May 30, 2013

Tổng quan chiến tranh tiền tệ

(Tác giả: hduongck – Nguồn: vfpress.vn)
(Vfpress.vn) Kể từ khủng hoảng 2008 đến nay , cả thế giới dường như đang cố gắng giải quyết các vấn đề kinh tế bằng một cách đơn giản là in tiền.
20130331_GSFX3
Những đồng tiền mạnh/ yếu như thế nào?
curr 1
Những nước nào sử dụng các công cụ để phá giá đồng tiền?
curr2
Mức độ can thiệp của các nước lớn như thế nào?
curr3
Không phải tất cả các đồng tiền đều mất giá cùng một lúc. Ít nhất một đồng tiền tăng giá nếu các đồng khác giảm giá. Nhưng mọi nước đều cố gắng làm điều đó dẫn đến lãi suất toàn cầu đều ở mức rất thấp kỷ lục và giữ nguyên trong thời gian dài dẫn đến mức độ biến động của lãi suất ( đo bằng standard deviation) rất ít trong các năm gần đây
curr4

Duy trì mức bất cân bằng là một thách thức thât sự. Không chỉ mỗi nước đang quan sát những nước khác đang làm gì mà còn có một rủi ro gia tăng các chính sách bảo hộ. Những tranh cãi về thương mại đang tăng lên. Số vụ tranh cãi ở WTO trong năm 2012 cao nhất trong 10 năm trở lại đây.
curr5
Cuối cùng, việc sử dụng các chính sách vĩ mô và quản lý nguồn vốn đang tạo nên rủi ro dài hạn cho việc phân bổ nguồn lực.

Nguồn : Goldman Sach, Zerohedge

Lý thuyết trò chơi, tính hợp lý và sự thông thái

(Tác giả: VQH – Nguồn: vietnamica.net)
© Op-Economica, 30-9-2010 — Lý thuyết trò chơi từ nửa sau của Thế kỷ XX được gọi là “cuộc cách mạng kinh tế học thầm lặng” diễn ra rất mạnh mẽ, nhưng ít ồn ào. Nó đã bước qua ranh giới thuần túy dành cho các nhà toán học để trở thành lĩnh vực ứng dụng phân tích kinh tế, chính sách dồi dào tiềm năng. Nó nhanh chóng bước sang nhiều lĩnh vực khoa học xã hội liên quan tới hành vi con người, và trở thành một công cụ không gì sánh nổi trong việc cung cấp logic và lập luận phân tích sâu. Có lẽ chỉ có nhánh thống kê toán là có thể sánh với lý thuyết trò chơi về mức độ ứng dụng rộng rãi. Tuy nhiên, trong các môi trường thống kê khó hoạt động do tình trạng  “dữ liệu bẩn” hay rải rác, khó thu thập, phương tiện duy nhất là cứu cánh cho các phân tích khoa học hợp lý, có tính tiên lượng cao (tương đương với thống kê) còn lại chỉ có lý thuyết trò chơi. Đó là lý do mà Op-Economica có nguyên một mục lớn về Lý thuyết trò chơi, mặc dù nó có thể coi là một phần của Math Modeling của Kinh tế học.
Bài đầu tiên này của Op-Economica muốn cung cấp một số thông tin ban đầu nhằm tạo dựng mối quan tâm thích đáng tới lĩnh vực lý thuyết trò chơi, mà sớm hay muộn cũng sẽ phát triển rất mạnh tại Việt Nam, cho dù hiện tại thì chưa.
Vậy lý thuyết trò chơi là gì? Trước tiên có thể nói rằng, đó là hệ thống nghiên cứu về các mô hình toán học đặc tả sự xung đột và hợp tác giữa “các cá nhân ra quyết định một cách khôn ngoan”. (Các bạn còn nhớ ở Việt Nam, khi mà người tiêu dùng bày tỏ sự bức xúc vì hàng hóa kém cỏi về chất lượng cho mức giá tiền phải trả nhiều một cách không tương xứng, đã có vị quan chức gợi ý: Vậy thì “ông” người tiêu dùng phải thông thái thôi. Không rõ ông này có chút hiểu biết nào về game theory không, nhưng khẩu khí đó thì nghe cũng ra vành ra vẻ đượm mùi lý thuyết trò chơi đấy).
Gọi là lý thuyết, bởi vì lĩnh vực này cung cấp các kỹ thuật toán học để phân tích các tình huống trong đó hai cá nhân, hoặc đông hơn nữa, tiến hành ra các quyết định, mà các quyết định đó gây ra ảnh hưởng lên lợi ích của (những) người khác có mặt trong tình huống (trò chơi).

Players in a gamePlayers in a game
Như vậy, lý thuyết trò chơi giúp cung cấp sự thấu hiểu có tính trọng yếu mà các nhà nghiên cứu ở tất cả (xin lưu ý là “tất cả”) các nhánh của các lĩnh vực khoa học xã hội rất cần để nhận biết các vấn đề hành vi con người. Các nhà kinh doanh, chính trị gia, chiến lược quân sự lại còn càng cần hơn, vì họ phải xử lý quan hệ đa chiều phức tạp giữa các đám đông thuộc cấp, xã hội, đối tác-đối tượng, v.v.. Tính chất “nghiêm trọng” này rõ ràng tương phản với cái tên lý thuyết “trò chơi” mà thoạt nghe dễ dẫn đến hiểu lầm là nghiên cứu về cái gì đó có tính chất giải trí, hay là như phong trào Võ Lâm Truyền Kỳ đang sôi nổi vài năm gần đây. Tuyệt nhiên cái tên lý thuyết trò chơi chỉ phản ánh cái nguồn gốc sơ khởi ban đầu – nguồn cảm hứng từ cờ bạc – của lĩnh vực toán học quan trọng này.
Nếu để diễn tả tốt hơn bản chất khoa học nghiêm chỉnh, đứng đắn của lý thuyết trò chơi, có thể gọi tên là “lý thuyết về phân tích các xung đột” hoặc “lý thuyết quá trình ra quyết định có tương tác”, hay cái gì đó tương tự.
Lý thuyết trò chơi có thể hiện diện từ rất lâu rồi, lẩn khuất trong các lĩnh vực xã hội, quân sự, cho dù không mang cái tên hiện đại như ngày hôm nay. Những nghiên cứu lớn đã xuất hiện từ thế kỷ XIX, cùng với sự phát triển của bộ môn xác suất, với cái tên như Bertrand. Tuy vậy, lý thuyết trò chơi hiện đại – với dáng dấp như một ngành khoa học đã “đủ lông cánh” hôm nay – coi như được đánh dấu từ thế kỷ XX, với những tác phẩm trứ danh của Zermelo (1913), Emile Borel (“La théorie du Jeu et les équations intégrales à noyau symétrique,” Comptes Rendus de l’Académie des Sciences, Vol. 173: 1304-1308, 1921), Von Neumann (1928), và cuốn sách rất ấn tượng của Von Neumann và Morgenstern (Theory of Games and Economic Behavior, ấn bản năm 1944).
Lý thuyết trò chơi hiện đại nợ nần nhiều đóng góp rất lớn của Princeton, và rất nhiều đóng góp ban đầu được công bố trong khoảng thời gian Thế chiến Đệ Nhị. Nơi sinh ra những đóng góp lớn của lý thuyết trò chơi, cũng là nơi nhiều vĩ nhân của ngành vật lý sản sinh ra những đóng góp tạo ra bước tiến khổng lồ của khoa học vật lý nhân loại. Sự gần gũi về mặt không gian này, theo các nhà nghiên cứu về lịch sử phát triển tri thức nhân loại, xét ở góc nhìn rộng rãi, không hề tình cờ hay ngẫu nhiên. Và như vậy, nó là kết cục tất yếu. Phần lớn sự hấp dẫn, cuốn hút và những gì chứa đựng hứa hẹn lớn lao của lý thuyết trò chơi là kết quả của vị trí trung của lý thuyết trò chơi, với tư cách nền tảng toán học và logic cho tất cả các ngành khoa học xã hội. Trong thời kỳ đầu thế kỷ XX này, những tiến bộ lớn diễn ra trong tất cả các nhánh của các ngành khoa học vật lý đã sản sinh ra nghịch lý và sự xung đột tiềm tàng về vũ khí hạt nhân, và điều này đã trực tiếp đe dọa sự tồn tại của toàn bộ nền văn minh nhân loại.
Tiến bộ khoa học vật chất có vẻ như giúp con người biết cách thiết kế các hệ thống vật lý để khai thác vật liệu tạo năng lượng phóng xạ, nhưng lại không đủ tri thức để tạo ra các hệ thống xã hội có thể giúp điều hòa hành vi của con người trong bối cảnh xung khắc tới mức sẵn sàng tiêu diệt nhau. Yêu cầu bức bách dẫn tới sự kỳ vọng lớn lao rằng ngành khoa học xã hội cũng sẽ đạt được những bước tiến đủ lớn, có tính căn nguyên và đảm bảo học thuật, có khả năng cung cấp nhận thức sâu sắc tương xứng với những tiến bộ khoa học vật chất, đặc biệt là vật lý lý thuyết và ứng dụng. Sự hy vọng lớn lao này là động lực mạnh mẽ khiến rất nhiều nhà toán học và khoa học xã hội miệt mài nghiên cứu thúc đẩy lý thuyết trò chơi trong nửa còn lại của Thế kỷ XX.
Cuối cùng thì mong mỏi đó cũng được đền đáp. Bằng chứng rất thực về sức mạnh của lý thuyết trò chơi có thể đặc trưng bởi quá trình mắn đẻ các ứng dụng quan trọng của nó trong kinh tế học và đời sống kinh tế toàn cầu.
Về bản chất công việc, các nhà nghiên cứu lý thuyết trò chơi thực ra bỏ công sức nhằm hiểu được bản chất của xung đột và hợp tác, thông qua việc tìm hiểu, xây dựng các mô hình định lượng, kèm theo đó là các ví dụ mang tính chất ước đoán về các tình huống, hành vi của cuộc sống. Các ví dụ thì như chúng ta vẫn thấy, thường phải được đơn giản hóa đi (một cách phi thực tế), nhằm cô lập một nhóm vấn đề phức tạp về một số ít vấn đề rất căn bản của bản chất xung đột hay hợp tác. Tính đơn giản này giúp giải quyết vấn đề được thuận lợi hơn, trong khi vẫn có thể duy trì tính tổng quát cho cả các trường hợp vô cùng rắc rối của đời sống thực. Điều này cũng là chuyện thường thấy trong rất nhiều ngành khoa học khác nữa: Gạt bỏ các chi tiết dù là có thực, nhưng không quá quan trọng, để tập trung cho một số ít các câu hỏi lớn, không thể bỏ qua.
Khái niệm “trò chơi” ở đây chỉ là quy ước về mặt ngôn ngữ, nhằm ám chỉ bất kỳ tình huống xã hội nào có liên quan tới ít nhất 2 người. Do cách gọi, các cá nhân liên quan tới một “trò chơi” thì đều được gọi là “người chơi”. (Mặc dù có thể họ chẳng chơi gì cả, trong tình huống lý thuyết đang xét. Nói chính xác là họ chỉ ra các quyết định, thậm chí rất nghiêm túc và bằng trí khôn chuẩn mực, chứ không có chơi bời gì hết.) Điều kiện để nghiên cứu là hai giả thiết: Thứ nhất, người chơi có tính hợp lý. Thứ hai, người chơi thông thái (sử dụng trí khôn để ra quyết định). Để không còn chút mù mờ nào về hai giả thiết nền tảng này, chúng ta sẽ cần làm rõ “tính hợp lý” và “tính khôn ngoan” ở dưới đây.
Về tính hợp lý. Một người ra quyết định được gọi là “hợp lý” nếu như người đó nhất quán trong việc ra các quyết định để theo đuổi mục tiêu của mình. Trong lý thuyết trò chơi, chúng ta giả định rằng mục tiêu của mỗi người chơi là tối đa hóa giá trị kỳ vọng của lợi ích thu được; đôi lúc giá trị này được đo thông qua một đại lượng gọi là “độ thỏa dụng” (utility). Dĩ nhiên, ta thì gọi là “giả định về tính hợp lý của người chơi”, nhưng nó có căn cứ. Trên thực tế, nhà toán vĩ đại  Bernoulli năm 1738 đã đề xuất quan điểm rằng người chơi hợp lý cần biết cách ra quyết định để tối đa hóa lợi ích thỏa dụng kỳ vọng. Với lý thuyết hiện đại, Von Neumann và Morgenstern năm 1947 đưa ra “định lý tối đa hóa thỏa dụng kỳ vọng” chứng minh rằng, người chơi sẽ biết cách gán các giá trị thỏa dụng cho các quyết định, và sau đó sẽ tìm ra lựa chọn để tối đa hóa độ thỏa dụng kỳ vọng của mình.
Hành vi nhất quán tối đa hóa thỏa dụng còn được nhận biết từ các mô hình “chọn lọc tiến hóa”. Trong một vũ trụ mà sự hỗn loạn tăng lên là một quy luật vật lý, các cơ quan phức tạp (như cơ thể con người, hay tổ chức xã hội) chỉ có thể tồn tại nếu biết cách điều chỉnh hành vi, theo hướng làm tăng xác suất sống sót và duy trì sinh sản (tái tạo các thế hệ). Như thế, theo cách nhìn của chọn lọc tiến hóa, các cá nhân có xu hướng tối đa hóa giá trị kỳ vọng của đại lượng “sống sót” hoặc “thích nghi sinh sản”.
Thực ra, tối đa hóa lợi ích của độ thỏa dụng kỳ vọng không nhất thiết đồng nghĩa với tối đa hóa giá trị tiền tệ kỳ vọng, vì các giá trị thỏa dụng không nhất thiết chỉ được quy đổi ra tiền. Một cá nhân không thích mạo hiểm nhận được nhiều giá trị biên thỏa dụng hơn từ một đô-la thu nhập tăng lên của anh/chị ta khi còn nghèo, hơn một đô-la khi anh/chị ta đã giàu. Cái này tựa như người Việt vẫn nói “Một miếng khi đói bằng một gói khi no” cho dù thực tế thì miếng vẫn chỉ là miếng, và gói thì to hơn hẳn, vượt trội, và rất đáng phấn đấu để có một gói!
Điều này dẫn đến gợi ý rằng, biết đâu đấy, độ thỏa dụng lại chẳng có dáng điệu của một hàm phi tuyến của giá trị tiền tệ. Đây là một gợi ý rất hữu ích với các nhà kinh tế. Hãy xét ví dụ sau. Một mô hình rất hay được sử dụng trong nghiên cứu ra quyết định phát biểu rằng, lợi ích thỏa dụng của một người ra quyết định  (người chơi) từ việc thu về được x đô-la sẽ là hàm thỏa dụng có dạng u(x)=1-e^{-cx}. Trong biểu thức này, c đại diện cho một tham số gọi là “chỉ số mức độ không ưa mạo hiểm” (Pratt, J.W. 1964. “Risk aversion in the small and in the large,” Econometrica, 32: 122-136.)
Trong bối cảnh bất trắc, mức thỏa dụng kỳ vọng có thể được định nghĩa và tính toán nếu các sự kiện bất trắc có liên quan được gán cho các xác suất.  Còn trong những trường hợp những phép gán xác suất khách quan khó có thể thực hiện, thì Ramsey (1926) và Savage (1954) vẫn cho rằng người chơi có thể gán các xác suất “chủ quan” cho các sự kiện, rồi từ đó tính ra được những giá trị kỳ vọng.
Tuy thế, trong các tình huống có từ 2 người chơi trở lên, xuất hiện những khó khăn phức tạp trong việc xác định những con số xác suất chủ quan có thể dùng để gán cho các sự kiện. Chẳng hạn, giả sử một trong những yếu tố không chắc chắn với Người chơi 1 là hành động của Người chơi 2. Để đánh giá xác suất cho mỗi hành động trong các lựa chọn của Người chơi 2, Người chơi 1 cần phải biết hành vi ra quyết định của Người chơi 2, vì thế NC 1 giả sử mình ở vào vị trí của NC 2. Trong quá trình “thí nghiệm tư duy” đó, NC 1 nhận ra rằng NC 2 đang cố gắng giải một bài toán ra quyết định một cách “hợp lý”, và để làm việc đó, chính NC 2 đang cần phải đánh giá các xác suất mà NC 1 sẽ gán cho các sự kiện, rồi dựa vào đó ra quyết định. Như vậy, nghiệm hợp lý đối với mỗi bài toán ra quyết định của mỗi cá nhân lại phụ thuộc vào nghiệm của NC khác trong trò chơi. Tức là nếu không biết nghiệm của NC kia, thì cũng không làm sao tìm ra nghiệm của chính mình. Theo cách hiểu này, khi các tay chơi hợp lý tương tác với nhau trong trò chơi, các bài toán riêng rẽ của họ phải được giải quyết cùng một lúc, giống như chúng ta vẫn bắt gặp trong các hệ phương trình tuyến tính ở môn đại số PTTH. Quá trình phân tích này là đối tượng nghiên cứu của lý thuyết trò chơi.
Ở khía cạnh thứ hai: Tính thông thái, ta thấy như sau. Với các nhà nghiên cứu xã hội, một NC được coi là thông minh, sử dụng trí khôn trong khi “chơi” nếu như anh/chị ta biết mọi thứ mà chúng ta biết về bản thân trò chơi, và anh/chị ấy sẽ có thể ra quyết định và suy diễn về các tình huống giống như chúng ta có thể. Vì thế, nếu chúng ta phát triển một lý thuyết mô tả hành vi của những NC thông thái – và chúng ta tin rằng lý thuyết này có cơ sở để tin cậy được – thì chúng ta cần phải giả định rằng mỗi NC trong trò chơi đang xét đều nhận thức rõ được lý thuyết thông thái, cũng như những gì có thể tiên lượng khi mang nó ra sử dụng.
Có thể tách rời hai tính chất bắt buộc của trò chơi này để phân tích kinh tế không? Thực tế là với các phân tích khác, không sử dụng lý thuyết trò chơi, thì vẫn được. Lấy ví dụ gần gũi là lý thuyết giá của kinh tế học. Nghiên cứu lý thuyết có thể chỉ giả định “tính hợp lý”, nhưng không cần giả định “tính thông thái”. Trong các phân tích về điểm cân bằng tổng quát, mô hình xem xét giá, mỗi cá nhân được giả định…
———–&&———-

Trò chơi lợi hại

(Nguồn: cafef.vn)
Vài năm gần đây, lý thuyết trò chơi đã “tiến bộ đáng kể” khi mà rõ ràng thiệt hại sẽ rất nặng nề nếu phân tích không chính xác.
Tóm tắt:
- GS. Bruce Bueno de Mesquita sử dụng “lý thuyết trò chơi” để dự đoán diễn tiến các sự kiện chính trị trên toàn cầu với độ chính xác không ngờ.
- GS. Paul Milgrom từ ĐH Stanford giúp Time Warners và Comcast tiết kiệm 1,2 tỷ đôla bằng phần mềm phân tích hành vi các bên tham gia đấu giá.
- Chính phủ Israel “cố tỏ ra mình thông minh” và mất trắng 24 triệu đôla trong một vụ đấu giá nhà máy lọc dầu.
Tự nhận mình chẳng mấy thông thạo về chính trị nhưng GS. Bruce Bueno de Mesquita từ ĐH New York lại đưa ra được những dự đoán chính xác đến không ngờ.
Vào tháng 05/2010, ông dự đoán Tổng thống Ai Cập Hosni Mubarak sẽ mất quyền lực trong vòng một năm. 9 tháng sau đó, ông Mubarak bỏ chạy khỏi Cairo giữa cảnh biểu tình tràn ngập phố phường.
Tháng 02/2008, ông Bueno de Mesquita dự đoán Tổng thống Pakistan Pervez Musharraf sẽ bị lật đổ trước cuối mùa hè. Ông Musharraf ra đi trước tháng 9. 5 năm trước cái chết của lãnh tụ Iran Ayatollah Khomeini năm 1989, ông Bueno de Mesquita tiên đoán chính xác tên của người kế vị.
Kể từ đó đến nay, với tư cách nhà tư vấn cho cả các chính phủ nước ngoài lẫn Bộ Ngoại giao, Lầu Năm góc và các cơ quan tình báo Hoa Kỳ, ông đã đưa ra hàng trăm dự báo kiểu như thế. Vậy bí quyết thành công của ông nằm ở đâu? “Tôi chẳng biết gì cả, là “trò chơi” đấy,” ông đáp.
“Trò chơi” lợi hại
“Trò chơi” của ông Bueno de Mesquita là một mô hình máy tính ông phát triển dựa trên một nhánh của toán học có tên gọi “lý thuyết trò chơi” (các nhà kinh tế cũng thường sử dụng lý thuyết này).
Mô hình này dự đoán các sự kiện sẽ diễn tiến ra sao nếu cá nhân và tổ chức hành động theo những gì họ cho là có lợi nhất với mình. Các giá trị số học sẽ đại diện cho mục tiêu, động lực và sức ảnh hưởng của “các người chơi” (gồm nhà đàm phán, lãnh đạo doanh nghiệp, đảng chính trị và đủ loại tổ chức, trong một số trường hợp, là cả quan chức và những người ủng hộ các tổ chức này nữa).
Mô hình máy tính sau đó sẽ cân nhắc các lựa chọn của nhiều “người chơi” khác nhau, xác định xem họ có khả năng sẽ làm gì, đánh giá khả năng ảnh hưởng của họ và cuối cùng là dự đoán xem một sự kiện sẽ diễn tiến tiếp ra sao.
Ví dụ như ảnh hưởng của ông Mubarak giảm đi khi Mỹ cắt giảm viện trợ khiến ông không còn phủ dụ được đám bằng hữu trong giới quân đội và an ninh được nữa. Dân chúng vốn đang thất nghiệp khi ấy sẽ nhận ra rằng giới quan chức bất mãn sẽ không còn sẵn sàng dùng vũ lực đàn áp các cuộc biểu tình chống lại nhà độc tài đã hết thời.
Công ty Mesquita & Roundell của ông Bueno de Mesquita chỉ là một trong nhiều công ty tư vấn cung cấp các mô hình máy tính như thế cho chính phủ, doanh nghiệp và các hãng luật. Phần lớn các tư vấn đều mang tính “chính trị”, tức làm thế nào để “qua mặt” công tố viên, tác động tới bồi thẩm đoàn, dành sự ủng hộ của cổ đông hay tranh thủ cử tri nhờ thay đổi liên minh chính trị và thỏa hiệp về chính sách.
Nhưng vì lý do chính trị nên thu thập dữ liệu chuẩn về tất cả các người chơi là điều rất khó khăn. Công ty Hà Lan Reinier van Oosten of Decide mô hình hóa các thỏa thuận chính trị và quá trình “mua phiếu” tại các tổ chức của Liên minh Châu Âu. Họ lưu ý rằng các dự doán đều sai lệch khi người ta bất ngờ bị tác động bởi “những cảm xúc phi duy lý” như thù hận thay vì theo đuổi những gì được cho là có lợi nhất cho mình.
Tuy vậy, khi kiếm tiền là ưu tiên chính thì xác định động lực của con người lại dễ dàng hơn nhiều. Vì thế, mô hình hóa hành vi sử dụng lý thuyết trò chơi đặc biệt hữu dụng khi ứng dụng trong kinh tế học.
“Trò chơi” tiết kiệm bạc tỷ (đôla)
GS Robert Aumann từ ĐH Hebrew Jerusalem kể rằng thành công nhất phải kể đến mô hình hóa trong đấu giá. Năm 2005 ông đã nhận giải Nobel cho công trình của mình về lý thuyết trò chơi trong kinh tế học.
Biết chính xác nên chào giá bao nhiêu là điều cực kỳ có lợi. Các công ty tư vấn giúp khách hàng thiết kế các phiên đấu giá có lợi hay thắng đấu giá ít tốn kém đang mọc lên như nấm.
Năm 2006, trước phiên đấu giá trực tuyến giấy phép các băng tần radio của Ủy ban truyền thông liên bang Hoa Kỳ, nhà tư vấn và là GS ĐH Stanford Paul Milgrom đã điều chỉnh lại phần mềm lý thuyết trò chơi của mình để giúp một nhóm các nhà thầu. Kết quả, họ đã dành chiến thắng.
Khi cuộc đấu giá bắt đầu, phần mềm của TS. Milgrom theo dõi giá đấu của các đối thủ cạnh tranh để ước tính ngân sách họ dành cho 1.132 giấy phép đang được đấu giá. Quan trọng nhất là phần mềm trên ước tính của giá trị của từng giấy phép đối với mỗi bên dự đấu giá và quyết định xem các giấy phép nào đang bị định giá quá cao.
Nhờ thế mà các khách hàng của TS. Milgrom dành được các giấy phép nhỏ và ít tốn kém hơn. Hai khách hàng của ông là Time Warner và Comcast mất số tiền ít hơn 1/3 so với các đối thủ cạnh tranh cho các dải tần tương đương và tiết kiệm được gần 1,2 tỷ đôla.
Đừng chết vì thiếu hiểu biết
Vài năm gần đây, lý thuyết trò chơi đã “tiến bộ đáng kể” khi mà rõ ràng thiệt hại sẽ rất nặng nề nếu phân tích không chính xác, Sergiu Hart, một đồng nghiệp của TS. Aumann tại ĐH Hebrew, nói.
Ví dụ như vài năm trước chính phủ Israel “cải tiến” cách thức đấu giá một cơ sở lọc dầu. Để khuyến khích các bên trả giá cao, chính phủ hứa thưởng 12 triệu đôla cho bên nào trả giá cao thứ hai.
Một sai lầm đắt giá! Một phân tích cho thấy nếu không có lời hứa trên, giá đấu cao nhất đáng lẽ đã cao hơn 12 triệu đôla. Các bên tham gia trả giá thấp vì người thua có khi lại ăn đậm tiền thưởng. Cộng khoản trên với tiền thưởng, số lỗ của chính phủ lên tới khoảng 24 triệu đôla.
Kết luận đưa ra là nếu không có phần mềm mô hình hóa, “đừng tỏ ra cái gì mình cũng biết”, “nhà mô hình hóa” (modeller) cao cấp tại công ty tư vấn Charles River Associates tại Boston, nói. Công ty trên thiết kế phần mềm lý thuyết trò chơi mô phỏng các phiên đấu giá và kế hoạch thâu tóm sát nhập doanh nghiệp.
Không phải lúc nào cũng cần tới phần mềm. Ví dụ như một sinh viên tại ĐH Hebrew đã chứng minh được chính phủ Israel đã lỗ 24 triệu đôla chỉ bằng giấy và bút chì. Tuy vậy, theo các giáo sư thì anh này mất tới hai ngày. Dùng phần mềm đương nhiên là nhanh hơn nhiều.
Nhưng muốn thu thập và xử lý dữ liệu cần thiết có thể sẽ rất tốn kém. Công ty tư vấn Decide của Hà Lan thường thu phí 20.000 đến 70.000 euro để giải quyết một vấn đề bằng phần mềm DCSim của mình vì trước hết họ phải tiến hành những cuộc phỏng vấn dài dằng dặc với giới chuyên gia. Các khách hàng của công ty bao gồm các cơ quan chính phủ tại Hà Lan và nước ngoài cũng như nhiều công ty lớn như IMB và ngân hàng ABN AMRO.
Minh Tuấn
Theo TTVN
————–&&—————
(Nguồn: cafef.vn)
Tác dụng của phần mềm lý thuyết trò chơi còn vượt ra khỏi phạm vi kinh tế học.
Tóm tắt:
- Mỹ sử dụng phần mềm lý thuyết trò chơi để biết Bin Laden sống ở đâu hay có nên điều tàu sân bay đến Bắc Triều Tiên không.
- Phần mềm này còn có thể đóng vai trò trung gian trong các cuộc đàm phán.
- Một ngày nào đó, hai bên tham chiến có thể nhập dữ liệu vào phần mềm, click chuột và biết ngay ai thắng ai thua, đỡ phải đổ máu!
Công ty PA Consulting của Anh thiết kế các phần mềm chuyên biệt để giúp khách hàng giải quyết các vấn đề cụ thể trong nhiều lĩnh vực khác nhau như dược phẩm, năng lượng tái tạo và sản xuất các show truyền hình. Các cơ quan thuộc chính phủ Anh đã yêu cầu PA Consulting xây dựng các mô hình kiểm nghiệm các bộ luật và pháp lệnh.
Một ví dụ đơn giản: có hai người bán kem khôn ngoan chia sẻ một bãi biển dài, họ sẽ đều dựng quán tại điểm chính giữa. Theo “modeller” Stephen Black từ trụ sở của công ty tại London, họ làm vậy để gần với nhiều khách hàng nhất. Nhưng chính họ cũng ngăn không cho người kia chuyển sang bán ở vị trí khác. Thế nên các khách hàng ở hai đầu bãi biển sẽ rất khó mua được kem.
Tuy vậy, nếu có thêm một người bán nữa, điểm cân bằng tĩnh trên sẽ bị phá vỡ kéo theo hàng loạt động thái như thay đổi địa điểm bán hàng và điều chỉnh giá. Sử dụng mô hình hóa khiến các khách hàng doanh nghiệp sẵn sàng thi hành các chiến lược dài hạn hơn, TS. Black nói.
Bin Laden trốn ở đâu? Để hỏi “mô hình” đi …
Tác dụng của phần mềm lý thuyết trò chơi còn vượt ra khỏi phạm vi kinh tế học. Năm 2007, quân đội Mỹ cung cấp cho ông Bueno de Mesquita thông tin mật để chạy được mô hình đánh giá tác động chính trị của việc đưa một tàu sân bay tới gần Bắc Triều Tiên (ông từ chối tiết lộ kết quả).
Phần mềm lý thuyết trò chơi còn giúp xác định nơi ẩn náu của bọn khủng bố. Để chạy được mô hình, Guillermo Owen từ trường Cao học Hải quân tại Monterey, California đã sử dụng tin tức tình báo từ Không quân Hoa Kỳ để ước tính trên thang điểm 100 tầm quan trọng của những thứ mà một kẻ bị truy nã thích (ví dụ như cá) hay những thứ hắn ưu tiên (nằm im hay tuyển mộ những kẻ đánh bom liều chết). Những yếu tố ấy quyết định việc tên khủng bố ẩn náu tại đâu và như thế nào. Phần mềm lý thuyết trò chơi đã đóng một vai trò quan trọng trong việc lần ra tung tích của Osama bin Laden tại Abbottabad, Pakistan, ông Owen nói.
Phần mềm hòa bình
Những tiến bộ ấy sẽ đi tới đâu? Bên cạnh việc chạy đua xây dựng những phần mềm ngày càng tinh vi hơn, các “modeller” còn nỗ lực phát triển phần mềm có thể hỗ trợ đàm phán và hòa giải.
Hai thập kỷ trước ông Clara Ponsatí, một học giả người Tây Ban Nha, đã đưa ra một ý kiến đầy thông minh khi suy nghĩ về tiến trình đàm phán hòa bình đầy gian khổ Israel-Palestine.
Nhà đàm phán nào cũng biết, bên nào ngửa bài trước xem mình sẵn sàng hy sinh cái gì sẽ mất rất nhiều lợi thế đàm phán. Mất đi lá bài tẩy trong tay, nếu gặp phải một đối thủ thông minh, họ sẽ bị dồn vào thế chân tường. Nhưng nếu cả hai bên đều không chịu nhượng bộ, đàm phán sẽ bế tắc hoặc đổ vỡ. Trong một nghiên cứu xuất bản năm 1992, TS. Ponsatí đề xuất việc sử dụng phần mềm để phá thế bế tắc kể trên.
Những cuộc đàm phán cam go có thể nhờ các nhà trung gian trung lập mà có tiến bộ, đặc biệt là nếu nhà trung gian này được cả hai phía tiết lộ xem họ có thể nhượng bộ đến đâu. TS. Ponsatí cho rằng nếu không tin một nhà trung gian bằng xương bằng thịt, hoặc có thể chẳng có nhà trung gian nào cả, một máy tính có thể đảm nhận công việc này.
Hai bên sẽ nhập vào phần mềm các thông tin tuyệt mật và đề xuất một thỏa thuận. TS Ponsatí (nay là Chủ tịch Viện Phân tích kinh tế, ĐH tự trị Barcelona) nói những “cỗ máy trung gian” như thế có thể “bôi trơn” quá trình thương thảo nhờ biết được các thông tin mà các bên sẽ dấu kín trước đối thủ hoặc một nhà trung gian là con người.
Một phần mềm như thế đang dần hiện hữu. Nhà lý thuyết trò chơi Barry O’Neill tại ĐH California, Los Angeles nói nó có thể hỗ trợ giải quyết ly dị. Vợ và chồng mỗi bên đều được cho một số điểm nhất định và phải phân phối số điểm đó vào những tài sản mà mình muốn.
Ví dụ như vợ sẽ cho phần mềm biết mình đánh giá chiếc xe hơi là 15 điểm. Nếu chồng cho rằng giá trị của chiếc xe là 10 điểm, sau này ông ta không thể nói rằng mình đáng phải nhận được nhiều hơn vì đã mất chiếc xe hơi.
Gói gọn chuyện binh đao trong ổ cứng máy tính?
Các bên liên quan phải chắc chắn được rằng công nghệ trung gian ấy hoàn toàn trung lập. Với các thỏa thuận lớn, các công ty kiểm toán giám sát chặt chẽ việc phát triển và sử dụng các phần mềm loại này để đảm bảo không bên nào có thể bí mật thu thập thông tin về bên kia, nhà lý thuyết trò chơi Benny Moldovanu từ ĐH Bonn nói.
Ông đang tư vấn cho các công ty thiết kế phần mềm đàm phán sử dụng trong thị trường điện bán buôn và các kế hoạch tư nhân hóa. Ông tin tưởng phương pháp này sẽ được áp dụng cho các thị trường dịch vụ công khác như nước sạch.
Liệu trung gian sử dụng phần mềm có thể đi từ hôn nhân gia đình tới các tranh chấp chính trị – quân sự? Các nhà lý thuyết trò chơi cho rằng đó chỉ là những biến thể của cùng một vấn đề và đã phát triển một mô hình lý thuyết rất thú vị về chiến tranh.
“Nguyên lý hội tụ” cho rằng về bản chất xung đột vũ trang chính là hoạt động thu thập thông tin. Các bên tham chiến nổ súng để xác định sức mạnh quân sự và giải pháp chính trị của địch thủ. Khi những đánh giá chính xác và tương đồng của các bên đều đã “hội tụ” có thể dẫn tới việc đầu hàng hay ký hiệp ước hòa bình.
Mỗi bên tham chiến đều có động cơ để gây thiệt hại nặng cho đối phương vì điều đó thể hiện họ đánh giá rất cao chiến thắng. Nhưng một mô hình như thế lại chẳng liên quan gì tới bản chất con người. Một số nhà lý thuyết trò chơi cho rằng mô hình ấy có thể được chỉnh sửa lại để đàm phán ngoại giao có thể thay thế cho xung đột vũ trang.
Ngày nay phần mềm lý thuyết trò chơi vẫn chưa đủ tiến bộ để làm trung gian cho các nước tham chiến. Nhưng một ngày nào đó, các nước đang trên bờ vực chiến tranh có thể sử dụng chúng để trao đổi thông tin mà không phải đánh giết lẫn nhau.
Họ có thể biết chiến tranh sẽ dẫn tới đâu, bỏ qua chuyện binh lửa và tiến tới ngay một thỏa thuận, ông Bueno de Mesquita nói. Có lẽ là thật quá lạc quan, nhưng riêng về tương lai, thì ông ấy là chuyên gia cơ mà!
Minh Tuấn
Theo TTVN
—————-&&—————–

Các trò chơi khỉ

(Tác giả: Nguyễn Tiến Dũng – Nguồn: zung.zetamu.net)
Lý thuyết trò chơi là một lý thuyết (toán ứng dụng) rất thú vị, có thể giải thích được rất nhiều hiện tượng trong xã hội. Ví dụ, ở một nơi dễ tắc đường như New York, có lần người ta phải đóng bớt 1 con đường để sửa, nhưng việc đóng này không những không làm cho giao thông tắc nghẽn thêm, mà ngược lại giao thông lại trôi chảy hơn ! (Ngược lại, nếu chọn lựa đường để xây thêm không cẩn thận, thì sự thay đổi lựa chọn đường đi của các xe có thể dẫn đến phản tác dụng, không làm thông thoáng thêm mà lại làm tắc đường).
Một trong những trò chơi đơn giản nhất, gọi là trò chơi khỉ, đã đủ giải thích rất nhiều điều. Trò này hay được gọi là “prisoner’s dilemma”, nhưng cách gọi “trò khỉ” nghe hay hơn. Trò này như sau (kể lại theo Jerome Renault, một đồng nghiệp của tôi, chuyên gia về lý thuyết trò chơi):
Có hai con khỉ Ba Bị và Tư Ti. Con Ba Bị có 1 quả chuối, con Tư Ti có 1 quả táo. Con Ba Bị thích ăn táo hơn chuối, con Tư Ti thì thích chuối hơn táo. Nếu được ăn cả hai quả thì là thích nhất. Không con nào chịu nhường con nào cái gì. Kết quả là con Ba Bi ăn chuối và con Tư Ti ăn táo, là những thứ chúng không thích bằng thứ kia.
Hệ quả 1: hai con khỉ đều khôn lỏi, thì đạt kết quả tồi cho cả hai.
Hệ quả 2: để thoát khỏi trò chơi khỉ, phải thay đổi luật chơi. Đừng chấp nhận chơi các trò chơi khỉ!
Trong xã hội, đầy dẫy trò chơi khỉ. Ví dụ như anh bán phở đầu độc anh bán rau bằng nước phở rởm, anh bán rau đầu độc lại anh bán phở bằng rau phu thuốc, v.v. Để thoát khỏi các trò đó, cần thay đổi luật chơi. (Nhưng ai sẽ là người thay đổi luật chơi, nếu các trí thức cũng đâm đầu vào các trò khỉ ?!)
Quay lại lý thuyết trò chơi: các bạn học toán, cũng như học các ngành khác, rất nên tìm hiểu môn này! Đây là môn do các nhà toán học nghĩ ra, nhưng lại được dạy ở các khoa kinh tế, chính trị mà không được dạy ở khoa toán.
————————————
Phần 2
Một bức tranh thay cho ngàn chữ viết (bấm vào tranh để phóng to):
Trong trò chơi khỉ này, ổn định đạt được ở điểm cuối là một ổn định Nash tồi cho các con khỉ. (Có chuối mà không con nào dám trèo lên lấy ăn, vì cứ trèo lên lấy thì bị các con khác lôi xuống đánh, tuy không con nào hiểu tại sao lại phải đánh như vậy, và nếu không đánh thì có thể chia nhau chuối mà ăn)
Câu hỏi: làm sao khỉ thoát được ra khỏi tình huống đó ?
————————————
Phần 3
Việt Nam có câu “há miệng mắc quai”. Nhưng nói theo ngôn ngữ của khỉ thì sẽ là “tham chuối mắc tay”.
Có 1 cách bẫy khỉ rất đơn giản mà hiệu nghiệm: người ta chỉ cần đục một cái lỗ (ở thân cây chẳng hạn) vừa đủ to để khỉ có thể cho tay vào. Trong đó đặt quả chuối. Khỉ sẽ đến thò tay vào lấy chuối. Nhưng khi tay khỉ cầm quả chuối thì không rút ra khỏi lỗ được nữa vì vướng. Để rút ra được lại khỏi lỗ thì cần nhả quả chuối ra. Nhưng vì khỉ là khỉ, nên thà chịu mắc ở đó còn hơn là phải nhả quả chuối !

Thế còn bạn, bạn đang bị mắc tay quả chuối nào ? :D
—————-&&—————-

Tất cả mô hình phân tích tài chính

Theo http://www.exinfm.com/free_spreadsheets.html

 Free Excel Spreadsheets
  1. Capital Budgeting Analysis (xls) - Basic program for doing capital budgeting analysis with inclusion of opportunity costs, working capital requirements, etc. - Aswath Damodaran
  2. Rating Calculation (xls) - Estimates a rating and cost of debt based on the coverage of debt by an organization - Aswath Damodaran
  3. LBO Valuation (xls) - Analyzes the value of equity in a leverage buyout (LBO) - Aswath Damodaran
  4. Synergy (xls) - Estimates the value of synergy in a merger and acquisition - Aswath Damodaran
  5. Valuation Models (xls) - Rough calculation for choosing the correct valuation model - Aswath Damodaran
  6. Risk Premium (xls) - Calculates the implied risk premium in a market. (uses macro's) - Aswath Damodaran
  7. FCFE Valuation 1 (xls) - Free Cash Flow to Equity (FCFE) Valuation Model for organizations with stable growth rates - Aswath Damodaran
  8. FCFE Valuation 2 (xls) - Free Cash Flow to Equity (FCFE) Valuation Model for organizations with two periods of growth, high growth initially and then stable growth - Aswath Damodaran
  9. FCFE Valuation 3 (xls) - Free Cash Flow to Equity (FCFE) Valuation Model for organizations with three stages of growth, high growth initially, decline in growth, and then stable growth - Aswath Damodaran
  10. FCFF Valuation 1 (xls) - Free Cash Flow to Firm (FCFF) Valuation Model for organizations with stable growth rates - Aswath Damodaran
  11. FCFF Valuation 2 (xls) - Free Cash Flow to Firm (FCFF) Valuation Model for organizations with two periods of growth, high growth initially and then stable growth - Aswath Damodaran
  12. Time Value (xls) - Introduction to time value concepts, such as present value, internal rate of return, etc.
  13. Lease or Buy a Car (xls) - Basic spreadsheet for deciding to buy or lease a car.
  14. NPV & IRR (xls) - Explains Internal Rate of Return, compares projects, etc.
  15. Real Rates (xls) - Demonstrates inflation and real rates of return.
  16. Template (xls) - Template spreadsheet for project evaluation & capital budgeting.
  17. Free Cash Flow (xls) - Cash flow worksheets - subsidized and unsubsidized.
  18. Capital Structure (xls) - Spreadsheet for calculating optimal capital structures using different percents of debt.
  19. WACC (xls) - Calculation of Weighted Average Cost of Capital using beta's for equity.
  20. Statements (xls) - Generate a set of financial statements using two input sheets - operational data and financial data.
  21. Bond Valuation (zip) - Calculates the value or price of a 25 year bond with semi-annual interest payments.
  22. Buyout (zip) - Analyzes the effects of combining two companies.
  23. Cash Flow Valuation (zip) - Walks through a valuation of cash flows under three models- capital cash flows, equity cash flows, and free cash flows.
  24. Financial Projections (zip) - Spreadsheet model for generating projected financials along with valuation based on WACC.
  25. Leverage (zip) - Shows the effects on Net Income from using debt (leverage).
  26. Ratio Calculator (zip) - Calculates a standard set of ratios based on input of financial data.
  27. Stock Value (zip) - Calculates expected return on stock and value based on no growth, growth, and variable growth.
  28. CFROI (xls) - Simplified Cash Flow Return on Investment Model.
  29. Financial Charting (zip) - Add on tool for Excel 97, consists of 6 files.
  30. Risk Analysis (exe) - Analysis and simulation add on for excel, self extracting exe file.
  31. Black Scholes Option Pricing (zip) - Excel add on for the pricing of options.
  32. Cash Flow Matrix - Basic cash flow model.
  33. Business Financial Analysis Template for start-up businesses from Small Business Technology Center
  34. Forex (zip) - Foreign market exchange simulation for Excel
  35. Hamlin (zip) - Financial function add-on's for Excel
  36. Tanly (zip) - Suite of technical analysis models for Excel
  37. Financial History Pivot Table - Microsoft Financials
  38. Income Statement What If Analysis
  39. Breakeven Analysis (zip) - Pricing and breakeven analysis for optimal pricing - Biz Pep.
  40. SLG Ratio Master (exe) - Excel workbook for creating 25 key performance ratios.
  41. DCF - Menu driven Excel program (must enable macros) for Discounted Cash Flow Analysis from the book Analysis for Financial Management by Robert C. Higgins - Analysis for Financial Management
  42. History - Menu driven Excel program (must enable macros) for Historical Financial Statements from the book Analysis for Financial Management by Robert C. Higgins - Analysis for Financial Management
  43. Business Valuation Model (zip) - Set of tabbed worksheets for generating forecast / valuation outputs. Includes instruction sheet. Bizpep
  44. LBO Model - Excel model for leveraged buy-outs
  45. Comparable Companies - Excel valuation model comparing companies
  46. Combination Model - Excel valuation model for combining companies
  47.  Balanced Scorecard - Set of templates for building a balanced scorecard.
  48. Cash Model - Template for calculating projected financials from CFO Connection
  49. Techniques of Financial Analysis - Workbook of 11 templates (breakeven, valuation, forecasting, etc.) from ModernSoft
  50. Ratio Reminder (zip) - Simple worksheet of comparative financials and corresponding ratios
  51. Risk Analysis IT - Template for assessing risk of Information Technology - Audit Net
  52. Risk Analysis DW - Template for assessing risk of Data Warehousing - Audit Net
  53.  Excel Workbook 1-2 - Set of worksheets for evaluating financial performance and forecasting - Supplemental Material for Short Course 1 and 2 on this website.
  54. Rule Maker Essentials - Excel Template for scoring a company by entering financial data - The Motley Fool
  55. Rule Maker Ranker - Excel Template for scoring a company by entering comparable data - The Motley Fool
  56. IPO Timeline - Excel program for Initial Public Offerings (must enable macros)
  57. Assessment Templates - Set of templates for assessing an organization based on the Malcolm Baldrige Quality Model.
  58. Cash Gap in Days - Spreadsheet for calculating number of days required for short-term financing.
  59. Cash Flow Template - Simple cash flow model with explanations of each cash flow component - Arkansas Small Business Development Center.
  60. Six Solver Workbook (zip) - Set of various spreadsheets for solving different business problems (inventory ordering, labor scheduling, working capital, etc.).
  61. Free Cash Flow Valuation - Basic Spreadsheet Valuation Model
  62. Finance Examples - Seven examples in Business Finance - Solver
  63. Capital Budgeting Workbook - Several examples of capital budgeting analysis, including the use of Solver to select optimal projects.
  64. Present Value Tables (rtf) - Set of present value tables written in rich text format, compatible with most word processors. Includes examples of how to use present value tables.
  65. Investment Valuation Model (zip) - Valuation model of companies (30 Day Trial Model) from Business Spreadsheets | Additional Trial Models from Business Spreadsheets > Real Option Valuation | Portfolio Optimization | Optimal Hedging Strategy
  66. Cash Flow Sensitivity (xlt) - Sensitivity analysis spreadsheet - Small Business Store
  67. What If Analysis - Set of templates for sensitivity analysis using financial inputs.
  68. Risk Return Optimization - Optimal project selection (must enable macro's) - Metin Kilic
  69. CI - Basics #1 - Basic spreadsheet illustrating competitive analysis - Business Tools Templates.
  70. CI - Basics #2 - Basic spreadsheet illustrating competitive analysis - Business Tools Templates.
  71. External Assessment - Assessment questions for organizational assessment (must enable macros).
  72. Internal Assessment - Assessment questions for organizational assessment (must enable macros).
  73. Formal Scorecard - Formal Balanced Scorecard Spreadsheet Model (3.65 MB / must enable macros) - Madison Area Quality Improvement Network.
  74. Project Plan - Project Scheduling Template currently setup for a Balanced Scorecard Project.
  75. Gantt Chart - Gantt chart for project management with work plan - Jim Chapman's Web Site | Simplified Version - Barnard of Fong's Eng & Manf
  76. E O Q Model - Simple Inventory Models for calculating Economic Order Quantity.
  77. Inventory Simulation Control Model - Formal model for simulating inventory shortages, delivery times, costs, backorders, and optimal inventory levels - John McClain
  78. Financial Projections Model - A comprehensive financial model for forecasting a complete set of financials with breakeven and valuation tabs developed by Frank Moyes and Stephen Lawrence at Leeds School of Business.
  79. Option Trading Workbook - Educational toolkit for using Excel for Options - Option Trading Tips
  80. Financial Model - A nice clean financial model driven by different calculators (such as Company, Market, Subscribers, etc.) developed by Bill Snow.
  81. Forecasting Model - Step by step financial model for forecasting financials created by Sam Gui
  82. Economic Evaluation - Step by step workbook for evaluating the economics of a system investment
  83. Project Management Templates - A collection of templates (charter, budget, risk register, issues log, etc.) for managing a project - International Association of Project and Program Management
  84. Project Cost Estimating Workbook - A workbook model for developing a cost estimate on a software development project - ProTrain China
  85. Risk Assessment Register - A workbook for establishing a risk management register - Emergency Preparedness Capacity Builders
  86. Simple ABC Model - A simple model that illustrates Activity Based Costing
  87. Six Sigma Tool Kit - A large collection of templates for doing six sigma tasks
  88. Project Management Tool Kit - Collection of useful templates for managing projects - Michael D. Taylor
  89. Intellectual Property Valuation Model - A simple and easy to use model to help assign value to intellectual assets such as patents, copyrights and trademarks - My Patent
  90. IT Infrastructure Maturity Assessment - Maturity model for evaluating different segments of IT infrastructure
  91. EVA Model - Template worksheets for calculating Economic Value Added (EVA) - Zachary Scott
  92. EVA Tree Model - Economic Value Added drill-down model with charts - Manfred Grotheer
  93. Personal Finance Model - A simple and clean model to track personal wealth - ROI Team
  94. Financial Startup Model - A six parameter model to help organize financials for startup companies - ROI Team
  95. Performance Leadership Assessment - Simple and straight-forward tool for assessing leadership across five important categories - People Positive
  96. Due Diligence Assessment Model - Assessment of new business ventures across ten different dimensions - Affiliate Tips
  97. Management Diamond Assessment - A useful tool for developing human capital and teams - Geir Fuglaas | Management Diamond Overview | Management Diamond Book
  98. Performance Solution Tool Kit - Evaluation of performance issues related to knowledge gaps - Brent Norton
  99. Ratio Tree - A simple yet comprehensive tree of ratios for most businesses - Strategy Expert
  100. Skills & Modeling Guide | Assessment Exercise Workbook - Two very good spreadsheet models to help you develop your spreadsheet modeling skills - Tykoh Training
  101. Breakeven Forecasting Model - A clean and contemporary spreadsheet tool for easily forecasting breakeven. Includes parameters for seasonality and start-up optimization - Ethos 360
  102. ROI IT Initiative Tool - A comprehensive business case model for evaluating technology projects - Hall Consulting
  103. Waterfall Distribution Model - Distribution of proceeds from a business venture using hurdles - Global iConnect
  104. LBO DCF Model - Leveraged Buyout Model with tabs for financials and analysis - Global iConnect
  105. Weekly Cash Flow - Rolling cash flow projections of purchases - Portal CFO
  106. Factoring Cash Flow - Weekly calculation of cash flows with factoring - MP Star Financial Invoice Factoring
  107. Series of Commission Spreadsheets > Calculator | Template-Fixed | Template-Margin | Template Revenue
  108. Dashboard Report - Demonstrates countif, vlookup, and arrays - Bob Lopez
  109. Real Estate Investment Analysis - Workbook example developed by Dr. Greg Smersh
  110. Rental Property Investment - Workbook for evaluating rental property - Globaliconnect
  111. Valuation Utility Workbook | User Manual - A nice and simple valuation model with sensitivity charts - Tykoh Training

Cách tính chỉ số CPI giai đoạn 2009-1014

Theo tuổi trẻ, 
Đại diện Tổng cục Thống kê, Vụ trưởng Vụ Thống kê thương mại, dịch vụ và giá cả Trần Thị Hằng cho biết cách tính CPI ở Việt Nam thời kỳ 2009 - 2014 sẽ có một số thay đổi.
Để tính chỉ số giá tiêu dùng, Tổng cục Thống kê phải xác định danh mục các loại hàng hóa và dịch vụ (“rổ” hàng hóa) tiêu dùng phổ biến của người dân (được gọi là danh mục hàng hóa và dịch vụ đại diện) và thu thập giá hằng tháng đối với các loại hàng hóa và dịch vụ trong danh mục này.
Điểm đáng chú ý nhất trong cách tính mới là tỉ trọng nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống giảm chỉ còn 39,93% thay vì mức 42,85% trước đây, và "rổ" hàng hàng hóa mới sẽ bao gồm 573 mặt hàng, tăng 78 mặt hàng so với “rổ” hàng hóa cũ...
Danh mục các mặt hàng đại diện trong "rổ" hàng hàng hóa thời kỳ 2009-2014 sẽ bao gồm 573 mặt hàng, tăng 78 mặt hàng so với “rổ” cũ.
Cơ cấu quyền số (tỉ trọng chi tiêu của từng nhóm hàng hóa, dịch vụ so với tổng giá trị chi tiêu) giữa các nhóm hàng hóa cũng có sự thay đổi để phản ánh sát thực và chính xác hơn với xu hướng tiêu dùng hiện nay. Điều này được thể hiện rõ nét nhất qua việc quyền số của nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống ( thuộc nhóm hàng cấp I ) giảm chỉ còn 39,93%, thay vì mức 42,85% trước đây.
Nhóm hàng này cũng được tách chi tiết thành ba nhóm hàng gồm lương thực (8,18 %), thực phẩm (24,35 %) và ăn uống ngoài gia đình (7,4 %).
Theo ông Nguyễn Đức Hòa - tổng cục trưởng Tổng cục Thống kê, thứ trưởng Bộ Kế hoạch và đầu tư, do mức sống của người dân có xu hướng ngày càng được cải thiện, tỉ lệ tiêu dùng dành cho ăn uống có xu hướng giảm xuống.
Các nhóm hàng hóa còn lại đều có cơ cấu quyền số tăng lên trong "rổ" hàng hóa chung.
Chỉ số giá vàng và chỉ số giá đôla Mỹ tiếp tục không nằm trong chỉ số giá tiêu dùng và được công bố hằng tháng cùng với chỉ số giá tiêu dùng.
Việc thay đổi một số nội dung trong phương án tính CPI nhằm đảm bảo chất lượng và tăng độ chính xác cho chỉ số CPI (thước đo lạm phát của nền kinh tế), trên cơ sở đó giúp Chính phủ và các nhà hoạch định có các chính sách điều hành hiệu quả nhất.
Quyền số dùng tính chỉ số giá tiêu dùng thời kỳ 2009 - 2014 của toàn quốc:
Mã
V. Thiết bị và đồ dùng gia đình
Quyền số (%)
C
VI. Thuốc và dịch vụ y tế
100,00
01
VII. Giao thông
39,93
011
VIII. Bưu chính viễn thông
8,18
012
IX. Giáo dục
24,35
013
X. Văn hóa, giải trí và du lịch
7,40
02
XI. Hàng hóa và dịch vụ khác
4,03
03
V. Thiết bị và đồ dùng gia đình
7,28
04
VI. Thuốc và dịch vụ y tế
10,01
05
VII. Giao thông
8,65
06
VIII. Bưu chính viễn thông
5,61
07
IX. Giáo dục
8,87
08
X. Văn hóa, giải trí và du lịch
2,73
09
XI. Hàng hóa và dịch vụ khác
5,72
10
V. Thiết bị và đồ dùng gia đình
3,83
11
VI. Thuốc và dịch vụ y tế
3,34
Theo Chinhphu.vn