến thức toán học mà ông tạo ra, có tên là 3-dạng Chern-Simon, một trong những yếu tố quan trọng nhất của lý thuyết chuỗi, được gọi là “lý thuyết của vạn vật”. Với học thuật cao, Simons không thuộc dạng người bị cuốn vào môi trường trần tục của Wall Street. Nhưng trong 1982, ông đã thành lập công ty quản lý quỹ Renaissance Technologies đạt được thành công vượt bậc. Quỹ Medallion của công ty này đã kiếm ra được 2,478.6 phần trăm lợi nhuận trong 10 năm đầu, vượt hơn những quỹ đầu tư khác, kể cả quỹ Quantum của George Soros.
 
 
Jim Simons quản lí quỹ đầu tư định lượng 
 
Với thành công đó, dựa vào độ phức tạp và bảo mật của thuật toán, tiếp tục trong những năm 2000-2009 và trong suốt vòng đời của quỹ đó, lợi nhuận trung bình của quỹ Medallion là 40% trong 1 năm, làm cho Simons trở thành một trong những người giàu nhất thế giới với tài sản ròng lên tới 10 tỷ đô la mỹ.
 
Với 200 nhân sự trong công ty, tập hợp trong tòa nhà như pháo đài trên đảo Long, New York, một phần ba trong số đó là tiến sĩ, nhưng không phải tiến sĩ ngành tài chính mà là tiến sĩ ngành vật lý, toán, thống kê. Công ty quản lí quỹ Renaissance này được gọi là “Viện vật lý và toán tốt nhất thế giới” và theo như lời của Weathrall, “tránh tuyển dụng những người có thiện chí dù chỉ một ít tới Wall Street. Tiến sĩ tài chính không cần ứng tuyển; những nhà giao dịch đã từng làm ở ngân hàng đầu tư hay quỹ đầu tư khác cũng không cần ứng tuyển. Bí quyết để thành công của Simon là tránh những chuyên gia tài chính.”
 
Không có gì là bất ngờ, những nhà giao dịch truyền thống rất ghét nhà định lượng. Họ không chỉ đẩy những nhà giao dịch truyền thống khỏi vị trí hàng đầu trong hệ thống giao dịch, mà còn phá vỡ quan niệm truyền thống xưa. Họ không tỏa sáng được, lúc nào cũng vẫn vậy, như là lúng túng. Người phải làm việc với quỹ đầu tư có chia sẻ trên trang blog của họ: “Khi một trong số họ đón tôi ở lễ tân, tôi nhận ra rằng không nên bắt đầu câu chuyện bằng cách nói về thời tiết như thông thường. Bởi đơn giản, họ sẽ không hiểu. Họ sẽ hiểu bạn đang cố nói về điều gì đó nghiêm trọng về hiện tượng thời tiết. Và tương tự như vậy với những lời bông đùa,..họ thản nhiên không cảm xúc”
 
Vì vậy, chính xác thì tài chính định lượng làm gì ?
 
Patrick Boyle và Jesse McDougall điều hành một quỹ đầu tư mà họ có trụ sở đặt tại một ngôi nhà phố Islington. Văn phòng của họ kế bên quán cà phê văn minh yên tĩnh mà chủ quán dường như khiếp sợ với sự xuất hiện của những nhà tư bản hung hăng bên cạnh nhà mình. Khi tôi gặp họ, họ ngồi trong phòng nhỏ có 3 màn hình máy tính. Họ bắt đầu làm việc từ 7h sáng kết thúc lúc 11 tối. “Chúng tôi có màn hình máy tính trong nhà bếp và trong phòng khách.” Boyle, 37 tuổi, chia sẻ. “Vì vậy chúng tôi có thể theo dõi thị trường trong khi đang ăn tối và có thể điều khiển bằng thiết bị điều khiển từ xa nếu chúng tôi ra ngoài vào buổi tối.” Anh ta cho tôi xem biểu đồ kết quả đầu tư của quỹ đầu tư của anh ta. Đường biểu đồ không hề giảm khi phần còn lại của thị trường giảm và tăng nhanh hơn FTSE.
 
Họ làm điều đó như thế nào?
 
“Chúng tôi có thể làm điều đó bằng toán.”, anh ta chia sẻ. “Chúng tôi mua dữ liệu thị trường chứng khoán và phân tích nó. Điều đó giống như dự báo thời tiết – chúng ta có thể nói rằng 65% xác suất thị trường sẽ tăng giữa giá mở cửa và giá đóng cửa, như vậy chúng tôi có thể thu được nhiều lợi nhuận hơn những dự đoán cho ra 50%. Theo thời gian, nếu bạn dự đoán ngắn hạn tốt bạn có thể làm ra rất nhiều tiền.
 
Ai viết ra chương trình máy tính mà ta đang sử dụng ? “Tôi viết” Boyle trả lời. Bạn viết những thứ đó như thế nào ? “một cách chậm rãi”
 
Việc viết ra một chương trình có thể chậm nhưng tốc độ giao dịch thì cực kì nhanh. Đọc bài báo bên để biết thêm chi tiết Some quants specialise in what is called High Frequency Trading (HFT), bao gồm số lượng giao dịch lớn trong thời gian ngắn. “Trong vài mili giây, giá có thể tăng lên 1 đồng”, McDougall chia sẻ. “Bạn giao dịch  trăm ngàn lần với hàng trăm cổ phiếu và bạn sẽ có tiền”
 
Quỹ phòng ngừa rủi ro của Boyle và McDougall không có giao dịch tần suất cao, vì vậy để tìm hiểu rõ hơn tôi đã gặp Simon Jones, người điều hành công việc định lượng ở một ngân hàng lớn cách đây vài tháng. Anh ta 36 tuổi.
 
“Kể cả đàn ông và phụ nữ làm việc với tôi đều là đỉnh của đỉnh. Họ đến từ nhiều nước khác nhau:  từ Ấn Độ, Nga, Trung Quốc”. Công việc áp lực và cạnh tranh cao. “Ví dụ, tôi để ý thấy rằng, thời điểm Dow tăng điểm thì FTSE cũng tăng điểm.” Jone nói. “Người đầu tiên chú ý đến nó và thực hiện giao dịch, sau đó thu được lợi nhuận, điều đó có nghĩa là họ lấy dữ liệu từ New York đến Luân Đôn và sau đó lấy quyết định của tôi ở bên kia Atlantic và mua FTSE trước người khác.”
 
Trong trò chơi này, tốc độ là quan trọng và nó dẫn đến cuộc chạy đua giữa các công ty. Cuộc đua tàn khốc tới mức các công ty bắt đầu chuyển máy chủ về gần hơn để tăng tốc độ truyển dẫn.
 
Trong năm 2010, một công ty gọi là Spread Networks đặt một dây cáp trực tiếp từ NewYork đến Chicago, băng qua dãy núi Allegheny, để giảm thời gian truyền dẫn giữa các sàn chứng khoán 1/1000 giây.
 
Để có cơ hội để sử dụng thiết bị nhanh tương tự giữa New York và Luân Đôn, ngân hàng Jone phải trả 50 triệu đô. “Điều đó cho chúng tôi nhanh hơn những người khác 6/1000 giây” Jones nói.
 
Sự tập trung vào khoản lợi nhuận rất nhỏ này đang làm tăng độ biến động.. “Warren Buffett sở hữu nhiều cổ phiếu Cocacola và khi cổ phiếu xuống giá ông ấy nói rằng tôi vẫn giữ cổ phiếu vì tôi nghĩ rằng sẽ tăng trở lại”, Jones nói rằng. “Nhưng một người trong HFT nhận định, tất cả những gì ông ta quan tâm là trong mili giây tiếp theo. Và khi có quá nhiều người bắt đầu hoảng sợ về mili giây tiếp theo đó là lúc bạn bị sập đổ”
 
Một ví dụ hoàn hảo về sự sụp đổ này xảy ra vào tháng 5 năm 2010. Ngày hôm số lượng giao dịch rất nhiều làm cho phiên giao dịch trực tuyến của sàn chứng khoán New York tạm thời đóng băng và khoảng từ 2h30 đến 3h, chỉ số Dow Jones mất điểm và sau đó đạt lại gần 1 ngàn tỷ đô. Chi tiết trong bài bài báo In what became known as the “Flash Crash”, shares in the management consultancy firm Accenture plummeted to a fraction above zero. Và cổ phiếu Apple tăng lên 100$
 
“Không ai trong chúng ta biết sẽ làm gì hay chuyện gì sẽ xảy ra tiếp theo” Dave Lauer chia sẻ, một nhà định lượng làm việc trong HFT. “Nó thật là kinh khủng”
 
 Đối với Lauer, vụ sụp đổ Flash Crash là tiếng chuông cảnh tỉnh “Tôi bắt đầu nhận ra cuộc đua trở thành người nhanh nhất đã đưa mọi thứ vào tình trạng dễ vỡ, thiếu chắc chắn” anh ấy nói. Năm tiếp theo, vợ anh ta có thai, điều đó làm anh ta có quyết định lớn “Tôi nhớ lại tôi đã suy nghĩ rằng ‘Làm sao tôi giải thích được cho con cái tương lai của tôi rằng tôi đã làm gì để sống kiếm tiền?” Lauer nghỉ việc và trong năm cuối anh ta nói với ngân hàng Senate rằng hệ thống giao dịch tần suất cao sẽ tạo khủng hoảng thị trường.
 
 
Vụ sụp đổ Flash Crash một phần là do chiến dịch “lừa gạt” của HFT, làm cho những lệnh đặt mua hay bán giả mạo để xoá tan mục đích của đối thủ. Vào ngày đó, 19.4 tỷ cổ phiếu được giao dịch, nhiều hơn tổng số được giao dịch vào những năm 60, nhưng hàng trăm triệu cổ phiếu thì thực sự chưa bán, chúng chỉ đơn thuần được giữ vài mili giây vì những nhà giao dịch thăm dò.
 
Có gì đó sai sót với hệ thống này, cổ máy mà đã mang lại nhiều rủi ro cho lợi nhuận của một vài quỹ đầu tư?. Nó có thể là sự đầu tư về thời gian và kỹ thuật có ý nghĩa? Một thành viên đối tác của Warren Buffett là Charlie Munger, đã mô tả Giao dịch tần suất cao như là “về cơ bản là tội lỗi”. “Tôi nghĩ rằng rất là ngu ngốc khi cho phép hệ thống phát triển mà chỉ có một nửa giao dịch là của một nhóm người ngắn hạn cố gắng lấy thông tin trong 1 phần triệu của nano giây từ người khác,” anh ta phát biểu trong năm nay. “Đó là sự hợp pháp hóa giao dịch trước thông tin.” HFT hoàn toàn không có lợi ích rõ ràng cho mỗi nhà đầu tư – người tiết kiệm trong quỹ lương hưu và chích sách phúc lợi.
 
Chuyên gia định lượng mà tôi đã gặp không tin vào những gì họ làm nhất thiết là nguy hiểm nhưng họ rõ ràng có sự hoài nghi.
 
“Vài người xuất phát từ khoa học thuần túy và sử dụng nền tảng toán học để giải quyết những bài toán và nó cho kết quả tốt” Patrick Boyle nói. “Họ nghĩ họ có thể tìm ta được công thức có thể mô tả chuyển động của thị trường một cách hoàn hảo. Đó là triết lý của nhà triết học – đó là điều hoàn toàn không thể ”
 
Sau 16 năm trong thành phố, Simon Jones giờ đang có kế hoạch đi du lịch. “Một nhà định lượng có thể kiếm tiền hơn 7 con số,” anh ta nói với tôi, “nhưng thỉnh thoảng tôi tự hỏi tôi có góp ích gì cho xã hội không.”
 
Và anh ta đã kết luận thế nào? Anh ta dừng lại. “Tôi đã làm việc với những người đỉnh của đình” anh ta nói. “Ngân hàng của tôi tuyển dụng những kĩ sư ưu tú nhất, những nhà hóa học và nhà khoa học – và chúng tôi làm việc cùng nhau để giàu có hơn. Ngành công nghiệp hoá học, vật lý và y tế đang xấu đi bởi vì những gì chúng tôi làm, tôi nói với bạn rằng: nếu có hệ thống tiền thưởng tương tự như những gì chúng tôi có trong thành phố để chữa ung thư, chúng ta có thể đã tìm ra cách chữa ung thư”
 
Tôi cảm thấy buồn và một chút sợ hãi. Vì vậy, tôi hỏi, tài chính định lượng: tốt hay xấu? Jones nhìn tôi và nói rằng, “Con người chỉ tìm ra cách mới để trở nên tham lam.”
 
 
Nguồn: THE TELEGRAPH / VnQuants
Phochungkhoan,vn

Phân tích cơ bản là gì ? Tìm hiểu về các chỉ số kinh tế


PTCB là một phương pháp tìm hiểu những tác động của thông tin kinh tế toàn cầu và những sự kiện khác lên thị trường tài chính
Các bạn có thể xem:

•    Phân tích cơ bản
PTCB là một phương pháp tìm hiểu những tác động của thông tin kinh tế toàn cầu và những sự kiện khác lên thị trường tài chính. PTCB bao gồm bất kỳ những sự kiện xã hội, thông báo kinh tế, thay đổi chính sách, các thông tin về doanh nghiệp, và có lẽ phần quan trọng nhất của các thông tin cơ bản áp dụng vào thị trường ngoại hối là lãi suất và chính sách về lãi suất của một quốc gia.
(Nguồn Internet)
Ý tưởng đằng sau PTCB là nếu bức tranh kinh tế hiện tại hoặc tương lai của một quốc gia là tốt, thì đồng tiền của họ sẽ tăng giá. Một nền kinh tế mạnh sẽ thu hút đầu tư và doanh nghiệp nước ngoài, và điều này có nghĩa rằng những người nước ngoài phải mua đồng tiền của quốc gia đó để tiến hành đầu tư. Vì thế, nói một cách cơ bản thì nó hoàn toàn phụ thuộc vào cung và cầu; một quốc gia với một nền kinh tế mạnh và phát triển sẽ có nhu cầu lớn hơn về đồng nội tệ, tức là sẽ giảm cung và làm tăng giá trị đồng nội tệ.
Ví dụ, nếu nền kinh tế Úc mạnh lên, thì đồng đôla Úc sẽ tăng giá so với những đồng tiền khác. Một lý do chính khiến đồng tiền của một quốc gia trở nên giá trị hơn khi nền kinh tế của quốc gia đó tăng trưởng là vì nó sẽ tăng lãi suất để quản lý tăng trưởng và lạm phát. Tỉ giá cao hơn sẽ hấp dẫn các nhà đầu tư nước ngoài và kết quả là họ sẽ muốn mua đồng đôla Úc để đầu tư ở Úc, dĩ nhiên điều này sẽ làm tăng cầu và giá của đồng tiền này sẽ tăng và cung sẽ giảm.
•    Những sự kiện kinh tế chính trên thị trường ngoại hối
Hãy cùng tìm hiểu nhanh về những sự kiện kinh tế quan trọng nhất làm biến động đến giá trên thị trường ngoại hối. Điều này chỉ nhằm giúp bạn làm quen với một vài thuật ngữ chuyên môn mà bạn sẽ có thể gặp trên hành trình kinh doanh ngoại hối của mình.
Tổng sản phẩm quốc nội (GDP)
Báo cáo GDP là một trong những chỉ số quan trọng nhất của nền kinh tế. Đây là thước đo lớn nhất về kình hình chung của nền kinh tế. Chỉ số GDP được cung cấp vào 8h30 EST vào ngày cuối cùng của mỗi quý và nó phản ánh hoạt động của quý vừa qua. GDP là giá trị bằng tiền bình quân (toàn bộ) của tất cả hàng hóa dịch vụ được cung cấp bởi toàn bộ nền kinh tế trong suốt quý vừa qua; tuy nhiên nó không bao gồm hoạt động trên trường quốc tế. Tỉ lệ tăng trưởng GDP là một con số đáng để quan tâm.
Cán cân thương mại
Cái cân thương mại là sự đo lường chênh lệch giữa xuất khẩu và nhập khẩu những hàng hóa và dịch vụ hữu hình. Mức độ của cán cân thương mại của một quốc gia và những thay đổi trong xuất khẩu so với nhập khẩu được nhiều người theo dõi và là một chỉ báo quan trọng về sức mạnh của nền kinh tế tổng thể của một quốc gia. Sẽ tốt hơn nếu xuất khẩu nhiều hơn nhập khẩu, vì xuất khẩu sẽ giúp nền kinh tế một quốc gia tăng trưởng và phản ánh sức khỏe của tổng thể lĩnh vực sản xuất của nó.
Chỉ số giá tiêu dùng (CPI)
Bản báo cáo CPI là phương pháp đo lường lạm phát được sử dụng rộng rãi nhất. Bản báo cáo này được cung cấp vào 8h30 EST vào khoảng ngày 15 của mỗi tháng và nó phản ánh CPI của tháng trước. CPI đo lường thay đổi trong chi phí của nhiều mặt hàng và dịch vụ từ tháng này qua tháng khác.
Chi số giá sản xuất (PPI)
Cùng với CPI, chỉ số PPI là một trong hai chỉ số quan trọng nhất để đo lường lạm phát. Bản báo cáo PPI được phát hành vào 8h30 EST trong tuần thứ 2 của mỗi tháng và sẽ phản ánh PPI của tháng trước. Chỉ số PPI đo lường giá hàng hóa bán buôn. Vì thế, để tương phản với CPI, chỉ số PPI đo lường số tiền mà nhà sản xuất nhận được cho hàng hóa của họ trong khi CPI phản ánh chi phí trả bởi khách hàng cho sản phẩm mà họ mua.  
Chỉ số việc làm
(Nguồn Internet)
Chỉ số việc làm quan trọng nhất được thông báo vào ngày thứ sau đầu tiên của mỗi tháng lúc 8h30 EST. Thông báo này bao gồm tỉ lệ thất nghiệp; đó là tỉ lệ phần trăm những người trong lực lượng lao động đang không làm việc, số lượng công việc mới, số giờ trung bình làm việc mỗi tuần, thu nhập theo giờ trung bình. Báo cáo này thường gây ra những biến động lớn trên thị trường. Bạn sẽ thường nghe các nhà đầu tư và nhà phân tích nói về “NFP” nó có nghĩa là Bản báo cáo Việc làm Ngoài Nông Nghiệp, và đây có lẽ là bản báo cáo việc làm có sức mạnh lớn nhất ảnh hưởng đến thị trường.
Đơn đặt hàng lâu dài
Bản báo cáo những đơn hàng lâu dài cho thấy một phép đo bao nhiêu người đang chi tiêu vào việc mua dài hạn, được định nghĩa là các sản phảm được dự kiến sẽ kéo dài hơn ba năm. Báo cáo này được phát hành vào 8h30 EST vào khoảng ngày 26 mỗi tháng và được cho là sẽ cung cấp những cái nhìn sâu sắc vào tương lai của ngành công nghiệp sản xuất.
Chỉ số bán lẻ
Chỉ số bán lẻ đo lường số lượng hàng hóa bán ra trong ngành bán lẻ, từ những chuỗi cung cứng lớn cho đến những cửa hàng nhỏ. Chỉ số bán lẻ được phát hành vào 8h30 EST vào khoảng ngày 12 của tháng; nó phản ánh thông tin của tháng trước. Báo cáo này thường được sửa đổi đáng kể sau khi con số cuối cùng được công bố.
Dữ liệu nhà ở
Dữ liệu nhà ở bao gồm số lượng những ngôi nhà mới mà một quốc gia bắt đầu xây dựng trong tháng đó cũng như số ngôi nhà bán ra trong tháng. Hoạt động xây dựng khu dân cư là nguyên nhân chính của gói kích thích kinh tế của một quốc gia và do đó, nó được theo dõi rộng rãi bởi những người tham gia thị trường. Doanh số bán nhà hiện hữu cũng là một số liệu tốt về sức mạnh nền kinh tế của một quốc gia; doanh số thấp và số lượng những ngôi nhà mới ít thường là dấu hiệu của một nền kinh tế chậm chạp hoặc suy yếu.

Lãi suất
Lãi suất là bánh lái chính của thị trường ngoại hối; tất cả các chỉ tiêu kinh tế được đề cập ở trên được theo dõi chặt chẽ bởi Ủy Ban Thị trường Mở Liên bang để đánh giá sức khỏe tổng thể của nền kinh tế. Fed có thể tùy ý sử dụng các công cụ để hạ, tăng, hay giữ nguyên lãi suất, tùy thuộc vào các bằng chứng đã thu thập được về sức khỏe của nền kinh tế. Vì vậy, trong khi lãi suất là các bánh lái chính của hoạt động giá ngoại hối, thì tất cả các chỉ số kinh tế ở trên cũng rất quan trọng.
•    Phân tích cơ bản và Phân tích kỹ thuật
PTCB và PTKT là hai trường phái suy nghĩ trong kinh doanh và đầu tư trên thị trường tài chính. Các nhà PTKT nhìn vào biến động giá trên thị trường và sử dụng những thông tin này để dự đoán về hướng đi của giá trong tương lai. Các nhà PTCB nhìn vào các tin tức kinh tế, hay gọi là các thông tin cơ bản. Giờ đây, vì gần như bất kỳ sự kiện tin tức toàn cầu nào cũng có một tác động lên thị trường tài chính thế giới, về mặt kỹ thuật thì bất kỳ thông tin nào cũng có thể là thông tin về kinh tế. Đây là một điểm quan trọng mà tôi muốn nói, nhưng nhiều nhà phân tích cơ bản lại bỏ qua…
(Nguồn Internet)
Một trong những lý do chính tại sao tôi và tất cả thành viên của tôi thích kinh doanh chủ yếu dùng PTKT là bởi vì thực tế có hàng triệu những biến khác nhau trên thế giới có ảnh hưởng đến thị trường tài chính bất cứ lúc nào. Giờ đây, thị trường ngoại hối bị ảnh hưởng bởi các sự kiện vĩ mô như chính sách lãi suất của một quốc gia hay GDP, nhưng các sự kiện lớn khác như chiến tranh, thiên tai cũng có thể làm cho thị trường ngoại hối di chuyển. Như vậy, kể từ khi tôi và những người khác tin rằng tất cả những sự kiện thế giới được phản ánh vào giá và dễ dàng nhìn thấy bằng cách phân tích chúng, chỉ đơn giản là không có lý do thể thử và làm theo tất cả các sự kiện xảy ra mỗi ngày, để giao dịch trên thị trường.
Một trong những lập luận chính mà tôi đã được đọc rằng PTCB khác biệt với PTKT đó là dữ liệu giá quá khứ không thể dự đoán hay giúp dự đoán chuyển động giá tương lai, và thay vào đó bạn phải sự dụng các tin tức tương lai hoặc sắp xảy ra (các yếu tố cơ bản) để dự đoán thay đổi giá trên thị trường. Vì vậy, tôi nghĩ rằng sẽ là một ý tưởng tốt nếu tôi đưa ra phản hồi cho hai luận điểm sau chống lại PTKT:
1.    Nếu PTCB muốn thử và cho tôi biết rằng dữ liệu về giá trong quá khứ không quan trọng, thì tôi muốn họ giải thích cho tôi tại sao mức hỗ trợ và kháng cự lại rõ ràng rất đáng kể. Tôi cũng muốn hỏi họ làm cách nào tôi và các nhà kinh doanh biến động giá khác lại có thể giao dịch thành công trên thị trường bằng cách học cách giao dịch bằng những dấu hiệu đơn giản nhưng lại cực kì mạnh mẽ trong việc dự đoán biến động giá:


Nhìn vào biểu đồ giá vàng giao ngay trên đây, chúng ta có thể thấy rõ rằng mức hỗ trợ và kháng cự rất quan trọng để chú ý. Bất kỳ nhà PTCB nào muốn nói rằng biểu đồ là không quan trọng, thì đơn giản là họ sai, và bạn sẽ tư i đến kết luận này khi bạn dành nhiều thời gian hơn để tìm hiểu một vài biểu đồ giá.
2.    Luận điểm tiếp theo cho rằng công dụng của PTCB là bạn có thể dự đoán chính xác biến động giá bằng cách phân tích các sự kiện ngoại hối sắp xảy ra. Vâng, bất cứ ai đã từng giao dịch một thời gian dài hiểu rằng thị trường luôn phản ứng trái ngược lại với ngụ ý của một sự kiện sắp xảy ra. Có bao nhiêu lần thị trường đi theo đúng hướng được dự báo bởi một sự kiện? Có, hoàn toàn, nhưng liệu nó có phải là thứ mà bạn có thể dùng để xây dựng một kế hoạch và chiến lược kinh doanh không? Không!

Lý do là thị trường hoạt động trên kì vọng về tương lai. Điều này thực sự là một thực tế về kinh doanh và đầu tư đã được chấp nhận, cho nên nó có một chút xa lạ với tôi rằng một số người vẫn bỏ qua phân tích kỹ thuật hay không tập trung chủ yếu vào nó khi phân tích và kinh doanh trên thị trường. Để tôi giải thích: nếu biên chế của những ngành phi nông nghiệp được thông báo (bản báo cáo quan trọng nhất về kinh tế mỗi tháng ở Mỹ) và thị trường mong đợi thêm 100.000 việc làm hơn tháng trước, thị trường sẽ có khả năng di chuyển với con số dự đoán này. Vì thế, nếu con số thực sự là 100.000 thì thậm chí thị trường còn có thể xuống thấp hơn, thay vì cao hơn… vì có không TĂNG THÊM NHIỀU VIỆC LÀM HƠN như dự đoán. Cho nên, mặc dù 100000 việc làm mới có thể là một con số tốt, nhưng sự thực là báo cáo thực tế không vượt qua mong đợi là một tin xấu đối với các nhà kinh doanh và đầu tư.
Và bây giờ là luận điểm cuối cùng của tôi
Vì tất cả những kì vọng trước đó về một thông tin đã được thực hiện và có thể nhìn thấy trên biểu đồ giá, vậy tại sao lại không phân tích và học cách giao dịch trên biến động giá trên biểu đồ? Thật là một ý tưởng mới lạ! Bạn thấy đó, ngay cả sau khi tin tức này được phát hành chúng ta vẫn có thể sử dụng PTKT đối với giao dịch dựa trên biến động giá, , do đó thực sự PTKT là cách thiết thực, hữu dụng và hiệu quả nhất để phân tích và kinh doanh trên thị trường. Liệu tôi có nói rằng không có chỗ cho PTCB trong hộp công cụ kinh doanh ngoại hối? Hoàn toàn không. Tuy nhiên, điều tôi muốn nói là nó nên được xem xét và sử dụng như một lời khích lệ cho PTKT và nó nên được sử dụng một cách tiết kiệm, khi phân vân thì tham khảo biểu đồ hay đọc hoạt động giá, chỉ sử dụng PTCB để hỗ trợ tầm nhìn PTKT hay chỉ để thỏa chí tò mò, chứ đừng bao giờ chỉ dựa vào PTCB để dự đoán hay kinh doanh trên thị trường.

Nguồn: Learn to trade the market - Nial Fuller
Phan Long - Duy Đức
Phochungkhoan.

Phần 12: Tâm lý học về kinh doanh ngoại hối


Tôi đã đầu tư đủ lâu để hiểu mọi người nghĩ gì khi giao dịch trên thị trường. Bạn thấy đó, mọi người đều có lối suy nghĩ và cảm xúc tương tự nhau khi giao dịch trên thị trường, và ta có thể học được nhiều điều quan trọng từ những khác biệt trong lối tư duy của các nhà đầu tư thua cuộc và các nhà đầu tư thắng cuộc.
Các bạn có thể xem:

Sẽ là dối trá nếu tôi nói rằng thành công trên thị trường ngoại hối hoàn toàn phụ thuộc vào hệ thống và chiến lược bạn sử dụng, bởi vì nó không phải như thế, thực chất nó phụ thuộc lớn vào tư duy của bạn và cách bạn suy nghĩ và phản ứng với thị trường. Tuy nhiên, phần lớn các trang mạng về ngoại hối chỉ cố gắng bán các chỉ số hay các hệ thống giao dịch bằng máy và sẽ không cho bạn biết điều này, vì họ muốn bạn tin rằng bạn sẽ kiếm tiền đơn giản trên thị trường bằng cách mua những sản phẩm của họ. Tôi thích nói cho mọi người sự thật, và sự thật là việc bạn có một chiến lược hiệu quả và không gây nhầm lẫn rất quan trọng, nhưng nó chỉ là một miếng trong ổ bánh mà thôi. Phần lớn hơn của miếng bánh đó là quản lý giao dịch và quản lý cảm xúc một cách đúng đắn, nếu không làm đượ hai việc đó bạn sẽ không bao giờ có lời trong dài hạn trên thị trường.
•    Tại sao hầu hết các nhà đầu tư lại mất tiền
Có thể bạn đã nghe đâu đó rằng hầu hết những người cố gắng giao dịch ngoại hối đều mất hết tiền. Có một lý do hợp lý cho việc này, và lý do đó chủ yếu là mọi người nghĩ sai về giao dịch ngoại hối. Hầu hết mọi người đến với thị trường với những kì vọng không thực tế, như là họ có thể “giải nghệ” chỉ sau một tháng hay họ có thể biến 1000 USD thành 100.000 USD chỉ trong vài tháng. Những kì vọng không thực tế này càng củng cố cho tâm lý phá-hoại-tài-khoản của hầu hết các nhà đầu tư vì họ cảm thấy bị áp lực lớn và “cần” kiếm tiền trên thị trường. Khi bạn bắt đầu giao dịch mà “cần” hay bị áp lực kiếm tiền thì cuối cùng bạn cũng sẽ bị tâm lý khi giao dịch, và đó là con đường nhanh nhất để mất tiền.
•    Những cảm xúc nào cần lưu ý khi giao dịch ngoại hối
Để tìm hiểu kỹ hơn về các cảm xúc khi giao dịch, hãy điểm qua một vài lỗi cảm xúc tiêu biểu nhất mà các nhà đầu tư hay gặp khi giao dịch:
Tham lam – có một câu danh ngôn từ xưa mà bạn có thể đã từng nghe qua, nó đại loại thế này: “Những con bò đem lại tiền, những con gấu đem lại tiền, còn những con heo thì bị giết” (Bull: con bò, cũng để chỉ xu hướng tăng trên thị trường; Bear: con gấu, cũng để chỉ xu hướng giảm trên thị trường – NV). Cơ bản câu nói này có nghĩa là nếu bạn là một “con heo” tham lam trên thị trường, bạn nhất định sẽ mất tiền. Nhà đầu tư trở nên tham lam khi họ không có lợi nhuận vì họ nghĩ giao dịch luôn luôn đi theo hướng có lợi cho họ. Một việc khác mà các nhà đầu tư tham lam hay làm đó là tăng tiền vào vị thế đơn giản chỉ vì thị trường đang có lợi cho họ, bạn có thể tăng tiền cho các giao dịch nếu như lý do đó dựa trên một biến động giá hợp lý, nhưng nếu làm vậy chỉ vì thị trường di chuyển có lợi cho bạn một chút thì thường hành động đó xuất phát bởi lòng tham. Rõ ràng, mạo hiểm quá nhiều vào một giao dịch ngay từ khi bắt đầu cũng là quá tham lam. Vấn đề ở đây là bạn cần phải rất cẩn trọng với lòng tham của mình, vì nó có thể len lỏi vào bạn và phá hủy tài khoản một cách nhanh chóng.
Sợ hãi – nhà đầu tư trở nên sợ hãi khi bước vào thị trường khi họ là những người mới và chưa thuần thục các chiến lược kinh doanh hiệu quả như chiến lược kinh doanh theo biến động giá (trong trường hợp này thì không nên giao dịch bằng tiền thật). Nỗi sợ hãi có thể tăng lên trong tâm lý nhà đầu tư sau khi anh ta gặp phải một chuỗi các giao dịch thua hoặc chịu một khoản lỗ lớn hơn những gì có thể chịu đựng. Để chinh phục được nỗi sợ hãi thị trường, bạn chủ yếu phải chắc chắn rằng bạn không bao giờ dám mạo hiểm với số tiền nhiều hơn số tiền bạn cảm thấy THOẢI MÁI khi mất nó. Nếu bạn hoàn toàn cảm thấy THOẢI MÁI khi mất số tiền bạn dám mạo hiểm, thì chả còn gì để sợ. Nỗi sợ hãi có thể là một thứ cảm xúc làm giới hạn nhà đầu tư vì nó có thể khiến họ lỡ mất những cơ hội giao dịch tốt.
Trả thù – nhà đầu tư trải qua tâm trạng muốn “trả thù” thị trường khi họ chịu những khoản lỗ trong những giao dịch mà họ đã từng rất “chắc chắn”. Điều quan trọng ở đây là không có gì “chắc chắn” trong giao dịch…không bao giờ. Ngoài ra, nếu bạn đã mạo hiểm rất nhiều tiền trong một giao dịch, và cuối cùng mất nó, có một khả năng rất ca là bạn muốn quay trở lại thị trường để gỡ lại số tiền đó…và thường sẽ dẫn đến một khoản lỗ khác (đôi khi còn lớn hơn) bởi vì bạn đang một lần nữa giao dịch bằng cảm xúc.
Nhởn nhơ – mặc dù cảm thấy nhởn nhơ đôi khi cũng tốt, nhưng thực tế cảm giác này sẽ phá hoại tài khoản nếu một nhà đầu tư thắng một khoản lớn hoặc có một dây thắng dài. Nhà đầu tư có thể trở nên quá tự tin sau khi thắng một vài giao dịch trên thị trường, vì lý do này hầu hết các nhà đầu tư đã phải chịu một giai đoạn lỗ lớn ngay sau khi đạt được một số thắng lợi trên thị trường. Cảm giác cực kỳ cám dỗ muốn nhảy vào thị trường ngay sau một loạt các giao dịch “hoàn hản” hoặc ngay sau khi bạn đạt được 5 thắng lợi liên tiếp… có một ranh giới giữa việc giữ được đôi chân mình trên mặt đất và suy nghĩ rằng mọi thứ bạn làm trên thị trường đều biến thành vàng.
Nhiều nhà đầu tư rơi vào tình trạng suy sụp cảm xúc khi giao dịch và mất tiền ngay sau khi họ đạt được một dây thắng lợi. Lý do chuyện này xảy ra là vì họ cảm thấy tự tin và nhởn nhơ và rồi quên mất mối nguy thực sự của thị trường rằng BẤT KỲ GIAO DỊCH NÀO CŨNG CÓ THỂ THUA. Vấn đề quan trọng cần nhớ ở đây là kinh doanh ngoại hối là một trò chơi lâu dài của các xác suất. Nếu bạn có một giới hạn giao dịch có xác suất thắng cao, bạn cuối cùng sẽ có lợi nhuận trong dài hạn nếu như bạn theo đuổi giới hạn giao dịch của mình với kỷ luật cao. Tuy nhiên, ngay cả khi giới hạn của bạn có 70% chiến thắng, bạn vẫn có thể gặp phải 30 giao dịch thua trong 100 giao dịch liên tục…cho nên hãy nhớ thật kỹ sự thật này và luôn nhớ rằng bạn không bao giờ biết GIAO DỊCH NÀO có thể thua và GIAO DỊCH NÀO có thể thắng.
•    Làm thế nài để có được và duy trì một tư duy kinh doanh hiệu quả
Có được và duy trì một tư duy kinh doanh ngoại hối có hiệu quả là kết quả của rất nhiều những hành động đúng, và nó thường đến từ những nỗ lực không ngừng của các nhà đầu tư. Không nhất thiết phải đạt được một cách khó khăn, nhưng nếu bạn muốn phát triển một tư duy kinh doanh hiệu quả, bản phải chấp nhận những sự thật về kinh doanh và sau đó giao dịch trên thị trường với các thực tế này…
Bạn cần phải biết chiến lược kinh doanh của bạn là gì và bạn cần phải làm chủ nó. Bạn cần phải trở thành một “xạ thủ” trên thị trường thay vì trở thành một “anh lính bắn súng máy”, điều này liên quan đến việc thông thạo chiến lược kinh doanh của bạn từ trong ra ngoài và có những trả lời hoàn toàn là KHÔNG về những câu hỏi thị trường cần trông như thế nào trước khi mạo hiểm những đồng-tiền-khó-kiếm-được của mình.
Bạn cần phải quản lý rủi ro một cách đúng đắn. Nếu bạn không quản lý rủi ro trên MỌI giao dịch bạn thực hiện, bạn sẽ mở cửa cho cảm xúc lấn át lý trí, và tôi có thể hứa với bạn rằng một khi bạn trượt dài vào con dốc cảm xúc khi giao dịch ngoại hối, sẽ RẤT khó để có thể dừng bạn lại, hay thậm chí nhận ra rằng bạn đang kinh doanh theo cảm xúc ngay từ đầu. Bạn có thể loại bỏ phần lớn khả năng trở thành một nhà kinh doanh có cảm xúc thái quá chỉ bằng cách mạo hiểm một số tiền mà bạn 100% THOẢI MÁI khi mất nó cho một giao dịch. Bạn nên KÌ VỌNG SẼ THUA trong bất kỳ một giao dịch nào bạn thực hiện, như vậy bạn sẽ luôn luôn nhận thức được khả năng nó xảy ra trong thực tế.
Bạn cần phải giao dịch không quá tay. Các nhà đầu tư thường hay giao dịch quá nhiều. Bạn phải biết rõ 100% chiến lược của mình và sau đó CHỈ giao dịch khi nó xuất hiện. Một khi đã bắt đầu giao dịch chỉ vì bạn “cảm thấy thích” hay vì bạn “đại khái là” nhìn thấy được chiến lược giao dịch của mình…tức là bạn đã khởi động một chiếc tàu lượn siêu tốc của cảm xúc và sẽ rất khó để dừng lại. Đừng bắt đầu giao dịch quá tay và bạn sẽ không trở thành một nhà đầu tư theo cảm xúc đâu.
Bạn cần phải trở thành một nhà đầu tư có tổ chức. Nếu có cái gì đó là “chất keo” dán tất cả những luận điểm tôi đã nêu trong phần này với nhau, thì nó chính là việc trở thành một nhà đầu tư có tổ chức. Có tổ chức, ý tôi là có một kế hoạch kinh doanh và nhật ký giao dịch và thực sự sử dụng cả hai một cách nhất quán. Bạn cần phải suy nghĩ rằng kinh doanh ngoại hối giống như là một ngành nghề hơn là một chuyến đi đến sòng bạc. Hãy bình tĩnh và tính toán trong mọi tương các với thị trường và bạn nên thoải mái để  con quỷ dữ cảm xúc nằm ngoài tâm trí.
Phochungkhoan.vn

6 Lý thuyết chu kỳ nói về thực trạng kinh tế toàn cầu


Bản chất kinh tế và sự vận động của thị trường đều xảy ra và lặp lại theo 1 vòng tuần hoàn gọi là chu kỳ
 
 
Các chu kỳ kinh tế cơ bản thường được định nghĩa dựa trên 1 chuỗi sự vận động mở rộng hoặc co thắt của nền kinh tế
 
Nhưng mỗi chu kỳ sẽ tồn tại bao lâu ? Chúng được áp dụng thế nào ?
 
Chúng tôi xin giới thiệu với các bạn 6 chu kỳ kinh tế đặc trưng cho thấy những gì thị trường và nền kinh tế đang thể hiện
 
1 số lý thuyết đã được tồn tại lâu đời , 1 số mang vị thế học thuật khá mới.Tuy nhiên , chúng đều bao hàm những quy luật thú vị
 
The Kondratiev Cycle
 
 
Người xây dựng : Nikolai Kondratiev (1892-1938)
 
Thời gian : 50 – 60 năm
 
Nguyên lý : Mô hình Kondratiev hay còn gọi là mô hình sóng K là lý thuyết phân tích tăng trưởng kinh tế ở các nước tư bản chủ nghĩa.Định vị vĩ mô bằng sóng K để nhìn nhận những chu kỳ tăng trưởng kinh tế dài hạn và sự thay đổi chu kỳ được xác định bằng những đổi thay về công nghệ
 
Những thứ dự đoán : Giá cả , lãi suất , tiền tệ , hàng hóa ….
 
Chúng ta đang ở đâu : Chu kỳ K cho ra quan điểm thị trường sẽ cần 30 năm nữa cho 1 sự mở rộng mới tiếp theo
 
 
 
The Schumpeter Cycle
 
 
Người xây dựng : Joseph Schumpeter (1883-1950)
 
Thời gian: 50-60 năm
 
Lý thuyết: chu kỳ Shumpeter thực sự xoay quanh sự vận động của thị trường và dựa trên 4 giai đoạn
 
1. Prosperity      : Giai đoạn thịnh vượng
2. Recession     : Giai đoạn suy thoái
3. Depression    : Giai đoạn trầm lắng , trì trệ
4. Improvement : Giai đoạn hồi phục
 
Những gì nó dự đoán: mô hình kinh tế toàn cầu
 
Chúng ta đang ở đâu : Xét về khoảng thời gian 50-60 năm chúng ta có thể thấy kinh tế hiện tại đang nằm ở điểm R của chu kỳ : Giai đoạn suy thoái
 
 
The Kitchin Cycle
 
 
Người xây dựng : Joseph Kitchin (1861-1932)
 
Thời gian: 40 tháng
 
Lý thuyết: Thị trường bị "ngập tràn" các mặt hàng khi tăng trưởng kinh tế đi lên. Khi nhu cầu giảm, giá giảm và các mặt hàng sản xuất được tích lũy trong hàng tồn kho. Nhưng có một sự chậm trễ giữa sự vận động của thị trường và thời điểm các doanh nghiệp nhìn nhận vấn đề tiến tới giảm sản lượng sản xuất
 
Những gì nó dự đoán: Nhu cầu, giá cả, đầu ra
 
Chúng ta đang ở đâu : chu kỳ Kitchin cho thấy giá đang ở trong một giai đoạn xu hướng đi lên
 
 
The Juglar Cycle
 
 
 
Người xây dựng : Clément Juglar (1819-1905)
 
Thời gian: 7-11 năm
 
Lý thuyết: Ngoài tín hiệu tụt hậu hàng tồn kho Kitchin , nó còn là tín hiệu xác định mức suy giảm của các khoản đầu tư cố định
 
Những gì nó dự đoán : mức đầu tư vốn
 
Chúng ta đang ở đâu : Chu kỳ Juglar nói rằng chúng ta đang ở đầu của một xu hướng đi lên trong đầu tư vốn
 
 
The Kuznets Cycle
 
 
Người xây dựng : Simon Kuznets (1901-1985)
 
Thời gian: 15-25 năm
 
Lý thuyết: Các nước đang phát triển có 1 sự bất bình đẳng trong thu nhập .Khoảng cách sẽ được nhân rộng ra khi thu nhập đạt được mức độ trung bình trong suốt chiều dài chu kỳ.
 
Những gì nó dự đoán: Thu nhập
 
Chúng ta đang ở đâu : Chu kỳ Kuznets cho thấy được sự bất bình đẳng thu nhập cao hiện tại.Các nước trên thế giới – đặc biệt là Mỹ nên có một giai đoạn mới của sự phát triển
 
 
The Jevons Cycle
 
 
Người xây dựng : William Jevons (1835-1882)
 
Thời hạn: 11 năm
 
Lý thuyết: Chu kỳ kinh doanh di chuyển dựa trên sự vận động của các tiêu điểm mặt trời 
 
Những gì nó dự đoán: Giá lương thực, lạm phát
 
Hiện tại chúng ta đang ở đâu : Chu kỳ Jevons nói rằng giá vẫn còn trên một xu hướng đi lên, theo số liệu năng lượng mặt trời của NASA.
 
 
 
Phochungkhoan.vn

Chu kỳ tâm lý trong đầu tư chứng khoán


Việc đầu tư chứng khoán ngoài các yếu tố mang tính học thuật còn có những tác động đáng kể về mặt tâm lý.
Chúng tôi xin giới thiệu cho các bạn về chu kỳ tâm lý trong thị trường chứng khoán
Những gì diễn ra trên thị trường cũng đã được Sir John Templeton đề cập trong câu nói kinh điển của mình :
"Thị trường đầu cơ sinh ra từ sự ảm đạm , lớn lên trong sự hoài nghi , phát triển nhờ sự lạc quan và chết đi bởi sự thỏa mãn "
Vì vậy việc lựa chọn thời điểm gia nhập thị trường là yếu tố quan trọng để đạt được thành công trong đầu tư tài chính
Phochungkhoan.vn

Thiết kế hệ thống giao dịch - Phần 1


Trong phần trước chúng ta đã được tìm hiểu về các nhân tố tạo nên 1 hệ thống giao dịch và ưu khuyết điểm khi sử dụng hệ thống giao dịch trong 1 môi trường thực tế.Trong nội dung bài viết này , chúng tôi sẽ thực tế hóa những kiến thức đó bằng cách xây dựng hệ thống đầu tư phù hợp với dao động thị trường.Sau đó chúng ta có thể thảo luận những góc cạnh khác sâu hơn của hệ thống đầu tư
 
Giao dịch trong các thị trường khác nhau :
 
Equity Market – Thị trường vốn 
 
Thị trường vốn – thị trường chứng khoán là thị trường phổ biến nhất để các giao dịch có thể tiến hành và phát sinh , đặc biệt là đối với các nhà đầu tư mới.Trong thị trường này , những nhà đầu tư lớn như Warrant Buffet hay Merrill Lynch đứng trên góc độ là người tạo lập và xây dựng các sân chơi.Họ đầu tư vào giá trị doanh nghiệp hoặc kỳ vọng vào tiềm năng tăng trưởng tương lai.Bên cạnh đó , 1 số tổ chức khác tiến hành xây dựng các tín hiệu đầu tư , phát triển và hoàn thiện nó.1 làn sóng nhỏ các nhà đầu tư cá nhân cũng thực hiện những điều này , dù nó xảy ra chậm chạp hơn
 
 
Đây là 1 vài yếu tố chính để bạn tỉnh táo hơn trong việc sử dụng hệ thống giao dịch nhằm đầu tư trên thị trường chứng khoán :
 
• Với số lượng lớn các cổ phiểu có sẵn cho phép các nhà đầu tư có thể kiểm tra hệ thống bằng công cụ backtest trên nhiều loại cổ phiếu khác nhau từ cổ phiếu cực kỳ dễ biến động trên thị trường OTC đến các cổ phiểu blue chip ổn định.
 
• Hiệu quả của hệ thống giao dịch có thể bị giới hạn bởi tính thanh khoản thấp của một số cổ phiếu, đặc biệt là các cổ phiếu niêm yết trên OTC và Upcom.
 
• Hoa hồng có thể tính vào lợi nhuận khi các giao dịch thành công, và có thể làm mất phí nhiều hơn. Cổ phiếu OTC và Upcom thường phải chịu phí hoa hồng bổ sung.
 
• Hệ thống giao dịch chính được sử dụng để tìm kiếm giá trị - đó là, hệ thống sử dụng các thông số khác nhau để xác định xem một cổ phiếu bị định giá thấp hay cao so với giá trị của nó trong quá khứ, các cổ phiếu tương tự, hoặc thị trường nói chung
 
Foreign Exchange Markets – Thị trường tiền tệ
 
Thị trường hoán đổi tiền tệ , hay còn gọi là thị trường ngoại hối là thị trường lớn nhất và thanh khoản nhất trên thế giới.Chính phủ các quốc gia trên thế giới , ngân hàng và các tổ chức tài chính lớn đã giao dịch hàng nghìn tỷ $ trên thị trường tiền tệ mỗi ngày.Phần lớn các nhà đầu tư thể chế giao dịch ngoại hối dựa trên các hệ thống giao dịch.Điều này cũng tương tự đối với các nhà đầu tư cá nhân , tuy nhiên 1 số khác giao dịch dựa trên các báo cáo về kinh tế cũng như tình hình lãi suất
 
 
Đây là 1 vài yếu tố chính để bạn tỉnh táo hơn trong việc sử dụng hệ thống giao dịch nhằm đầu tư trên thị trường tiền tệ :
 
• Thanh khoản trên thị trường này - do khối lượng rất lớn - làm cho hệ thống giao dịch chính xác và hiệu quả hơn.
 
• Không có phí hoa hồng ( commisson) trên thị trường này , chỉ có spread ( Chênh lệch giá Bid – Ask ) . Do đó , sẽ dễ dàng thực hiện nhiều giao dịch hơn trong thị trường mà không phải gia tăng chi phí
 
• So với những thị trường khác như chứng khoán hoặc hàng hóa , sản phẩm trên thị trường tiền tệ hạn chế hơn.Nhưng cùng với sự xuất hiện đồng tiền của các nước nhỏ khiến giao dịch trên thị trường này có những biến động không hạn chế
 
• Phương pháp và hệ thống giao dịch thường được dùng trên thị trường này là đi theo xu hướng – Trend is my friend hoặc các hệ thống giao dịch mua bán khi giá phá vỡ xu thế ( Break out ). Vì các chỉ báo kinh tế thường tạo ra sự dịch chuyển giá dài trong 1 khoảng thời gian sau đó
 
Future – Thị trường giao sau
 
 
Tất cả giao dịch chứng khoán , tiền tệ , hàng hóa đều mang giá trị kỳ vọng và tính chất của những hợp đồng tương lai.Tính thanh khoản cao và đòn bẩy lớn là những thế mạnh của thị trường.Nó giúp bạn khuếch đại lợi nhuận cũng như các khoản lỗ tiềm năng của bạn trong tương lai.Vì vậy , việc giao dịch các hợp đồng tương lai đòi hỏi các tổ chức hoặc nhà đầu tư có 1 hệ thống đầu tư tiên tiến và hiệu quả.Vì tính phức tạp của hệ thống giao dịch , các biến số và thời gian phát triển lâu đời nên rủi ro và cơ hội trên thị trường này rất cao
 
Vì vậy , việc lựa chọn thị trường giao dịch dựa vào khả năng chấp nhận rủi ro cũng như hiệu quả từ các công cụ đầu tư của bạn
 
Các loại hệ thống giao dịch
 
Trend – Following System : Hệ thống giao dịch theo xu hướng
 
Phương pháp thông dụng nhất của 1 hệ thống giao dịch là giao dịch theo xu hướng.Trong hình thức đơn giản nhất , hệ thống giao dịch này chờ đợi 1 tín hiệu dịch chuyển của giá và tiến hành mua hoặc bán tại đó
 
 
Moving Average Systems – Hệ thống giao dịch theo tín hiệu dịch chuyển
 
Thường xuyên được sử dụng trong phân tích kỹ thuật , 1 đường trung bình dịch chuyển là chỉ báo cơ bản cho thấy trung bình di chuyển của giá trong 1 giai đoạn thời gian.Bản chất của xu hướng bắt nguồn từ phép đo này.Các tín hiệu gia nhập và thoát khỏi thị trường thông qua các điểm giao cắt.
 
Bản chất của đường MA cũng mang ý nghĩa như 1 đường kháng cự hoặc hỗ trợ.Khi giá nằm trên đường MA thì nó sẽ có ý nghĩa làm lực đỡ cho giá khi giảm.Tùy vào thời gian mà sức mạnh của đường MA sẽ mạnh hay yếu.Thời gian càng dài , lực đỡ giá càng mạnh
 
Khi giá vượt lên đường MA , vị thế mua sẽ được mở ra và khi giá nằm dưới đường MA , vị thế bán sẽ là chủ đạo
 
 
Việc sử dụng 1 đường MA giảm đơn sẽ không mang lại nhiều góc nhìn hiệu quả.Vì vậy các nhà đầu tư thường sử dụng bộ chỉ báo MA kết hợp bao gồm nhiều đường MA ngắn , trung và dài hạn liên kết với nhau
 
Một xu thế tăng sẽ được xác định khi đường ngắn trung hạn cắt đường dài hạn đi lên và xu thế bán sẽ xuất hiện khi đường ngắn trung hạn cắt dài hạn đi xuống. Điều này sẽ làm giảm thiểu các tín hiệu nhiễu từ đường trung bình giản đơn mang lại
 
 
Tùy vào khung thời gian của MA mà các nhà đầu tư sẽ xây dựng cho mình bộ chỉ số đầu tư theo phương thức ngắn hạn , trung hạn và dài hạn
 
Các bộ chỉ số thường được dùng theo thứ tự ( Short-term , Mid-Term , Long-Term ) : (5,13,21) ; (13,21,60) ; (21,60,200) ….. 
 
Breakout System : Hệ thống giao dịch theo các tín hiệu phá vỡ
 
Điểm tiến hành mua vào hoặc bán ra là các điểm phá vỡ xu hướng cũ trước đó hoặc dịch chuyển theo 1 mẫu hình củng cố xu thế trước đó
 
 
Khuyết điểm của việc giao dịch theo xu hướng :
 
• Hệ thống phải ra quyết định dựa vào thực nghiệm : Khi xác định 1 xu hướng , luôn cần phải có 1 nhân tố thực nghiệm để xem xét – thời gian vận động của xu hướng dựa trên các yếu tố lịch sử.Ví dụ , đường trung bình dịch chuyển nên được xem xét trong 20 ngày trước đó hoặc 1 quãng thời gian 5 năm trở lại đây.Những nhân tố khác được xác định là trung bình giá cao nhất và thấp nhất khi giá phá vỡ các ngưỡng hỗ trợ và kháng cự trước đó
 
• Độ trễ của cảnh báo : Trung bình dịch chuyển giá và các tín hiệu phá vỡ luôn có độ trễ nhất định so với thực tế.Trong 1 chừng mực nào đó , chúng ta không thể xác định chính xác đáy và đỉnh của 1 xu hướng
 
• Tín hiệu nhiễu của hệ thống : Trong số các yếu tố mang lại thất bại cho hệ thống , đây là tình huống xảy ra thường xuyên nhất.Tín hiệu nhiễu xảy ra khi các chỉ báo dao động thay đổi đột ngột xu hướng dẫn đến các thiệt hại lớn từ việc giao dịch.Các công cụ giảm thiểu rủi ro có thể dựa trên việc sử dụng các điểm dừng lỗ kỹ thuật hoặc điều chỉnh khung thời gian dài ra để tránh nhiễu
 
• Thị trường đi ngang : Hệ thống đầu tư có khả năng kiếm tiền trong 1 thị trường có xu hướng nhưng lại gặp khó khăn trong 1 thị trường đi ngang
 
• Các biến động lớn xảy ra : Thỉnh thoảng, hệ thống theo xu hướng có thể gặp một số biến động cực đoan, nhưng các trader phải gắn bó và tuân thủ nguyên tắc với hệ thống của mình xây dựng. Không có khả năng làm như vậy sẽ dẫn đến thất bại hoàn toàn
 
Kết luận : Các thị trường chính mà hệ thống giao dịch phù hợp là thị trường chứng khoán, ngoại hối và tương lai. Mỗi một trong các thị trường có lợi thế và bất lợi của nó. Việc áp dụng hệ thống đầu tư cần có kinh nghiệm thực tiễn và tuân thủ kỷ luật đầu tư để ứng dụng được 1 cách hiệu quả. Trong phần sau, chúng ta sẽ có một cái nhìn sâu hơn về cách thiết kế một hệ thống giao dịch và thảo luận về một số phần mềm mà các trader sử dụng để làm cho cuộc sống của họ dễ dàng hơn.

10 sự thật thú vị về tài chính

10 sự thật thú vị về tài chính
1. Tiền mặt và các khoản đầu tư của Apple hiện tại tương đương với GDP của Hungary và nhiều hơn GDP của Việt Nam và Iraq.
2. Cho tới khi Quỹ dự trữ liên bang được thành lập vào năm 1908, các ngân hàng mới có thể tạo ra đồng tiền riêng.
3. Tổng tài sản dưới sự giám sát của JP. Morgan là 2,2 nghìn tỷ đô - cao hơn GDP của Ấn Độ
4. Kể từ năm 1928, chỉ số Dow Jone đã:
Tăng 10% trong 1 ngày 8 lần
Giảm 10% trong 1 ngày 4 lần
Dao động tăng và giảm trong khoảng 5% trong 1 ngày đến 136 lần
5. Ngân hàng đầu tiên trên thế giới là Monte Dei Paschi Di Shiena được thành lập vào năm 1472, có trụ sở chính tại thành phố Tuscany, Ý. Ngân hàng vẫn hoạt động cho tới nay.
6. Chú của JP.Morgan – Jame Pierpont, sáng tác bài hát “Jingel Bell” vào năm 1857.
7. Zimbabwe là nước hứng chịu tỉ lệ lạm phát cao nhất thế giới – một triệu lũy thừa sáu vào năm 2008.
8. Năm 1973, David Rockerfeller  được công nhận là vị giám đốc ngân hàng Mỹ đầu tiên  xâm nhập vào thị trường nước Cộng Hòa Nhân dân Trung Quốc kể từ năm 1949.
9. Số lượng cửa hàng của hãng cà phê Starbuck trên các quốc gia nhiều hơn tổng số văn phòng đại diện cho Goldman Sachs và JP Morgan Chase cộng lại.
10. Nếu bạn đầu tư 100 đô la vào Microsoft năm 1986 thay vì trả cho phiên bản 1.0 của Window, nó đáng giá 46,400 đô la ngày nay.
Nguồn: Bic Picture
Hà Chi
Phochungkhoan

[George Soros] - Thuyết phản hồi : Cách đọc suy nghĩ của Mr. Market


“Phân tích cơ bản tìm cách để nhận biết giá trị nền tảng được phản ánh như thế nào trong giá cổ phiếu, trong khi Thuyết phản hồi lại giải thích giá cổ phiếu ảnh hưởng đến giá trị nền tảng như thế nào. Một bên đưa ra bức tranh tĩnh, một bên đưa ra bức tranh động.”
Vào năm 1949 – sau khi rời khỏi Hungary hai năm trước đó - George Soros đã theo học tại Học viện Kinh tế - Chính trị London (London School of Economics - LSE) để nghiên cứu kinh tế và chính trị của quốc tế. LSE là một điểm nóng của chủ nghĩa xã hội, không khác gì với hầu hết các trường đại học khác tại thời điểm đó.
Nhưng LSE là cũng là nơi hai nhà tư tưởng lỗi thời, thị trường tự do kinh tế của Friedrich von Hayek và nhà triết học Karl Popper. Soros được theo học từ cả hai, nhưng Popper đã trở thành người thầy và có ảnh hưởng lớn đến cách nhìn nhận cuộc sống của ông.
Popper định hình cho Soros một khuôn khổ trí tuệ và tư duy mà sau đó Soros phát triển thành cả hai triết lý đầu tư và cũng là phương pháp đầu tư của ông. Trong những ngày sinh viên của mình, mục tiêu của Soros là trở thành một học giả, một nhà triết học. Ông bắt đầu viết một cuốn sách mà ông gọi là “The Burden of Consciousness” (Gánh nặng của ý thức). Chỉ khi ông nhận ra mình chỉ “nhai lại” triết lý của Popper và cuối cùng ông đã đặt tất cả những triết lý đó sang một bên và chuyển sang sự nghiệp tài chính. Kể từ đó, ông đã xem các thị trường tài chính như một phòng thí nghiệm nơi ông có thể thử nghiệm những ý tưởng triết học của mình.
Soros xem việc vật lộn với câu hỏi triết học là việc làm mà ông coi là một khám phá quan trọng của tri thức:
"Tôi đi đến kết luận rằng, về cơ bản tất cả các quan điểm của chúng ta về thế giới bằng cách nào đó nó là thiếu sót hoặc bị bóp méo, và sau đó tôi tập trung vào tầm quan trọng của sự biến dạng này trong việc định hình các sự kiện."
Với cách nhìn nhận đó về thị trường, Soros đã kết luận: "Tôi có thể sai lầm." Đây không chỉ là một nhận xét, nó đã trở thành nguyên tắc hoạt động và niềm tin của ông.
Hầu hết mọi người đồng ý rằng người khác phạm sai lầm hoặc chỉ sẽ thừa nhận có sai lầm trong quá khứ. Nhưng có bao nhiêu người công khai thừa nhận rằng họ sẽ là sai lầm khi đưa ra quyết định?
Rất ít. Như Soros đã ngụ ý trong bình luận của ông trong cuốn sách “Soros on Soros” về đồng nghiệp cũ của mình, Jim Rogers (quản lý quỹ và là tác giả của cuốn The Investment Biker): "Sự khác biệt lớn giữa Jim Rogers và tôi là Jim nghĩ rằng Quan điểm phổ biến là luôn luôn sai, trong khi tôi nghĩ rằng chúng tôi có thể sai cũng có."
Khi Soros hoạt động trong lĩnh vực đầu tư, ông vẫn nhận thức được rằng ông có thể là sai, và điều này ảnh hưởng rất lớn trong quá trình suy nghĩ riêng của mình. Điều này cho phép ông giữ một tinh thần linh và sự nhanh nhẹn tuyệt vời trong việc xoay sở và thay đổi cách suy nghĩ.
Soros cho rằng, tất cả mọi người đã nhìn nhận là thế giới "bằng cách nào đó đã thiếu sót và sai lệch", nhưng thật sự sự hiểu biết của chúng ta về thế giới mới là không hoàn hảo và thường sai lệch.
Soros biến hiểu biết của con người về thực tế là không hoàn hảo thành một công cụ đầu tư mạnh mẽ. Ông có thể kiếm lợi nhuận bất kỳ lúc ông nhìn thấy những gì người khác không thể bởi vì lúc đó họ đã bị mù oán bời niềm tin của chính họ.
Khi ông bắt đầu công việc của ông ở quỹ Quantum Fund, ông đã kiểm tra lý thuyết của mình bằng việc tìm kiếm xu hướng phát triển của thị trường hoặc sự thay đổi đột ngột sắp xảy ra mà không ai nhận thấy.
Ông đã tìm thấy một sự thay đổi xu hướng này trong ngành công nghiệp ngân hàng.
Nhiều quy định kể từ những năm 1930, các ngân hàng trở nên ù lì, cố định, bảo thủ và hầu hết tất cả các khoản đầu tư đều nhàm chán. Không có tương lai cho một Wall Street với nhà phân tích khéo léo, khôn ngoan trong lĩnh vực ngân hàng.
Soros nhận ra điều này và việc thay đổi là không thể tránh khỏi. Những người quản lý kiểu cũ đã lỗi thời cũng đến lúc nên nghỉ hưu và được thay thế bằng thế hệ trẻ năng động với tấm bằng MBA. Quản lý mới này sẽ là động lực để thúc đầy toàn ngành công nghiệp vực dậy.
Năm 1972, Soros đã công bố một báo cáo có tiêu đề "The Case for Growth Banks” (Trường hợp các Ngân hàng Tăng trưởng", dự báo rằng cổ phiếu các ngân hàng sẽ “cất cánh”. Ông cũng đã khẳng định việc quản lý của một số ngân hàng ngày càng tốt hơn. Và theo đó, cổ phiếu ngân hàng bắt đầu tăng lên, và Soros thu được một khoản lợi nhuận 50%."
Trong khi đó, Buffett tìm cách mua 1 vật có giá trị $1với giá 40 hoặc 50 cent, thì Soros lại hạnh phúc khi trả $1, hoặc thậm chí nhiều hơn $1, vì khi đó ông có thể nhìn thấy một sự thay đổi sẽ làm tăng giá của vật đó lên đến $2 hoặc $3.
Với Soros, nhận thức méo mó của con người là một yếu tố trong việc định hình các sự kiện diễn ra. Như ông đã nói: "Những gì mà niềm tin của con người đang làm là thay đổi sự thật" trong một quá trình mà ông gọi là phản hồi được ông đề cập trong cuốn sách “Thuật giả kim Tài chính”.
Đối với một số người như Paul Tudor Jones – một trader, cuốn sách là "sự cách mạng", nó làm sáng tỏ sự việc phức tạp và nặng nề. Thông qua cuốn sách Soros cũng đã gặp Stanley Druckenmiller , người đã tìm kiếm ông ra sau khi đọc quyển sách, và cuối cùng Stanley Druckenmiller được Soros mời về quản lý quỹ Quantum Fund.
Tuy nhiên, đối với hầu hết những người khác cuốn sách đã không thể có gì đáng để quan tâm, thậm chí không thể đọc được, và rất ít người nắm bắt được ý tưởng trong thuyết phản hồi của Soros mặc dù ông đã cố gắng truyền đạt nó. Như Soros đã viết trong lời nói đầu của ấn bản bìa mềm, "Dựa trên phản ứng của công chúng ... tôi đã không thành công trong việc chứng minh tầm quan trọng của thuyết phản hồi. Chỉ có phần đầu tiên trong lập luận của tôi -. Xu hướng hiện hành ảnh hưởng đến giá cả thị trường, và Phần thứ hai - Xu hướng hiện hành có thể trong một số trường hợp còn ảnh hưởng đến các nguyên tắc cơ bản được gọi là và những thay đổi trong giá cả thị trường gây ra những thay đổi trong giá cả thị trường - dường như không ai chú ý ".
Những thay đổi về giá cả thị trường gây ra những thay đổi trong giá cả thị trường? Nghe có vẻ vô lý quá phải không?
Nhưng không phải, nó không hề vô lý chút nào. Ví dụ như khi giá cổ phiếu đi lên, nhà đầu tư cảm thấy mình giàu có hơn và nhiều tiền hơn. Với một kết quả doanh thu và lợi nhuận của công ty tăng lên. Tiếp theo đó các nhà phân tích bắt đầu với những "cơ bản của công ty ngày càng cải thiện", và kêu gọi, khuyến nghị các nhà đầu tư mua vào. Làm cho giá cô phiếu đó tăng hơn nữa, làm cho các nhà đầu tư còn giàu có hơn nữa, vì vậy họ chi tiêu nhiều hơn. Và như vậy nó cứ di chuyển. Đây là những gì mà Soros gọi là "quá trình phản hồi" - một vòng phản hồi: một sự thay đổi trong giá cổ phiếu đã gây ra một sự thay đổi cơ bản trong công ty đó, lần lượt, biện minh cho sự gia tăng hơn nữa trong giá cổ phiếu. Và cứ tiếp tục như vậy.
Chắc hẳn các bạn cũng từng biết hiện tượng này? Các học giả đã viết về nó, thậm chí Cục Dự trữ Liên bang đã ban hành một bài báo về nó. Nó được gọi là "The Wealth Effect" (Hiệu ứng tài sản).
Thuyết phản hồi là một vòng phản hồi của nhận thức làm thay đổi sự thật, và những sự kiện làm thay đổi nhận thức. Như sự sụp đổ của đồng baht Thái Lan vào năm 1997.
Tháng 7 năm 1997, Ngân hàng Trung ương Thái Lan ra quyết định cho phép thả nổi đồng tiền của mình. Các ngân hàng dự kiến ​​sẽ giảm giá khoảng 20% đồng tiền của họ, nhưng đến ngày đồng baht sụp đổ từ 26 đồng bath cho 1 đồng đô la Mỹ lên đến hơn 50 đồng bath cho 1 đồng đô la Mỹ, thực chất đồng bath đã giảm hơn 50% giá trị của nó.
Các ngân hàng đã nhận thấy giá trị thực của đồng baht là xung quanh 32 với 1 đồng đô la theo mô hình lý thuyết định giá tiền tệ. Những gì các ngân hàng thất bại khi cho thả nổi đồng baht làm khởi động một quá trình tự tăng cường tính phản hồi đã làm cho đồng tiền của Thái Lan rơi vào trạng thái rơi tự do.
Thái Lan là một trong những "Con hổ châu Á", một quốc gia đang phát triển nhanh chóng và được đánh giá là sẽ bước của Nhật Bản. Việc chính phủ cho cố định giá đồng đô la Mỹ, đồng baht Thái Lan được coi là một đồng tiền ổn định. Vì vậy, các ngân hàng quốc tế đã tích cực đổ hàng tỷ đô la Mỹ vào các công ty Thái Lan. Và người Thái rất vui khi họ đi vay vì lãi suất đô la Mỹ thấp hơn.
Khi đồng tiền sụp đổ, giá trị khoảng nợ của các công ty nợ đồng đô la Mỹ đã đến hạn phải trả và bất ngờ phát nổ ... khi các khoảng nợ đó được tính bằng đồng baht. Cơ bản của các công ty đã thay đổi.
Khi nhìn thấy điều đó, các nhà đầu tư nước ngoài bán tháo cổ phiếu của các công ty Thái Lan. Họ đã thoát khỏi thị trường, nhà đầu tư nước ngoài chuyển đổi baht của họ sang đô la và trở về. Đồng baht sụp đổ. Ngày càng nhiều công ty Thái Lan tin rằng họ sẽ không bao giờ có thể trả được nợ. Cả nhà đầu tư Thái và nhà đầu tư nước ngoài lại tiếp tục bán tháo cổ phiếu trên thị trường.
Các công ty cắt giảm và sa thải nhân viên. Tỷ lệ thất nghiệp tăng vọt, người dân chi tiêu ít hơn - và có những người giữ lại khoảng tiền chi tiêu vì họ sợ vào những việc không chắc chắn sẽ xảy ra. Nền kinh tế Thái Lan giảm mạnh ... và triển vọng cho nhiều công ty Thái lớn, ngay cả những công ty không có các khoản nợ đáng kể bằng đồng đô la, bắt đầu nhận thấy việc kinh doanh của họ cũng ngày càng bấp bênh hơn.
Khi đồng baht rớt giá, nền kinh tế Thái khủng hoảng - và đồng baht tiếp tục rớt giá hơn nữa. Sự thay đổi trong giá cả thị trường đã gây ra sự thay đổi giá cả thị trường.
Theo Soros, sự phản hồi là chìa khóa để có cái nhìn rõ hơn về mô hình chu kỳ bùng – vỡ. "Một quá trình bùng nổ / phá sản chỉ xảy ra khi giá cả thị trường ... ảnh hưởng đến cái gọi là “cơ bản”, yếu tố được cho là sẽ được phản ánh trong giá cả thị trường."
Phương pháp của ông là tìm kiếm các tình huống mà nhận thức của “Mr. Market” khác biệt lớn về cơ bản so với thực tế. Khi Soros nhìn thấy một quá trình phản hồi của thị trường, ông có thể tự tin rằng xu hướng sẽ tiếp tục phát triển trong thời gian dài, và giá cả sẽ ngày càng tăng (hoặc càng giảm) nhiều hơn so với hầu hết những người sử dụng một khung phân tích tiêu chuẩn mong đợi.
Soros áp dụng triết lý của mình để xác định xu hướng thị trường trong giai đoạn đầu của nó và vị thế của mình trước khi đám đông chạy theo ông.
Năm 1969, một phương tiện tài chính mới, Quỹ tín thác đầu tư bất động sản (REITs), thu hút sự chú ý của ông. Ông đã viết một phân tích - lưu hành rộng rãi vào thời điểm đó - trong đó ông dự đoán một "Four Act" phản ánh sự bùng – vỡ của quá trình đó sẽ đẩy giá các công cụ mới này lên tận trời trước khi chúng sụp đổ.
I/ Khi lãi suất ngân hàng ở mức cao, REIT cung cấp như một thay thế hấp dẫn đối với tín chấp tài chính truyền thống. Khi việc đó xảy ra, Soros đã nhìn thấy một sự tăng vọt về số lượng REITs trên thị trường.
II/ Soros dự kiến ​​rằng việc tạo ra những REITs mới, và mở rộng những cái hiện có sẽ giống như một cơn lũ tiền tề đổ vào thị trường tín chấp, gây ra một sự bùng nổ nhà ở. Lần lượt, sự việc xảy ra sẽ là tăng lợi nhuận kiếm được từ REIT và đẩy giá của các quỹ tín thác tăng vọt.
III/ Trích dẫn từ báo cáo của Soros, "Quá trình tự củng cố sẽ tiếp tục cho đến khi Quỹ tín thác chiếm một phần quan trọng của thị trường ngành xây dựng." Như sự bùng nổ nhà ở do nới lỏng tín dụng, giá bất động sản sẽ giảm, số lượng ngày càng tăng các khoản vay khó đòi" và các ngân hàng sẽ trở nên hoảng sợ và họ đòi hỏi thu hồi dòn tín dụng trở về."
IV/ Khi khoảng thu nhập từ REIT giảm mạnh, sẽ tạo ra một chấn động mạnh trong ngành công nghiệp ... và một sự sụp đổ.
Vì thời gian chuẩn bị cho một cuộc chấn động diễn ra rất dài, theo ông các nhà đầu tư có nhiều thời gian để kiếm lợi nhuận từ phần phát triển vượt bậc của chu kỳ. Chỉ nguy hiểm thực sự mà ông đã nhìn thấy trước là quá trình tự củng cố (Act II) sẽ không thể kiếm được bất cứ phần lời nhuận nào cả trong giai đoạn tưởng chừng như tốt đẹp nhất này.
Chu kỳ được phơi bày ra như những gì Soros đã dự báo, và ông đã kiếm được một khoảng lợi nhuận khổng lồ khi sự bùng nổ đang phát triển. Chuyển sự chú ý đến những thứ khác, hơn một năm sau khi REITs đã bắt đầu suy giảm, ông đã xem lại báo cáo ban đầu của mình và "tôi quyết định bán khống các chứng chỉ quỹ đó" Quỹ của ông đã kiếm một triệu đô la lợi nhuận trước khi thoát khỏi thị trường.
Soros đã áp dụng thuyết phản hồi để kiếm tiền ngay cả khi thị trường lên và xuống.
Đối với một số người, phương pháp của Soros cũng tương tự như giao dịch theo xu hướng. Nhưng theo xu hướng (đặc biệt là chartists) thường chờ đợi một xu hướng được xác nhận trước khi đầu tư. Khi xu hướng thực sự được hình thành (như trong "Act II" của chu kỳ REIT) thì Soros đã có ở đó. Đôi khi ông cũng sử dụng xu hướng để khẳng định thêm cho những đoán của mình vì hành vi theo xu hướng của thị trường sẽ làm tăng sự chắc chắn niềm tin của ông về xu hướng đó.
Nhưng làm thế nào để bạn biết khi nào xu hướng đó sắp kết thúc? Trung bình thì xu hướng ăn theo không bao giờ chắc chắn. Một số cảm thấy lo lắng về lợi nhuận, sự điều chỉnh thường xuyên của thị trường tăng. Những người khác chờ đợi cho đến khi một sự thay đổi trong xu hướng được xác nhận - đó chỉ xảy ra khi giá đã vượt mức quá cao và thị trường bắt đầu đi xuống.
Nhưng triết lý đầu tư của Soros cung cấp một khuôn khổ cho việc phân tích xem các sự kiện sẽ diễn ra như thế nào. Vì vậy, ông có thể dự báo một xu hướng dài hơn, và kiếm được lợi nhuận từ nó nhiều hơn hầu hết các nhà đầu tư khác. Và như trong ví dụ về REIT chúng ta có thể kiếm lợi nhuận từ cả sự bùng nổ và phá sản.
Lý thuyết về phản xạ của Soros là lời giải thích của ông cho thăng-trầm thay đổi tâm trạng của Mr. Market. Với Soros của nó trở thành một phương pháp để xác định khi tâm lý thị trường đang thay đổi, tạo điều kiện để cho ông "đọc suy nghĩ của thị trường."

Aries Lee
Phochungkhoan.vn