September 6, 2013

Thư của PGS Văn Như Cương gửi các bậc cha mẹ học sinh trường Lương Thế Vinh

Theo toithichhoc blog's

Nhân dịp đầu năm học mới, tôi xin gửi lời chào mừng tới các bậc cha mẹ học sinh trường Lương Thế Vinh. Tôi chân thành chúc các vị cùng gia đình mọi sự tốt đẹp, hạnh phúc.

Một trong những nhân tố làm nên thương hiệu Lương Thế Vinh là sự ủng hộ của các bậc phụ huynh về đường lối giáo dục nhà trường. Nhân dịp năm học mới, với tư cách Hiệu trưởng nhà trường, tôi xin gửi tới các vị phụ huynh đôi dòng tâm sự về việc dạy dỗ con em chúng ta.
1) Xin các bậc làm cha làm mẹ hãy thận trọng và bình tĩnh khi nhận xét và đánh giá con cái của mình. Một số vị luôn luôn cho rằng con mình cái gì cũng nhất: xinh đẹp, thông minh, tài năng, trí tuệ…, họ tâng bốc con và làm cho đứa con cũng cảm thấy mình hơn người. Một số vị khác thì ngược lại, luôn luôn buồn bực vì con, chì chiết thậm chí mạt sát con, xem nó là thứ vất đi, khó dạy khó bảo, rồi chẳng làm nên cơm cháo gì…

Mỗi đưa trẻ đều có điểm mạnh và điểm yếu. Nghệ thuật làm cha làm mẹ là biết cách khuyến khích, khen ngợi, nhưng không đề cao quá đáng những điểm mạnh của con mình, mặt khác cần khắc phục mà không vùi dập những điểm yếu của nó.

Một đứa trẻ kiêu căng, tự phụ hoặc một đứa trẻ tự ti, sợ hãi không phải là mục tiêu giáo dục của chúng ta.

2) Xin các vị đừng quá nuông chiều đến mức thỏa mãn mọi đòi hỏi của con cái. Hãy nhớ rằng con cái chúng ta luôn luôn “được voi, đòi tiên”, bởi vậy chúng ta cần cân nhắc trước yêu sách của con cái. Có thể các vị không thiếu tiền, nhưng ở đây là vấn đề giáo dục, nên có thể thừa tiền vẫn không cho. Trẻ em càng được nhận nhiều thì sự biết ơn càng giảm sút, mà đó là điều tối kỵ. Trước hết chúng phải biết ơn cha mẹ mình, biết rằng trong điều kiện kinh tế khó khăn cha mẹ đã vất vả như thế nào để nuôi con ăn học. Sự biết ơn đó chính là một động lực để thúc đẩy các con ra sức học hành.

Đối với con cái, nếu “yêu cho roi cho vọt” là quan điểm sai lầm thì “yêu cho ngọt cho bùi” cũng sai lầm không kém.

3) Xin các vị đừng thương các con đến mức không để chúng đụng tay đụng chân làm bất kì việc gì, mà dành toàn bộ thời gian cho chúng “dùi mài kinh sử”. Con muốn giúp mẹ làm bếp thì “thôi con đi học bài đi, mẹ làm tí xong ngay”, ăn cơm xong thì “con nghỉ một lúc rồi học bài nhé, để mẹ rửa bát cho”.

Thế là có những đứa trẻ không bao giờ biết làm việc, kể cả những việc đơn giản như: quét dọn nhà cửa, lau rửa bát đĩa, ấm chén, tuới cây nhổ cỏ, vun luống tỉa hoa… Lớn lên chắc chắn chúng sẽ thành những kẻ lười biếng, xem thường lao động, coi khinh những người lao động. Là một thầy giáo lâu năm, tôi tin rút ra một nhận định: Không có lao động thì không có sáng tạo. Một người lười lao động thì chắc chắn không làm việc gì thành công.

4) Hãy dạy con cái chúng ta có tấm lòng nhân ái, biết làm việc từ thiện dù rất nhỏ và có thái độ thân thiện đối với mọi người. Lòng thương người, tính đôn hậu là tính tốt cơ bản nhất mà mỗi con người nên có. Hãy để cho trẻ con chúng ta biết đến, nghĩ đến biết bao nhiêu hoàn cảnh khó khăn, biết bao số phận cay đăng, biết bao hoàn cảnh ngặt nghèo của rất nhiều người trong xã hội. Đối với những người như vậy một sự chia sẻ về vật chất và tinh thần, một lời động viên, một cử chỉ đồng cảm … chính là thể hiện lòng nhân ái đối với họ. Lòng nhân ái trong mỗi người sẽ xóa tan sự đố kị, sự vô cảm, sự thù hận,,, và làm cho trẻ con của chúng ta tốt đẹp và cao thượng hẳn lên.

5) Hãy dạy con cái mình sống nhiều hơn với các thế giới có thật xung quang mình, đang diễn ra hàng ngày…, để chúng đừng đắm mình và chạy theo thế giới ảo trên các trang mạng. Hãy làm sao để chúng nói chuyện, trao đổi, tâm sự… nhiều hơn với người thân trong gia đình chứ đừng suốt ngày đuổi theo những ảo ảnh trên mạng. Trong tình hình hiện nay các mạng xã hội trên Internet mang lại nhiều nguy hiểm cho con trẻ chúng ta… Xin các vị hãy quan tâm điều này nhiều hơn, đã có rất nhiều trẻ em trở thành hư đốn, thậm chí phạm pháp vì quá mê say với thể giới ảo.

6) Về việc học tập của con em, trường LTV chống lại việc học thêm một cách vô tội vạ. Nhà trường bố trí và sắp xếp kế hoạch thực hiện chương trình đủ để học sinh không phải học thêm. Việc học thêm chỉ mang đến những bất lợi cho học sinh: tốn tiền, tốn thời gian, ảnh hưởng đến sức khỏe, nguy hiểm vì đi đường, không có thì giờ để tự học, tự nghiên cứu, tìm tòi… Học sinh Lương Thế Vinh được tuyển chọn một cách chu đáo, các em đều có hạnh kiểm tốt, học lực giỏi hoặc khá. Học sinh như vậy, với đội ngũ thầy giáo có kinh nghiệm và với chương trình sắp xếp hợp lý …, chúng tôi tin rằng việc học thêm là không cần thiết.

Trên đây là một số ý kiến tâm sự muốn ngỏ cùng các vị của một người thầy giáo già luôn luôn cảm thấy hạnh phúc khi học trò của mình thành đạt.

Tôi chúc các vị và gia đình hạnh phúc

Văn Như Cương


HÒN NGỌC VIỄN ĐÔNG

HÒN NGỌC VIỄN ĐÔNG
Alan Phan
6 Sep 2013
….Saigon đẹp lắm, Saigon ơi, Saigon ơi…
Lâu rồi tôi không nghe chữ Hòn Ngọc Viễn Đông đi kèm với Saigon. Cái tương quan gần như thuộc về những chuyện thần kỳ cổ tích của một thời mới lớn. Hòn ngọc làm chúng ta liên tưởng đến hình ành của một quần thể các toà lâu đài với nhiều hoa thơm cỏ dại, nhiều chim bướm bay lượn và nhiều bóng mát an bình. Nếu có nhân tạo thì ít nhất cũng như toà lâu đài của Disneyland hay khu biệt thự San Simeon của Randolph Hearst. Nếu hiện đại thì chắc phải như khu Palm Islands của Dubai.
Chánh quyền đô thị
Vừa rồi, nhiều báo lề phải đăng tin là chánh phủ Việt Nam muốn thiết lập chánh quyền đô thị cho Saigon. Theo mô tả, quyền lực sẽ chia ra thành 5 khu đô thị, với thị trưởng do dân bầu trực tiếp. Vài báo đoan chắc là hình thái chính quyền đô thị này sẽ khiến Saigon chiếm lại ngôi vị Hòn Ngọc Viễn Đông cùa Á Châu. Vì lòng tự hào dân tộc quá cao, các báo thiếu suy nghĩ và hơi bị “nổ” khi nghĩ là ngôi vị Hòn Ngọc dễ đăng cai đến vậy.
May quá, sau đó, chánh phủ lại huỷ chuyện chánh quyền đô thị vớ vẩn này lại. Đang hưởng quyền hưởng lộc, không ai lại ngu mà đi “đổi mới” hay “ chia quyền”. Còn vụ bầu bán, tôi còn nhớ một trải nghiệm khoảng 1977, khi đang làm cho Wall Street.
Tôi và ông boss được cử qua Chad để đàm phán một hợp đồng ngân hàng. Chúng tôi được mời ăn trưa với vị Tổng Thống nguyên là Đại Tướng tư lệnh quân đội, vừa đảo chánh cướp chánh quyền vài năm. Ông than phiền là Toà Đại Sứ Mỹ đang gây áp lực buộc chánh phủ quân phiệt của ông phải sớm tổ chức bầu cử. Ông nói với ngài Tổng Trưởng cận thần là “thôi cứ lo tổ chức bầu cử trước cuối năm cho yên. Mỹ nó đang doạ cúp viện trợ”. Ngài Tổng Trưởng nói,” với cách đếm phiếu của mình thì trước sau gì Tổng Thống cũng thắng lớn. Tuy nhiên, tôi lo ngại là sau khi cho dân đi bầu, chúng lại bắt đầu nghĩ là chúng đang có quyền thực, thì khá rắc rối sau này…”
Một hòn đá…đáng yêu
Cá nhân tôi thường không quan tâm đến hình thái chánh phủ vì các ngài quan chức khắp thế giới đều có khuynh hướng ăn cắp và xài tiền OPM như nhau. Dân chủ thì họ chùi mép sạch sẽ hơn. Tuy nhiên, tôi chia sẻ ước ao muốn Saigon hồi sinh trở lại và dù không thể là Hòn Ngọc Viễn Đông, tôi mong Saigon sẽ được biết như là một “thành phố đáng yêu” của Á Châu.
Tôi không quan tâm đến việc phải có một “chánh quyền đô thị” hay một “chánh quyền ngoài hành tinh”. Tôi chỉ xin các ngài có quyền làm được vài chuyện đơn giản (không tốn một đồng nào từ ngân sách) như sau:
  1. 1.      Hãy làm sạch vỉa hè
Đủ mọi loại dân, giàu cũng như nghèo, đang lạm chiếm vỉa hè để làm chỗ để xe, buôn bán và lấn đất (sau một thời gian, sẽ xây nhà luôn trên đất công, với sự làm ngơ của các thanh tra sau khi nhận phong bì). Tất cả khách bộ hành đều khổ sở vì ngay tại trung tâm du lịch, người đi bộ phải liều lĩnh xuống các con đường chật hẹp tranh sống với xe hơi, xe máy…Hình ảnh bác nhác, bẩn thỉu và tạp nham từ các vỉa hè là ấn tượng xấu xa nhất mà du khách hay dân cư phải hứng chịu.
Chúng ta biết là công an khu vực đang hưởng lợi từ tiền tô thu được từ các “business” sử dụng vỉa hè làm của riêng. Tuy nhiên, tôi tin các chính trị gia cấp cao dư vốn “quyền lực và lợi ích” để dẹp tệ nạn này bằng một nghị quyết đơn giản và một thực thi luật thật nghiêm túc.
  1. 2.      Hãy cấm mọi xe cộ sử dụng xăng (dầu) lưu thông trong thành phố
Một chương trình 5 năm để bắt buộc mọi công dân sử dụng phương tiện giao thông phải chuyển đổi từ căn bản xăng và dầu hoả (gây ô nhiễm trầm trọng) qua hệ thống xanh (như khí đốt, điện, năng lượng mặt trời…).
Năm đầu, cấm mọi xe mới dùng xăng hay dầu lưu thông trong thành phố (không cho đăng ký). Cũng trong năm đầu, 20% số xe cũ nhất sẽ phải thay đổi hệ thống phát năng lượng qua các hệ thái khí đốt, điện hay solar. Người tiêu dùng sẽ mất khoảng 50 USD cho xe máy đến 500 USD cho xe hơi, nhưng bộ phổi của 7 triệu người dân sẽ được thanh lọc và phí y tế về khí quản sẽ giảm còn hơn số tiền đầu tư cho năng lượng xanh.
Năm thứ hai đến năm thứ năm, hoàn tất việc thay đổi qua “xanh” cho 80% xe còn lại.
  1. 3.      Hãy cấm xả rác và khạc nhổ trong thành phố
Tôi vừa ghi là “đái bậy phải tru di tam tộc”, nhưng dĩ nhiên là câu đùa. Sự dị ứng của tôi với bất cứ hình thái nào liên quan đến xả rác, làm ô uế môi trường sống của tập thể là một ám ảnh. Tôi phục nhất ông Lý Quang Diệu, vì ông là lãnh tụ duy nhất bắt một dân tộc có văn hoá “sống dơ” như các Hoa kiều trở thành những công dân văn minh, tôn thủ luật pháp và tạo Singapore trở thành thành phố sạch nhất thế giới. Ông Lý chỉ cần phạt thật nặng các vi phạm về rác rưởi như khi vất bậy một tàn thuốc, tiền phạt là 500 Sing đô la v.v…

Dĩ nhiên còn rất nhiều chuyện phải làm để Saigon trở thành một thành phố đáng yêu. Chẳng hạn cấm mọi công trình xây dựng mới, mọi thay đổi tái thiết phải dành 50% cho cây xanh, phải sửa lại toàn bộ luật về “bảng hiệu” vì toàn thành phố giống một ổ chuột đủ mầu sắc, loạn thị và trâng tráo, đem tất cả văn phòng chánh phủ và trường học ra khỏi trung tâm thành phố.  Các nhà hoạch định đô thị (city planner) có thể cho thêm ý kiến dựa trên kinh nghiệm của các thành phố khác. Tôi không phải là một city planner nhưng ngay cả với cặp mắt nhòm nhèm của một ông già, tôi cũng nhận ra rằng Saigon đã trở nên một trong những thành phố xấu xí nhất trần gian.
Tôi chỉ hy vọng là bất cứ chánh quyền nào, độc tài hay dân chủ, đều có một chút hãnh diện để thay đổi bộ mặt ghê tởm của Saigon. Bằng 3 quyết nghị rất đơn giản và không tốn một đồng xu nào của ngân sách, các lãnh đạo thành phố sẽ làm “lịch sử” cho môi trường sống của 7 triệu dân.
Xin nhắc lại nhận xét của Neal Shusterman về thành phố,” Thành phố không tự nhiên hiện diện. Mặc dù hỗn loạn, tất cả đều phát triển từ các nhu cầu để giải quyết những vấn đề.” Bao giờ thì chúng ta sẽ bắt đầu giải quyết vấn đề của Saigon?
Alan Phan

BẤT ĐỘNG SẢN: khó dự báo khả năng hồi phục


BẤT ĐỘNG SẢN: khó dự báo khả năng hồi phục

September 06 2013

TS Alan Phan
(Phỏng Vấn Của Báo Người Đô Thị)

Thị trường BĐS từ trước đến nay không có sự thay đổi căn bản và chứa đựng nhiều nghịch lý. Điều này đến từ những yếu tố lịch sử mà hiện cần phải giải quyết.
Thị trường BĐS Việt Nam hiện không còn thuần túy là vấn đề kinh tế, đầu tư, dòng tiền hay cung cầu thị trường. Thị trường đang được vận hành xen lẫn với nhiều mục tiêu khác nhau.

Các nghịch lý
Nghịch lý tại sao giá đất Việt Nam cao hơn hầu hết các nước ASEAN, thậm chí so với tại Mỹ; giá thành một căn hộ cho người thu nhập thấp ở Việt Nam bằng giá xây một căn nhà cao cấp ở Mỹ… dẫn đến giá cả bất hợp lý so với thu nhập, đẩy thị trường đến tình trạng bong bóng.
Không thể nói người dân thiếu tiền tham gia thị trường mà là sản phẩm không phù hợp, cung chênh lệch quá xa với sức mua trung bình. Chúng ta nói hàng tồn kho cao nhưng cao là bởi sản phẩm không thực dụng, không đúng với giá trị thị trường nên không bán được chứ không phải do thị trường không có nhu cầu.
BĐS thiếu cơ sở pháp lý để tạo nên niềm tin thị trường. Yếu tố cơ chế luật pháp theo cách toàn dân sở hữu đất đai là một khái niệm thiếu rõ ràng. Đây chính là rào cản lớn và khó thu hút được nguồn vốn đầu tư lâu dài vào BĐS, mà nguồn vốn vào Việt Nam trong cả giai đoạn qua cho thấy mang tính đầu cơ phổ biến hơn là đầu tư lâu dài.
Giải quyết thị trường BĐS phải bắt đầu với những nguyên nhân gây ra tình trạng nghịch lý như vậy. Tiềm năng kinh doanh bất động sản tại Việt Nam dù rất lớn nhưng tiềm năng đó không thể thành hiện thực khi chưa giải quyết được những vấn đề nêu trên.
Giải pháp chữa từ căn cơ
Khi tình trạng bong bóng xảy đến, chúng ta lại cố gắng níu giữ thay vì để cho nó phải xì hơi, đáng lẽ phải đối diện với nó thì lại tạo thêm khó khăn. Việc kéo dài tình trạng bong bóng gây ra hệ lụy cho những ngành nghề khác, từ xây dựng cho tới sản xuất tiêu dùng vì cướp đi một nguồn lực đáng kể về con người và tiền bạc thay vì nguồn lực đó đưa vào các hoạt động kinh tế khác.
Nếu ví BĐS giống như con bệnh thì cần được bác sĩ chữa bệnh và bản thân người bệnh cũng phải tự điều chỉnh. Một người thừa cholesterol thì chính họ phải điều chỉnh chế độ ăn cho phù hợp, nhưng một khi lệ thuộc quá nhiều vào yếu tố bên ngoài, bản thân họ còn không thể kiểm soát, thậm chí còn phải ăn thêm nhiều thứ. Tâm lý biết đâu ăn thêm lại sống khỏe thay vì phải chữa bệnh là thực tế của BĐS hiện nay. Như vậy, thị trường không còn là yếu tố của người làm chuyên môn y tế!
Thị trường BĐS trong tư thế lâm sàng đã nhiều năm, chỉ khi “hết thuốc” thật sự thì thị trường mới bước vào được một chu kỳ mới. Nếu chúng ta không kéo dài giai đoạn lâm sàng thì thị trường bây giờ đã ở vào ngưỡng hồi phục. Cứ kéo dài tình trạng lâm sàng, thị trường càng chậm hồi phục, hoặc sẽ sống mà cơ thể không thể khỏe mạnh, đau bệnh lằng nhằng.
Dòng tiền đầu tư lo ngại rủi ro
Thị trường phải có sự hấp dẫn thì mới thu hút đầu tư chứ không phải thiếu dòng tiền. Tại sao đầu tư nước ngoài vào tất cả các nước ASEAN đang tăng nhưng tại Việt Nam lại giảm?
Một khi môi trường kinh doanh còn nhiều gánh nặng, dòng tiền sẽ không đến, trong khi đầu tư vào BĐS hiện khả năng mất tiền nhiều hơn cơ hội kiếm tiền. Những doanh nghiệp kiếm tiền được từ các mối quan hệ mật thiết, sân sau hay làm ăn chân chính đều đang bị kẹt lại và không xoay trở được. Khi dòng tiền mới không tìm ra cơ hội, lo ngại rủi ro và không vào thì thị trường thì càng khó khăn để vực dậy thị trường BĐS.
Khó có thể dự báo khả năng hồi phục của thị trường. Giải pháp kinh doanh tối ưu của doanh nghiệp phải thuần về lợi ích và lợi nhuận của chính doanh nghiệp đó. Nhưng thị trường BĐS Việt Nam hiện không còn thuần túy là vấn đề kinh tế, đầu tư, dòng tiền hay cung cầu thị trường. Thị trường đang được vận hành xen lẫn với nhiều mục tiêu khác nhau, từ lợi ích nhóm, trách nhiệm xã hội, ổn định chính trị…
Khi có nhiều động cơ thì quá phức tạp để chúng ta có thể dự báo. Và như vậy, giải quyết tình trạng BĐS cũng không còn nằm ở yếu tố kinh tế thuần túy. Nhà đầu tư luôn phải đoán định được thị trường để quyết định mình sẽ rẽ theo hướng nào. Một khi quy luật thị trường bị dẹp sang một bên thì khó khăn của BĐS cũng sẽ tăng lên vì dòng vốn mới e dè tham gia thị trường do nhà đầu tư mất phương hướng.
Chu kỳ của BDS
Thị trường BĐS ở quốc gia nào cũng có những chu kỳ tăng thoái nhất định, nhưng ở thị trường lành mạnh, khả năng phục hồi nhanh làm giảm sự hao tổn của xã hội. Chẳng hạn ở Thái Lan, năm năm sau khủng hoảng thì thị trường bắt đầu hồi phục. Đỉnh điểm của thị trường, giá BĐS rớt trung bình đến 60% chỉ trong vòng sáu tháng, nhưng cũng từ đó thị trường đi lên và giá BĐS tại Thái Lan mất chừng ba năm để leo lên lại mức cũ. Thị trường rớt rất nhanh là hồi phục nhanh, quy trình đó tại Thái Lan mất chừng tám năm và cũng là một chu kỳ thông thường xảy ra ở các nền kinh tế thị trường.
Hay ở Mỹ, giá BĐS rớt gần 40% trong vòng một năm, rồi nằm loanh quanh mức đáy chừng năm năm, đến năm 2012 bắt đầu ấm lại. Người ta dự báo khoảng năm 2015-2016 thị trường BĐS ở Mỹ sẽ bình phục. Còn ở Việt Nam, rất khó dự báo về khả năng hay thời điểm hồi phục, mức giá hiện đã giảm khoảng 20% nhưng người ta đang cố giữ. Đối với nhà đầu tư, khi họ cảm nhận thị trường đã ở đáy họ sẽ đổ tiền vào và đẩy thị trường lên một cách tự nhiên, còn nếu cứ ở trạng thái lưng chừng đã không đẩy lên được lại càng làm thị trường rớt thêm.
Khi dòng tiền đầu tư không “nhìn thấy” cơ hội sẽ không tham gia thị trường, và thị trường lại mất thêm cơ hội.
- Tuyết An (ghi)
P.S. Bài nói về BDS; nhưng có lẽ ứng dụng cho mọi ngành nghề trong nền kinh tế này???

Những thứ cần phải quên

Toithichdoc Blog's

Những thứ cần phải quên
Trong cuộc sống của mình, bạn đã học được nhiều thứ, đó là học sự yêu thương, học được cách nhớ nhung một ai đó và bây giờ bạn sẽ học cách quên. Vì trong cuộc sống có những chuyện nên gìn giữ, nên cất giấu nhưng cũng có những thứ cần phải quên đi.
Vậy những gì bạn cần phải quên đi?




Quên đi những đau khổ: Cuộc đời không ai lúc nào cũng vui vẻ và lúc nào những điều tốt đẹp nhất cũng đến với mình. Khi bạn chia tay với người yêu bạn sẽ giam cầm mình trong đau khổ, trong những lần khóc sướt mướt. Bạn thu mình lại và có những lúc bạn tưởng chừng như trái tim mình vỡ tung ra. Bạn mềm yếu, cảm giác như chỉ có người đó mới đưa bạn ra khỏi cái nỗi đau đó mà thôi. Khi ấy bạn cần phải học cách quên đi người đó, học cách quên đi một người sẽ làm cho trái tim bạn lành lại theo thời gian. Mọi đau khổ sẽ tan biến. Mặc dù với một số bạn sẽ rất khó nhưng chưa thử làm sao chúng ta biết có làm được hay không.




Quên đi những hận thù: Ai đó đã lấy đi của bạn một thứ gì đó quý giá, ai đó đã lỡ xúc phạm bạn, ai đó vô tình đã làm bạn đau. Bạn cảm thấy tức giận, bạn cảm thấy lòng hận thù trong mình dâng cao. Nhưng Người ta nói tức giận là lấy sai lầm của người khác trừng phạt chính mình. Cứ mãi nhớ đến những hận thù đó thì người bị tổn thương nhiều nhất chính là bạn. Suốt ngày bạn sẽ dằn vặt bản thân, bạn sẽ tìm mọi cách để trả thù lại người ta nhưng càng suy nghĩ càng khiến cho bạn cảm thấy nặng nề. Tâm hồn bạn sẽ chẳng khi nào được thanh thản. Vậy tại sao bạn không thử học cách quên đi mọi hận thù và dám tha thứ cho những gì người khác đã làm khiến bạn tổn thương . Cuộc sống sẽ đẹp hơn, nhẹ nhõm hơn nếu bạn biết quên đi thứ cần phải quên đấy bạn ạ.




Quên đi những khuyết điểm của người khác: Đối với chúng ta thường dễ dàng giang tay đón lấy những ưu điểm của bạn bè, người thân. Nhưng khi họ có khuyết điểm chúng ta lại khép tay lại và tránh thật xa họ. Trên đời này chẳng có gì là hoàn hảo, chính bản thân chúng ta cũng là một mảnh ghép của cuộc sống cũng có những lúc phạm phải một sai lầm, và có một vài khuyết điểm nào đấy. Chúng ta học cách quên đi khuyết điểm của người khác là chúng ta đang học cách hoàn thiện bản thân mình, đang làm cho tâm hồn chúng ta trở nên rộng lượng hơn. Đừng lúc nào cũng nghĩ đến mặt xấu của người đối diện mà hãy nghĩ đến ưu điểm. Vì như thế sẽ làm cho mối quan hệ của bạn và người ta sẽ trở nên tốt đẹp, khăng khít hơn.




Quên đi những kỷ niệm, quên đi quá khứ: Những kỷ niệm đẹp, những quá khứ êm đềm hay đau khổ đối với một số người sẽ giữ mãi trong lòng để từ đó mà chiêm nghiệm mà sống tốt hơn. Nhưng trong một vài trường hợp bạn cũng phải cố quên đi quá khứ, quên đi những kỷ niệm. Bạn không thể lúc nào cũng sống trong cái kỷ niệm một thời tay trong tay với người yêu cũ. Bạn cũng không thể sống mãi trong cái quá khứ của một thời tuổi thơ êm đềm hay đau khổ mãi được. Bạn cần phải quên nó đi, bỏ lại nó ở phía sau lưng để mà bước đi, để mà lớn lên. Quên ở đây không hẳn bắt bạn quên vĩnh viễn mà quên ở đây là bạn tạm thời cất giữ nó ở một góc nào đó sâu thẳm trong tim để rồi có lúc lấy ra mà nhớ, mà vui mà buồn. Rồi cũng có thể khi bạn lớn lên một chút bạn sẽ nghĩ về chúng như một cái gì đó quý giá. Bạn sẽ tự cười, “à thì ra mình đã lớn”…




Quên đi lợi ích cá nhân: Ai cũng chỉ biết sống cho mình thì cuộc sống này sẽ trở nên ích kỷ và hẹp hòi, sẽ chẳng còn ai quan tâm đến ai nữa. Bạn phải học cách quên đi cái tôi cá nhân để có thể hòa cùng nhịp sống chung của cộng đồng. Bạn đi mùa hè xanh nhưng luôn chọn những việc nhẹ nhàng, luôn nghĩ cho bản thân. Trước khi làm một việc gì đó bạn luôn nghĩ đến mình sẽ được gì và mình sẽ mất gì. Nếu mất nhiều hơn được bạn sẽ chẳng bao giờ làm. Triết lý đó sẽ đúng đối với một số trường hợp. Nó sẽ hoàn toàn là ích kỷ nếu đó là làm vì lợi ích cộng đồng, làm vì tập thể. Chắc trong chúng ta chẳng lạ lẫm gì với những chiếc áo xanh tình nguyện, đêm ngày túc trực nơi bến xe để tiếp sức cho các thí sinh thi Đại học. Họ chẳng nề hà một công việc gì dù nắng làm cho cháy da, áo ướt đẫm mồ hôi. Bởi lẽ họ đã quên lợi ích cá nhân mà dốc sức vào lợi ích của tập thể. Cho và nhận đôi khi có thể mang ra để so sánh nhưng không phải lúc nào cũng so sánh được đâu bạn ạ. Có thể bạn sẽ mất nhiều hơn được nhưng đến một lúc nào đấy bạn sẽ cảm thấy cái mất ấy của mình là một điều đáng tự hào.


Và mỗi khi như vậy bạn sẽ cất cao tiếng hát “ ai cũng chọn việc nhẹ nhàng gian khổ sẽ thuộc về ai…”




Nhớ và Quên là hai phạm trù trái ngược nhau. Hãy nhớ những cái gì cần phải nhớ và hãy quên đi những thứ đáng phải quên. Chỉ khi quên đi những thứ gọi là “spam” trong tâm hồn mình bạn sẽ cảm thấy thật thanh thản. Tâm lí của bạn khi ấy sẽ trở nên cân bằng hơn. Vì ai đó đã nói rằng “ Trong cuộc sống phải biết thứ gì cần nhặt lên và thứ gì cần bỏ xuống”.


HÃY QUÊN ĐI


Cuộc sống có cái cần quên
Quên đi những thứ cồng kềnh vướng chân
Đỡ phải lo lắng phân vân
Tâm hồn nhẹ nhõm, tinh thần an vui.


Quên đi những chuyện rủi xui
Đau khổ biến mất, chôn vùi khó khăn
Hận thù mất ngủ mất ăn
Cho vào quên lãng, thăng bằng tâm-sinh.


Người khác khuyết điểm đừng khinh
Bỏ qua vì thấy chính mình cũng sai
Hướng về viễn cảnh tương lai
Chớ để quá khứ kéo dài ưu tư.


Hẹp hòi, ích kỷ khư khư
Cái tôi quá lớn, loại trừ anh em
Hãy quên đi thói nhỏ nhen
Và hãy tập sống đơn hèn thanh cao.


Quên-nhớ thì trái ngược nhau
Nhớ cái cần thiết, quên mau “rác đời”
Tâm hồn sẽ rất thảnh thơi
Cuộc sống phong phú rạng ngời tình thương.


Lm NgXQuang

September 4, 2013

Cơ chế vận hành của 1 giao dịch QE - Quantitative Easing

Theo phochungkhoan.vn

Một số người muốn bạn tin rằng Fed chỉ bơm vào nền kinh tế và thị trường chứng khoán một đống tiền, và điều này đã gây ra sự bùng nổ kinh tế và hầu như tất cả các loại tài sản đều có giá cả cao hơn trước đây. Điều này đơn giản là không đúng sự thật. Dưới đây là cơ chế vận hành thực sự đằng sau sự nới lỏng định lượng.
Trước khi chúng ta bắt đầu, việc quan trọng đầu tiên là các nhà đầu tư cần phải hiểu chính xác “tiền mặt là gì?”. Tiền mặt đơn giản là một khoản công nợ cực kỳ linh động của chính phủ Mỹ. Bạn có thể gọi nó là tiền mặt, tín phiếu dự trữ của Liên bang, hay là gì đi chăng nữa. Nhưng đó là một khoản công nợ của chính phủ Mỹ. Nó cũng giống như một tín phiếu kho bạc, được gửi với kì hanh 13 tuần (treasury bill). Đâu là điểm khác biệt chính giữa tiền mặt và tín phiếu kho bạc? Chính kì hạn thanh toán và số tiền lãi của 2 loại này tạo nên sự khác biệt. Bạn hãy nghĩ rằng một loại thì giống như tài khoản thanh toán, còn loại kia thì giống như tài khoản tiết kiệm.
phochungkhoan.vn
Tiền mặt là gì?
(Nguồn: Internet)

Điều tối quan trọng ở đây là, rất nhiều người trong chúng ta gặp rắc rối trong những hiểu biết của chính mình. Ở trường học, chúng ta đã được dạy rằng, “tiền mặt” tự nó là một loại tài sản đặc biệt. Nhưng điều đó không thực sự chính xác. “Tiền mặt” khi mà chúng nằm trong tài khoản ngân hàng của bạn thị thực sự chỉ là một loại công nợ chính phủ có tính thanh khoản cực kỳ lớn. Điểm khác biệt giữa tài khoản thanh toán và tài khoản tiết kiệm của bạn là gì? Bạn có coi 2 loại tài khoản này đều là “tiền mặt”? Bạn có suy nghĩ rằng tài khoản tiết kiệm của bạn là loại tài khoản mang lãi suất và có tính thanh khoản ít hơn một chút so với tài khoản thanh toán của bạn? 
Tín phiếu kho bạc là gì? Tín phiếu kho bạc là một tài khoản tiết kiệm của chính phủ. Vậy thì, bây giờ, bạn hãy tự hỏi chính mình, tại sao bạn lại nghĩ rằng tiền mặt thì có khác biệt cực lớn so với một tín phiếu kho bạc? Điều gì là khác biệt giữa một khoản đầu tư tiền với lãi suất 0.1% và một khoản tín phiếu kho bạc với lãi suất 0.2%? KHÔNG GÌ CẢ ngoại trừ tỉ lệ lãi suất và kỳ hạn thanh toán. Bạn không thể dùng khoản tín phiếu kho bạc để trả thuế vào ngay ngày mai, nhưng điều đó không có nghĩa là khoản tín phiếu này có thanh khoản thấp hơn tiền mặc ở dạng tương tự. Chúng đều là các khoản công nợ của chính phủ và là tài sản của bạn.
Khi bạn sở hữu một khoản tín phiếu chính phủ, bạn thực sự chỉ là chuyển đổi tiền mặt của bạn sang một dạng tương tự và có tính thanh khoản thấp hơn một chút. Khi mà Fed mua những khoản tín phiếu này từ bạn, họ sẽ trả lại bạn tiền của bạn trừ đi lãi suất. Tất cả chỉ có thế. Không có thay đổi về cung tiền. Cũng chẳng có thay đổi nào khác ngoại trừ khoản lãi suất mà bạn được hưởng. Nếu chính phủ xóa bỏ đi những khoản tín phiếu này, thì tất cả những gì họ đang làm là thay đổi cấu trúc công nợ của họ. Họ không thay đổi số lượng của công nợ.
Trước đây, Ben Bernanke đã từng giải thích rằng, ông ta không làm tăng thêm một đồng tiền nào vào hệ thống thông qua QE cả: “Hiện nay, những gì mà ở đây dự trữ là những khoản tiền gửi cực kỳ cần thiết mà những ngân hàng thương mại và Fed đang nắm giữ, vì vậy đôi lúc khi bạn nghe được rằng Fed đang in tiền, điều nó không thực sự đang diễn ra, số lượng tiền đang lưu thông không hề thay đổi. Điều đang xảy ra là: những ngân hàng đang nắm giữ nhiều hơn và dự trữ nhiều hơn cùng với Fed.”
phochungkhoan.vn
Cơ chế vận hành của QE
(Nguồn: Internet)

Điều này là rất quan trọng, bởi vì hàng triệu nhà đầu tư đang đánh cuộc vào một sự lạm phát mà là tác động của QE. Nhưng một lần nữa, như là ông Bernanke đã nói, không có một cơ sở nào để tin rằng QE tạo ra lạm phát. Tại sao vậy? Tại vì chương trình này không làm tăng thêm những tài sản tài chính mới cho khu vực tư nhân. Những tài sản này thực sự đã tồn tại từ trước đó. Chúng chỉ đơn thuần là chuyển đổi sang thành dự trữ trái phiếu. Những tài sản này mang lại cho các ngân hàng một tài khoản thanh toán thay vì một tài khoản tiết kiệm. Điều này có nghĩa là gì? Nếu Ngân hàng A sở hưux một tín hiếu có lãi suất 1.2% trong 5 năm, và họ bán tín phiếu đó cho Fed, họ sẽ nhận được khoản dự trữ thu nhập với lãi suất 0.25%. Tài khoản tiết kiệm của họ được đổi thành một tài khoản thanh toán. Điều thay đổi ở đây là gì? Không gì cả, ngoại trừ kỳ hạn và lãi suất trên giấy tờ đó. Số lượng tài sản của hệ thống vẫn như cũ. Bạn có thể theo dõi sự mô tả trong bảng dưới đây:


Như những gì mà bạn được thấy ở bảng trên, giá trị tài sản tài chính ròng là không đổi. Đó chỉ đơn thuần là sự thay đổi các thành phần của bảng cân đối ngân hàng. Câu hỏi logic mà hầu như tất cả mọi người đều hỏi là: “Fed lấy tiền ở đâu để mua trái phiếu?” Fed không lấy tiền ở đâu cả. Nhưng đó cũng không phải là khoản tiền mới được bơm vào khu vực tư nhân, đó chỉ là sự chuyển đổi giữa những tài sản đã tồn tại từ trước. Vì thế, khi bạn nghe được rằng, những ngân hàng đã được đổ thêm tiền để hoạt động thì điều đó là sai sự thật. Họ chỉ có 0.2% giá trị của tín phiếu đó, và nó không bị thay đổi trên thị trường dù cho họ có muốn đến thế nào đi nữa. Thị trường không có hỏa lực mạnh hơn nhờ QE, tất cả những gì Fed thay đổi là kỳ hạn của các khoản công nợ của chính phủ Mỹ. Fed thu mua một loại tài sản và cũng quản lý một khoản công nợ mới, nhưng giao dịch này không thay đổi giá trị tài sản tài chính ròng của hệ thống.
Điểm quan trọng ở đây là, một quan điểm hoạt động của Fed sẽ thực sự không làm thay đổi nguồn cung tiền. Có thể sẽ có một số thay đổi nhỏ ở thị trường trái phiếu khi Fed mua vào, nhưng điều này sẽ được bù trừ bởi vì, sự thực là khu vực tư nhân sẽ bị mất khoản lãi suất thu nhập mà họ đáng lý ra sẽ có. Ví dụ, ở chương trình QE1, Fed loại bỏ 1.2 nghìn tỷ đô trong tài sản của khối tư nhân. Hầu hết số tài sản này là những khoản có giá trị lớn. Chúng ta biết rằng Fed đã thu lợi xấp xỉ 50 tỷ đô cho Ngân khố Mỹ từ chương trình QE1. Những ngân hàng đã nhận lại được những gì? Họ nhận được những tài khoản thanh toán từ thu nhập của Fed với lãi suất 0.25%, có giá trị khoảng 2.5 tỷ đô nhờ QE1. Vì vậy khu vực tư nhân đã mất khoảng 47.5 tỷ đô từ lãi suất thu nhập mà đáng ra họ thu được.
Vì vậy, bây giờ, bạn tự hỏi chính mình: vì cái quái gì mà họ lại làm điều này? Giả định rằng, QE thay đổi cấu trúc của thị trường trái phiếu, và khi có ít những tín phiếu với kì hạn 5 năm, thì lượng lãi suất được trả cho các khoản tín phiếu này cũng ít hơn, và điều này làm cho các khoản vay, cho vay và những loại tài sản khác trở nên cuốn hút hơn. Nếu bạn bán trái phiếu của bạn cho Fed và nhận được khoản tiền lãi suất thấp, bạn sẽ muốn cân bằng lại danh mục đầu tư của bạn. Nhưng giá cả mà bạn mua những chứng khoán đó lại hoàn toàn phụ thuộc vào nguyên tắc cơ bản của chúng và giá cả mà bạn và người bán thỏa thuận với nhau. Nếu bạn sốt sắng và đặt lệnh mua những tài sản rủi ro cao chỉ bởi rằng bạn nghĩ rằng Fed đang in tiền, thì bạn đang mắc một sai lầm. Và nếu bạn mua cổ phiếu dù cho nền tảng cơ bản của chúng không đổi, thì bạn cũng đang mắc một sai lầm.
Đây thực sự là một cái nhìn tốt nhất về giá cả của thi trường hàng hóa ở thời điểm hiện tại khi mà những nhà đầu tư đang rất hứng khởi từ việc được cho là “in tiền” và mua vào những tài sản hữu hình. Ví dụ, giá cả cà phê đã tăng 70% từ khi QE bắt đầu dù cho Howard Schultz, CEO của Starbucks nói rằng nền tảng của ngành cà phê không hề thay đổi trong 2 tháng trước đó. Ông cam đoan rằng đây là lỗi lầm của những nhà đầu cơ. Thị trường có làm việc không hiệu quả vào thời gian đó không? Chắc chắn. Hãy nhìn vào khoảng thời gian đó, và chúng ta có thể cảm ơn Fed vì đã tạo ra bong bong trong thị trường hàng hóa. Chủ trương đầu cơ quá mức đã gây nên sự lũng đoạn nghiêm trọng trong thị trường, lái giá đôla xuống và tặng thưởng những nhà đầu cơ vì những dự báo tài chính.
phochungkhoan.vn
QE bị hiểu nhầm là một hình thức bơm tiền vào thị trường
(Nguồn: Internet)
Fed đã gây ra sự kích động hàng loạt chỉ bởi việc giảm lãi suất với mức chênh lệch cực nhỏ. Tóm lại thì, không có thêm tiền được bơm vào hệ thống từ chương trình QE. Không có thêm một hỏa lực nào được tạo ra trong việc mua chứng khoán. Hi vọng rằng, những giải thích trên đây đã rõ ràng với bạn đọc. Điều này là được biểu hiện rõ ràng nhất ở Nhật Bản, nơi mà QE đã gây ra sự tăng trưởng chứng khoán lên đến 17% khi mà những nhà đầu cơ tăng tỷ lệ đòn bẩy, bị kẹt ở mức giá đó và sau đó nhận ra rằng việc giảm nhẹ lãi suất thực sự không làm thay đổi điều gì cả. Điều gì đã diễn ra sau đó? Thị trường chứng khoán của họ đã giảm trên 40% trong 2 năm tiếp theo. QE không phải là một sự kiện lớn nhưng nó gây ra biến động cực lớn. Tất cả những gì nó làm là làm biết chuyển thị trường một cách tạm thời và gây ra rất nhiều sự nhầm lẫn.

Ngòi nổ từ gói Nới lỏng định lượng - Quantitative Easing (QE)

Những hiểu lầm xoay quanh chính sách tiền tệ của gói QE đã tác động thực sự nghiêm trọng đến nền kinh tế. Bài viết này sẽ đề cập đến ngòi nổ từ gói Nới lỏng định lượng (QE)
Theo phochungkhoan.vn
Trước tiên cần phải làm rõ điều này: gói QE của Mỹ không được tài trợ bằng nguồn chi tiêu của chính phủ. Đây đúng hơn là một quan điểm không chính thống, nhưng chính phủ không gặp khó khăn khi tự tài trợ cho chính mình. Họ thu mua các quỹ bằng cách yêu cầu các Đại lý sơ cấp(Primary Dealer) mời chào tại một cuộc đấu giá. Bằng chứng khởi điểm trong những năm gần đây là các đại lý cơ sở đang đi trước những yêu cầu này.Vì vậy, thực tế việc Fed mua trái phiếu không nên được xem như là một hoạt động tài trợ. Thay vào đó, nó là một hình thức của hoạt động tiền tệ tiêu chuẩn, tương tự như những gì Fed đã làm với tỷ lệ lãi suất qua đêm(Overnight interest rate) tại đường cong lãi suất ngắn hạn (short end of the curve).
phochungkhoan.vn
Hoa Kỳ có quyền lực lớn nhất đối với đồng đô la Mỹ
(Nguồn: Internet)
Chìa khóa để hiểu biết QE tập trung vào những điểm chính sau đây:
·        Bởi vì Hoa Kỳ có quyền lực lớn nhất đối với đồng đô la Mỹ, chính phủ nước này lúc nào cũng có thể thu mua các quỹ bằng cách sử dụng những đại lý sơ cấp để đấu giá trái phiếu. Vì vậy, thật hoang đường khi cho rằng QE là hình thức tiền tệ hóa. Thay vào đó, QE có tác dụng như là một hoạt động lãi suất nhằm hạ thấp lãi suất dài hạn tương tự như cách mà chính sách tiền tệ đã tác động đến đường cong lãi suất ngắn hạn (lãi suất có kỳ hạn dưới 1 năm).
·        QE ở châu Âu có thể thực sự phát huy tác dụng vì bản chất nó là một hình thức của chính sách tài khóa giúp tài trợ cho các quốc gia trong khu vực châu Âu (hoặc ít nhất là giúp họ tránh bị mất nguồn tài trợ). Tương tự như việc Fed mua lại trái phiếu đô thị từ các bang đang gặp khó khăn trên cả nước do những bang này không thể tiếp cận với nguồn tài trợ liên bang  (về cơ bản đây mới chính là hình thức “in tiền” và là một phần của chính sách tài khóa).
·        Hình thức mua lại nợ chính phủ của QE không phải là “in tiền” hay "kiếm tiền từ các khoản nợ". Nó là một sự hoán đổi hoặc thay đổi các thành phần của tài sản tài chính trong khu vực tư nhân. Không có bất cứ tài sản tài chính mới nào được thêm vào. Khu vực tư nhân dự trữ tiền và Fed nắm giữ trái phiếu. Lỗ ròng là sự khác biệt trong thu nhập từ lãi suất. Nhưng khu vực tư nhân không nhận được nhiều tiền hơn.
·        Các ngân hàng không bao giờ cho vay lượng tiền dự trữ vì dự trữ nhiều hơn không có nghĩa là cho vay nhiều hơn. Cho vay tạo ra tiền gửi. Việc nhân thêm tiền là hoang đường. Đây là lý do tại sao QE1 và QE2 đã không tạo ra một sự đột biến trong các khoản cho vay hoặc lạm phát.
·        Hiệu ứng thịnh vượng (wealth effect) trong thị trường chứng khoán là hoang tưởng. Lỗ hổng trong chính sách Nới lỏng định lượng là nó làm giảm số lượng chứng khoán cụ thể để buộc các nhà đầu tư thoát khỏi vị thế tài sản này (bán trái phiếu) và nắm giữ một loại tài sản khác (dự trữ tiền mặt). Điều này có thể làm tăng giá cả (nghĩa là tăng lạm phát), nhưng không nhất thiết phải làm tăng yếu tố cơ bản (nghĩa là không tăng lượng tiền thực). Nó không chỉ không giống như việc mua lại cổ phiếu và tác động trực tiếp của nó làm tăng giá, mà còn không gây ảnh hướng đến các công ty cơ sở.
·        Tái cân bằng danh mục đầu tư hiệu quả của QE có thể gây ra sự mất cân bằng đáng kể trong nền kinh tế. Chúng ta thấy điều này trong QE2 khi các chuyên gia liên tục dự đoán rằng QE đã gây ra sự mất cân bằng trong giá trái phiếu và hàng hóa. Và khi gói QE thực sự được tung ra vào năm 2010, thị trường gẫn như biến thành một cơn ác mộng.
Ben Bernanke giải thích rằng nới lỏng định lượng không gây ra lạm phát mà chỉ là việc hoán đổi tài sản.
Ben Bernanke đã đến Đại học Jacksonville để thảo luận về Cục dự trữ liên bang (Federal Reserve ) với các sinh viên đại học. Đây thực sự là một cuộc thảo luận rất tuyệt vời. Ông nêu chi tiết từng bước một về cuộc khủng hoảng ngân hàng và cung cấp một lời giải thích rất rõ ràng về vai trò của Fed trong cuộc khủng hoảng. Ông xác nhận hầu hết những gì tôi đã lặp đi lặp lại trong nhiều tuần nay.

phochungkhoan,vn
Barack Obama và Ben Bernanke
(Nguồn: Internet)
Tuy nhiên, quan trọng nhất, ông giải thích những gì Fed đang thực hiện để tiến về phía trước. Ông đã thực thi một số điểm quan trọng:
·        Ông giải thích rằng, Fed"không in tiền". Họ chỉ đơn thuần là đang trao đổi tiền gửi trong ngân khố. Như ông đã đề cập trong chuyên mục xã luận của mình, không có lý do để tin rằng hoạt động này gây ra lạm phát. Nó làm thay đổi thời hạn nợ còn tồn đọng và không có gì khác ngoài điều đó. Nới lỏng định lượng không gây lạm phát.
·        Ông nói rằng việc tăng giá cả hàng hóa (hoàn toàn do các nhà đầu cơ và việc không thay đổi các yếu tố cơ bản gây ra) không đáng lo ngại, không đáng bận tâm vì sự trì trệ trong nền kinh tế sẽ ngăn việc truyền dẫn lạm phát vào chi phí của người tiêu dùng. Thật không may, tôi nghĩ rằng Chủ tịch không chú ý tới thực tế rằng các công ty sẽ ít thuê mướn nhân công hơn khi họ thấy lợi nhuận của họ bị vắt kiệt (nghĩa là tỷ lệ thất nghiệp sẽ tăng). Đây là một vấn đề quan trọng mà Chủ tịch đang phải đối mặt. Không ngạc nhiên khi biết rằng dường như ông đang xem xét môi trường này dưới góc độ của một học giả hơn là một chủ doanh nghiệp. Đây là một bằng chứng cho thấy ông là không đủ tiêu chuẩn cho vị trí này.
·        Chủ tịch chứng minh rằng ông hoàn toàn không hiểu các chức năng của hệ thống tiền tệ Mỹ khi ông nói rằng nước Mỹ tương tự như Nhật Bản vì Mỹ có nợ chính phủ (nợ công) cao. Ông cho rằng các quỹ tại Nhật Bản có những khoản nợ nội bộ, hàm ý về sự hạn chế trong khả năng thanh toán. Bernanke tiếp tục giải thích rằng thâm hụt ngân sách của Mỹ tạo ra rủi ro cho đất nước, mặc dù trước đó ông đã giải thích việc lạm phát cao không phải là một vấn đề. Rõ ràng, Chủ tịch tin rằng bảng cân đối của chính phủ không khác so với một bảng cân đối hộ gia đình. Điều đó chứng tỏ rằng  ông đã có sai lầm nghiêm trọng từ trước khi chính sách bắt đầu.
Chú thích:Trong kinh tế học, hiệu ứng tài sản (tiếng Anh: Wealth effect) (có tài liệu tiếng Việt gọi là hiệu ứng của cải, hiệu ứng thịnh vượng, ảnh hưởng của sự giàu có, v.v...) chỉ sự điều chỉnhtiêu dùng của cá nhân khi thấy giá trị tài sản (nhất là nhà ở, chứng khoán) của mình thay đổi. Người tiêu dùng có thể tiêu dùng nhiều hơn khi có nhiều tài sản hơn, và có thể tiêu dùng ít đi nếu tài sản bị giảm đi.
Tuy liên quan đến hành vi tiêu dùng của cá nhân, song hiện tượng hiệu ứng tài sản thường được quan tâm hơn trong kinh tế học vĩ mô khi tranh luận về tác động của các chính sách kinh tế và hiện tượng kinh tế tới tổng cầu.
Các nghiên cứu thực nghiệm cho đến nay vẫn đưa ra kết quả không thống nhất về việc hiệu ứng tài sản có ý nghĩa thống kê (statistically significant) hay không.

Gói nới lỏng định lượng QE và những ảnh hưởng đến giá vàng

Theo Phochungkhoan.vn

Một trong những động lực khiến giá vàng bứt phá trong thời gian vừa qua chính là nhờ tác động không nhỏ của gói nới lỏng định lượng – QE.
Những yếu tố có thể ảnh hưởng đến giá vàng
Trước hết, vàng là một loại hàng hóa, do đó dao động của giá vàng phải được xem xét dựa trên các yếu tố tác động của cung và cầu. Có rất nhiều yếu tố có thể ảnh hưởng đến giá vàng, trong đó quan trọng nhất có thể kể đến như: Lạm phát, giá dầu, giá trị đồng USD, tình hình kinh tế thế giới, nguồn cung…Trong đó, có thể dễ dàng nhận thấy tác động chủ yếu đến từ nền kinh tế đứng đầu thế giới, Mỹ.
Tại sao vàng lại trở thành kim loại quan trọng hàng đầu trong thị trường tài chính?
Vàng, được biết như một kim loại quý thuộc hàng quan trọng nhất trên thế giới, phục vụ nhu cầu tâm linh, chế tác trang sức, thanh toán… Nhưng một vai trò quan trọng khác của vàng chính là một loại “lá chắn” dùng để “bảo vệ” nhà đầu tư trước biến động của lạm phát, những biến động và khủng hoảng kinh tế.Trong thời kỳ lạm phát cao, tiền giấy mất giá người ta có xu hướng đầu tư vào vàng để giữ giá trị tài sản, vàng là tài sản hữu hiệu để tích trữ và giá trị không tùy thuộc vào sức khỏe bất kỳ nền kinh tế nào. Vàng là công cụ tài chính hữu hiệu để phòng ngừa lạm phát. Thông thường để đối phó với tình trạng lạm phát tăng cao, thị trường có khuynh hướng mua vàng với kỳ vọng giá trị tài sản sẽ không bị giảm sút .Các quỹ đầu tư, đầu cơ cũng mua vàng với mục tiêu là sử dụng vàng như một phần tài sản đảm bảo giá trị quỹ trong trường hợp lạm phát cao hay kinh tế suy thoái, giá chứng khoán sụt giảm. Chính vì thế, bất cứ biến động nào có thể tác động khiến lạm phát có xu hướng đi lên đều có thể ảnh hưởng đến giá vàng. 
Quay ngược lại thời điểm cuối năm 2008, Cơn địa chấn tài chính thực sự nổ ra vào ngày 7/9 khi hai nhà cho vay cầm cố khổng lồ của Mỹ là Freddie Mac và Fannie Mae buộc phải được Chính phủ tiếp quản để tránh khỏi nguy cơ phá sản. Và sau đó vài ngày, vào ngày 15/9, Ngân hàng Đầu tư lớn thứ 4 nước Mỹ Lehman Brothers sau 158 năm tồn tại đã tuyên bố phá sản. Đúng 10 ngày sau, Washington Mutual tạo nên vụ phá sản ngân hàng lớn nhất trong lịch sử với tổng tài sản thiệt hại lên tới 307 tỷ đôla. Ngoài ra, do khủng hoảng tài chính, ngân hàng đầu tư số một nước Mỹ, Merill Lynch cũng bị thâu tóm bởi Bank of America. Chính phủ đã buộc phải bơm 85 tỷ đôla vào AIG, tập đoàn bảo hiểm lớn nhất thế giới, để tránh cho thị trường tài chính nước này một kết cục tồi tệ hơn. Cuộc khủng hoảng không chỉ ảnh hưởng nên nước Mỹ mà còn có sức lan tỏa mạnh mẽ đối với cả thế giới, khiến kinh tế thế giới bị ảnh hưởng nghiêm trọng và rơi vào vòng xoáy khủng hoảng.
Để đối phó lại với cuộc khủng hoảng, chính phủ các nền kinh tế lớn đồng loạt cắt giảm lãi suất cơ bản để khơi thông dòng vốn đang bị tắc nghẽn, nới lỏng tín dụng, đồng thời, bơm tiền vào nền kinh tế ngày càng mạnh để cứu nguy. Với nền kinh tế hàng đầu thế giới, Mỹ, đã thực hiện 8 lần cắt giảm lãi suất cơ bản từ mức 5% xuống còn 0,25%. Đến khi việc cắt giảm lãi suất không còn mang lại hiệu quả khi nền kinh tế Mỹ tiếp tục rơi vào suy thoái, FED đã thực hiện các gói nới lỏng định lưỡng – gọi tắt là QE. Với mục đích mua lại các tài sản tài chính từ các ngân hàng thương mại và các tổ chức tín dụng khác trong nền kinh tế. Tính đến thời điểm hiện nay, FED đã thực hiện 3 gói nới lỏng định lượng QE khác nhau. Đây chính là các FED gián tiếp tác động vào nền kinh tế thông qua việc “hỗ trợ” thanh khoản, cũng như khả năng mở rộng tín dụng cho hệ thông ngân hàng, cộng với việc duy trì lãi suất cơ bản ở mức siêu thấp, FED đã tạo điều kiện để các ngân hàng khuyến khích cho vay sản xuất và tiêu dùng đối với nền kinh tế. Tạo sức bật để phục hồi nền kinh tế đang ngày càng trì trệ.
Việc sử dụng các gói QE của Mỹ, cũng như động thái cắt giảm lãi suất cơ bản và bơm tiền vào nền kinh tế của những nền kinh tế lớn trên thế giới đã khiến mức lạm phát mục tiêu của toàn thế giới tăng lên. Như đã phân tích ở trên, kinh tế thế giới khủng hoảng, lạm phát mục tiêu có chiều hướng tăng lên do FED sử dụng gói nới lỏng định lượng - QE, đồng USD mất giá do sự suy yếu chung của nền kinh tế và động thái cắt giảm lãi suất cơ bản xuống sát mức 0% của Mỹ là những điều kiện để giá vàng tạo nên sự bứt phá ngoạn mục và đạt mức kỷ lục hơn 1900 USD/oz.
Tác động của QE đến giá vàng
Như đã phân tích ở bài trước về bản chất thực sự của QE đến nền kinh tế Mỹ. FED không hề in thêm tiền để đưa vào nền kinh tế, đơn giản chỉ là việc thay đổi các con số trên các khoản mục tại bảng cân đối của FED và của các ngân hàng thương mại. Nhưng chính điều đó khiến hệ thống ngân hàng ở Mỹ có thêm một lượng vốn không nhỏ để mở rộng tín dụng, cho vay tiêu dùng và sản xuất. Chính điều này đã có tác động không nhỏ đến giá trị của đồng USD và lạm phát tại Mỹ - 2 yếu tố được coi là căn nguyên khiến giá vàng liên tục lập đỉnh kể từ 2008.
Thứ nhất, tác động đến giá trị của đồng USD. Khi xem xét giá trị đồng USD, người ta thường đánh giá thông qua nền kinh tế Mỹ, đó là tình trạng thị trường nhà ở, thị trường lao động, thị trường tín dụng và thị trường vốn. Ngoài ra, một chỉ báo không thể không kể đến khi đánh giá giá trị đồng USD, đó là quyết định về lãi suất của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (FED). Bất kỳ quyết định nào ảnh hưởng đến việc tăng hay giảm, giữ nguyên lãi suất của Mỹ do FED công bố qua các kỳ họp của Ủy ban Thị trường mở Liên bang (FOMC) đều tác động trực tiếp và mạnh mẽ đến giá trị đồng USD. Dù quyết định tăng/giảm lãi suất của FED với mục đích kích thích hay kìm hãm tốc độ phát triển của nền kinh tế hay nhằm giải quyết các vấn đề khác thì trong ngắn hạn hay tức thời, quyết định tăng/giảm lãi suất của Mỹ cũng sẽ làm tăng/giảm giá trị của đồng USD do trong ngắn hạn hay tức thời, giá trị của đồng USD được nâng lên/hạ xuống so với các ngoại tệ khác trong mối tương quan so sánh.
Giá trị của đồng USD đã sụt giảm so với các đồng tiền chủ chốt khác sau khi FED thực hiện gói nới lỏng định lượng QE và quyết định duy trì lãi suất cơ bản ở mức siêu thấp gần 0%. Về bản chất, giá trị của bất cứ hàng hóa nào cũng do cung – cầu quyết định, và với tiền tệ - một loại hàng hóa đặc biệt cũng không phải là ngoại lệ. Việc FED duy trì mức lãi suất cơ bản gần 0% có thể hiểu đơn giản sẽ khiến đồng USD trở nên kém hấp dẫn hơn so với các ngoại tệ khác, trong khi đó việc thực hiện QE có thể thay đổi mức lạm phát mục tiêu của Mỹ, khiến mức lạm phát dự tính có xu hướng tăng lên do việc mở rộng tín dụng khuyến khích tiêu dùng có thể làm tổng cầu của nền kinh tế Mỹ tăng lên, từ đó làm giảm giá đồng USD.
Mặt khác, đồng USD được coi như đồng tiền thông dụng nhất trên thế giới, dùng để định giá chung cho hầu hết các tài sản khác nhau, bao gồm cả vàng. Đồng USD giảm giá khiến vàng bị định giá thấp, và động thái tự điều chỉnh cho phù hợp với giá trị thật của giá vàng sẽ khiến giá vàng tăng giá.
Thứ hai,tác động đến lạm phát từ QE. Như đã phân tích ở bài trước, lạm phát sau khi Mỹ áp dụng gói nới lỏng định lượng – QE sẽ có xu hướng tăng lên do việc các ngân hàng có thể mở rộng tín dụng tiêu dùng và sản xuất ngày càng mạnh. Như vậy, đây chính là điều kiện để Vàng có thể phát huy vai trò như một “tấm lá chắn” bảo vệ tài sản cho những nhà đầu tư. Điều này khiến cầu về vàng của các quỹ tín thác và đầu tư trên toàn thế giới tăng mạnh nhằm duy trì tài sản của các quỹ, mà theo quy luật cung cầu, khi cung về vàng không có sự đột biến trong khi cầu tăng sẽ dẫn đến giá của vàng cũng sẽ tăng.
Điều này đã được thể hiện rõ qua đồ thị của giá vàng trong thời gian 5 năm qua.Những yếu tố có thể ảnh hưởng đến giá vàng
Trước hết, vàng là một loại hàng hóa, do đó dao động của giá vàng phải được xem xét dựa trên các yếu tố tác động của cung và cầu. Có rất nhiều yếu tố có thể ảnh hưởng đến giá vàng, trong đó quan trọng nhất có thể kể đến như: Lạm phát, giá dầu, giá trị đồng USD, tình hình kinh tế thế giới, nguồn cung…Trong đó, có thể dễ dàng nhận thấy tác động chủ yếu đến từ nền kinh tế đứng đầu thế giới, Mỹ.
Tại sao vàng lại trở thành kim loại quan trọng hàng đầu trong thị trường tài chính?
Vàng, được biết như một kim loại quý thuộc hàng quan trọng nhất trên thế giới, phục vụ nhu cầu tâm linh, chế tác trang sức, thanh toán… Nhưng một vai trò quan trọng khác của vàng chính là một loại “lá chắn” dùng để “bảo vệ” nhà đầu tư trước biến động của lạm phát, những biến động và khủng hoảng kinh tế.Trong thời kỳ lạm phát cao, tiền giấy mất giá người ta có xu hướng đầu tư vào vàng để giữ giá trị tài sản, vàng là tài sản hữu hiệu để tích trữ và giá trị không tùy thuộc vào sức khỏe bất kỳ nền kinh tế nào. Vàng là công cụ tài chính hữu hiệu để phòng ngừa lạm phát. Thông thường để đối phó với tình trạng lạm phát tăng cao, thị trường có khuynh hướng mua vàng với kỳ vọng giá trị tài sản sẽ không bị giảm sút .Các quỹ đầu tư, đầu cơ cũng mua vàng với mục tiêu là sử dụng vàng như một phần tài sản đảm bảo giá trị quỹ trong trường hợp lạm phát cao hay kinh tế suy thoái, giá chứng khoán sụt giảm. Chính vì thế, bất cứ biến động nào có thể tác động khiến lạm phát có xu hướng đi lên đều có thể ảnh hưởng đến giá vàng. 
Quay ngược lại thời điểm cuối năm 2008, Cơn địa chấn tài chính thực sự nổ ra vào ngày 7/9 khi hai nhà cho vay cầm cố khổng lồ của Mỹ là Freddie Mac và Fannie Mae buộc phải được Chính phủ tiếp quản để tránh khỏi nguy cơ phá sản. Và sau đó vài ngày, vào ngày 15/9, Ngân hàng Đầu tư lớn thứ 4 nước Mỹ Lehman Brothers sau 158 năm tồn tại đã tuyên bố phá sản. Đúng 10 ngày sau, Washington Mutual tạo nên vụ phá sản ngân hàng lớn nhất trong lịch sử với tổng tài sản thiệt hại lên tới 307 tỷ đôla. Ngoài ra, do khủng hoảng tài chính, ngân hàng đầu tư số một nước Mỹ, Merill Lynch cũng bị thâu tóm bởi Bank of America. Chính phủ đã buộc phải bơm 85 tỷ đôla vào AIG, tập đoàn bảo hiểm lớn nhất thế giới, để tránh cho thị trường tài chính nước này một kết cục tồi tệ hơn. Cuộc khủng hoảng không chỉ ảnh hưởng nên nước Mỹ mà còn có sức lan tỏa mạnh mẽ đối với cả thế giới, khiến kinh tế thế giới bị ảnh hưởng nghiêm trọng và rơi vào vòng xoáy khủng hoảng.
Để đối phó lại với cuộc khủng hoảng, chính phủ các nền kinh tế lớn đồng loạt cắt giảm lãi suất cơ bản để khơi thông dòng vốn đang bị tắc nghẽn, nới lỏng tín dụng, đồng thời, bơm tiền vào nền kinh tế ngày càng mạnh để cứu nguy. Với nền kinh tế hàng đầu thế giới, Mỹ, đã thực hiện 8 lần cắt giảm lãi suất cơ bản từ mức 5% xuống còn 0,25%. Đến khi việc cắt giảm lãi suất không còn mang lại hiệu quả khi nền kinh tế Mỹ tiếp tục rơi vào suy thoái, FED đã thực hiện các gói nới lỏng định lưỡng – gọi tắt là QE. Với mục đích mua lại các tài sản tài chính từ các ngân hàng thương mại và các tổ chức tín dụng khác trong nền kinh tế. Tính đến thời điểm hiện nay, FED đã thực hiện 3 gói nới lỏng định lượng QE khác nhau. Đây chính là các FED gián tiếp tác động vào nền kinh tế thông qua việc “hỗ trợ” thanh khoản, cũng như khả năng mở rộng tín dụng cho hệ thông ngân hàng, cộng với việc duy trì lãi suất cơ bản ở mức siêu thấp, FED đã tạo điều kiện để các ngân hàng khuyến khích cho vay sản xuất và tiêu dùng đối với nền kinh tế. Tạo sức bật để phục hồi nền kinh tế đang ngày càng trì trệ.
Việc sử dụng các gói QE của Mỹ, cũng như động thái cắt giảm lãi suất cơ bản và bơm tiền vào nền kinh tế của những nền kinh tế lớn trên thế giới đã khiến mức lạm phát mục tiêu của toàn thế giới tăng lên. Như đã phân tích ở trên, kinh tế thế giới khủng hoảng, lạm phát mục tiêu có chiều hướng tăng lên do FED sử dụng gói nới lỏng định lượng - QE, đồng USD mất giá do sự suy yếu chung của nền kinh tế và động thái cắt giảm lãi suất cơ bản xuống sát mức 0% của Mỹ là những điều kiện để giá vàng tạo nên sự bứt phá ngoạn mục và đạt mức kỷ lục hơn 1900 USD/oz.
Tác động của QE đến giá vàng
Như đã phân tích ở bài trước về bản chất thực sự của QE đến nền kinh tế Mỹ. FED không hề in thêm tiền để đưa vào nền kinh tế, đơn giản chỉ là việc thay đổi các con số trên các khoản mục tại bảng cân đối của FED và của các ngân hàng thương mại. Nhưng chính điều đó khiến hệ thống ngân hàng ở Mỹ có thêm một lượng vốn không nhỏ để mở rộng tín dụng, cho vay tiêu dùng và sản xuất. Chính điều này đã có tác động không nhỏ đến giá trị của đồng USD và lạm phát tại Mỹ - 2 yếu tố được coi là căn nguyên khiến giá vàng liên tục lập đỉnh kể từ 2008.
Thứ nhất, tác động đến giá trị của đồng USD. Khi xem xét giá trị đồng USD, người ta thường đánh giá thông qua nền kinh tế Mỹ, đó là tình trạng thị trường nhà ở, thị trường lao động, thị trường tín dụng và thị trường vốn. Ngoài ra, một chỉ báo không thể không kể đến khi đánh giá giá trị đồng USD, đó là quyết định về lãi suất của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (FED). Bất kỳ quyết định nào ảnh hưởng đến việc tăng hay giảm, giữ nguyên lãi suất của Mỹ do FED công bố qua các kỳ họp của Ủy ban Thị trường mở Liên bang (FOMC) đều tác động trực tiếp và mạnh mẽ đến giá trị đồng USD. Dù quyết định tăng/giảm lãi suất của FED với mục đích kích thích hay kìm hãm tốc độ phát triển của nền kinh tế hay nhằm giải quyết các vấn đề khác thì trong ngắn hạn hay tức thời, quyết định tăng/giảm lãi suất của Mỹ cũng sẽ làm tăng/giảm giá trị của đồng USD do trong ngắn hạn hay tức thời, giá trị của đồng USD được nâng lên/hạ xuống so với các ngoại tệ khác trong mối tương quan so sánh.
Giá trị của đồng USD đã sụt giảm so với các đồng tiền chủ chốt khác sau khi FED thực hiện gói nới lỏng định lượng QE và quyết định duy trì lãi suất cơ bản ở mức siêu thấp gần 0%. Về bản chất, giá trị của bất cứ hàng hóa nào cũng do cung – cầu quyết định, và với tiền tệ - một loại hàng hóa đặc biệt cũng không phải là ngoại lệ. Việc FED duy trì mức lãi suất cơ bản gần 0% có thể hiểu đơn giản sẽ khiến đồng USD trở nên kém hấp dẫn hơn so với các ngoại tệ khác, trong khi đó việc thực hiện QE có thể thay đổi mức lạm phát mục tiêu của Mỹ, khiến mức lạm phát dự tính có xu hướng tăng lên do việc mở rộng tín dụng khuyến khích tiêu dùng có thể làm tổng cầu của nền kinh tế Mỹ tăng lên, từ đó làm giảm giá đồng USD.
Mặt khác, đồng USD được coi như đồng tiền thông dụng nhất trên thế giới, dùng để định giá chung cho hầu hết các tài sản khác nhau, bao gồm cả vàng. Đồng USD giảm giá khiến vàng bị định giá thấp, và động thái tự điều chỉnh cho phù hợp với giá trị thật của giá vàng sẽ khiến giá vàng tăng giá.
Thứ hai,tác động đến lạm phát từ QE. Như đã phân tích ở bài trước, lạm phát sau khi Mỹ áp dụng gói nới lỏng định lượng – QE sẽ có xu hướng tăng lên do việc các ngân hàng có thể mở rộng tín dụng tiêu dùng và sản xuất ngày càng mạnh. Như vậy, đây chính là điều kiện để Vàng có thể phát huy vai trò như một “tấm lá chắn” bảo vệ tài sản cho những nhà đầu tư. Điều này khiến cầu về vàng của các quỹ tín thác và đầu tư trên toàn thế giới tăng mạnh nhằm duy trì tài sản của các quỹ, mà theo quy luật cung cầu, khi cung về vàng không có sự đột biến trong khi cầu tăng sẽ dẫn đến giá của vàng cũng sẽ tăng.
Điều này đã được thể hiện rõ qua đồ thị của giá vàng trong thời gian 5 năm qua.
Nguồn: Bloomberg.com
Thực sự hay bong bóng
Những kỳ vọng về lạm phát, sự sụt giảm giá trị của đồng USD, nhu cầu vàng tăng mạnh ở India, China là những nguyên nhân chính tạo lực đẩy cho giá vàng. Tuy nhiên, mối lo ngại thực sự khi vàng bắt đầu bị định giá cao hơn rất nhiều so với giá trị thực của nó. Mức độ lạm phát của Mỹ cũng như thế giới không có nhiều sự thay đổi sau khi các nền kinh tế lớn tiền hành các hoạt động nhằm vực dậy nền kinh tế cũng như QE được sử dụng. Mức lạm phát tại Mỹ hiện tại vẫn còn cách khá xa so với mức mục tiêu 2,5% mà FED đề ra, trong khi mức lạm phát của thế giới không có sự bứt phá quá mạnh nào khi các nền kinh tế gần như vẫn đang nằm trong khủng hoảng. Thậm chí, mối lo ngại về giảm phát bắt đầu được đề cập đến ở những nền kinh tế mới. Trong khi đó, giá vàng đã có mức tăng mạnh mẽ, so với mức giá tại thời điểm 2009, thì mức kỷ lục của giá vàng năm 2011 có mức tăng lớn hơn 100%.
Chính vì những lo ngại về bong bóng vàng đang xảy ra, cũng như những thông tin FED có thể giảm dần và dừng gói nới lỏng định lượng QE trong thời điểm kể từ cuối năm nay. Giá vàng ngay lập tức đã có những phiên lao đốc, trong đó kỷ lục về sự sụt giảm liên tục bị phá. 

Biều đồ giá vàng từ tháng 4 đến nay (Nguồn: Bloomberg.com)
Đây là thời điểm mà các quỹ tín thác cũng như các quỹ đầu tư “quay lưng” lại với vàng, xu hướng bán tháo diễn ra liên tục kể từ đầu năm và không có chiều hướng giảm do những lo ngại về bong bóng vàng đã đến thời điểm then chốt cuối cùng. Giá vàng hiện tại đã vượt xa giá trị vốn có của bản thân nó. FED dừng QE 3 được coi như “chiếc kim” để phá vỡ quả bong bóng đó.
Như vậy có thể thấy, các gói nới lỏng định lượng của FED – QE chính là một trong các nguyên nhân đưa giá vàng bứt phá kể từ thời kỳ 2008 – 2009 đến nay.

Đau đớn thay phận đàn ông...

Theo Toithichdoc Blog's

Đau đớn thay phận đàn ông...
Bản năng từ thời tiền sử "buộc" đàn ông... thích ngắm gái
Ba đồng một chục đàn ông
Chị bỏ vào lồng chị xách đi chơi!
Đến ngang vũng lội đánh rơi
Nó bò lổm ngổm mỗi nơi mỗi thằng
*
Lượm free một tá đàn ông
Để bò, để chổng, để chồng lên chơi.
Khi nào khó ở trong người
Lôi ra đấm đá xả hơi đỡ buồn...





Bản năng từ thời tiền sử "buộc"
đàn ông... thích ngắm gái
Đàn ông thích ngắm phụ nữ lạ vì từ thời nguyên thủy, nam giới phải tối đa hóa khả năng sinh sản của họ bằng cách giao phối với nhiều nữ giới. Bản năng đó vẫn tồn tại tới tận ngày nay.
Liếc hay tán tỉnh phụ nữ lạ khi đi cùng vợ, người yêu là hành vi khá phổ biến ở nam giới. Phụ nữ thường tỏ ra khó chịu về hành vi này, song họ không thể giải thích nguyên nhân khiến các chàng chú ý tới những cô gái khác dù đang sánh vai cùng một phụ nữ xinh đẹp.


Để tìm hiểu hiện tượng ấy, một số nhà nghiên cứu của Đại học Stirling và Đại học Glasgow tại Scotland tuyển nhiều đàn ông và phụ nữ để thực hiện một thử nghiệm. Họ yêu cầu các tình nguyện viên nam xem hàng chục ảnh phụ nữ và các tình nguyện viên nữ xem hàng chục ảnh nam giới. Sau đó nhóm tình nguyện viên đánh giá mức độ hấp dẫn của từng khuôn mặt trong ảnh.


Kết quả cho thấy phụ nữ đánh giá cao những khuôn mặt nam giới có nét giống những khuôn mặt mà họ từng thấy. Mức độ hấp dẫn của những khuôn mặt không đổi sau khi họ nhìn nhiều lần. Ngược lại, nam giới thích những khuôn mặt phụ nữ không giống với những khuôn mặt mà họ từng thấy. Điểm thú vị là họ cảm thấy mức độ hấp dẫn của mọi khuôn mặt đều giảm sau khi họ nhìn lần thứ hai trở lên.

Nhóm nghiên cứu cho rằng đàn ông thích ngắm phụ nữ lạ vì từ thời nguyên thủy, nam giới phải tối đa hóa khả năng sinh sản của họ bằng cách giao phối với nhiều nữ giới. Bản năng đó vẫn tồn tại tới tận ngày nay.

"Nam giới cảm thấy những khuôn mặt phụ nữ mà họ từng nhìn không còn hấp dẫn như khi họ thấy lần đầu tiên. Xu hướng này thể hiện rõ rệt trong những mối quan hệ ngắn hạn. Trên thực tế, bản năng thôi thúc nam giới tìm kiếm nhiều bạn tình bởi khả năng làm cha của họ sẽ tăng nếu họ có quan hệ tình cảm với nhiều nữ giới", Anthony Little, một nhà nghiên cứu của Đại học Stirling, phát biểu.

***************

Trong Lễ Ký có câu:
- “Khi đàn bà nói với bạn, bạn hãy mỉm cười mà đừng tin họ”.
Racine nói:
- “Họ lơ mơ, họ lưỡng lự, nói tắt một tiếng, họ là đàn bà”.
J. Giraudoux cay cú hơn:
- “Thượng Đế đã để cho một thiên thần được phép thảo luận với mình, do đó mới nảy ra một quỷ vương sa-tăng. Đàn ông đã để cho vợ mình được phép thảo luận với mình, do đó mà nảy ra người đàn bà.”
C. Mermet nói:
- “Đàn bà ngủ, không làm hại ai hết.”

Bốn câu danh ngôn trên đều tỏ ra bất công đối với phái nữ, một bất công không thể tha thứ đối với quan niệm của các bà.
Với người viết bài nầy, đàn bà là một sinh vật vô cùng dễ thương, là một bông hoa làm rực rỡ cuộc đời, làm thăng hoa đời sống, là một dòng suối mát làm dịu đi những buồn phiền của đàn ông.
Người Trung Hoa ngày xưa, khi “ngôn ngữ còn ăn đong”, để chỉ sự yên ổn của tâm hồn, họ dùng nhóm chữ “người đàn-bà-ở-trong-nhà.” Có lẽ vì vậy mà nhiều cụ đã anh dũng giới thiệu vợ mình với khách Mỹ:
- “Đây là nhà tôi,” khiến mấy chú Sam phải giựt mắt lia lịa và buột miệng hỏi:
- “Thế cái cửa ra vào ở chỗ nào?”.
Tuy nghe như “vịt nghe sấm” nhưng theo truyền thống lịch sự ngoại giao đã có hơn hai trăm năm, chú Sam cũng cúi đầu, chào rất lễ phép:
- “Nice to meet you”.
Người đàn bà quan trọng như vậy, dịu dàng và dễ thương như vậy, tại sao có lắm cụ tỏ ra cay cú với các bà như thế. Để trả lời câu hỏi nầy, chúng ta thử tìm hiểu sinh vật dễ thương nầy đến từ đâu?

Theo Thánh Kinh thì người đàn bà được tạo ra bằng chiếc xương sườn của đàn ông. Mục đích Chúa tạo ra bà Eve là để giúp đỡ và mang hạnh phúc đến cho Adam. Trong Sáng Thế Ký, chương 2:18, Giê-hô-va Đức Chúa Trời phán rằng:
- “Loài người ở một mình thì không tốt, ta sẽ làm nên một kẻ giúp đỡ giống như nó.”
Thế là có người đàn bà.


Và khi Adam đã có một người giúp đỡ giống như mình rồi, Chúa lại cẩn thận dạy bà Eve cách cư xử với chồng.
Trong sách Ê-phê-sô chương 5, câu 22,23,24 như sau:
- “Hỡi kẻ làm vợ, phải vâng phục chồng mình như vâng phục Chúa, vì chồng là đầu vợ, khác nào Đấng Christ là đầu Hội Thánh. Hội Thánh là thân thể Ngài và Ngài là Cứu Chúa của Hội Thánh. Ấy vậy như Hội Thánh phục dưới Đấng Christ thì đàn bà phải phục dưới quyền chồng mình trong mọi sự.”.

Nhưng trong thực tế, đàn bà có tuân phục chồng mình trong mọi sự chăng? Đàn bà có mang hạnh phúc đến cho chồng chăng?

7 CON SỐ CẦN BIẾT TRONG KINH DOANH

Hiểu rõ các con số” là một trong số những lưu ý tối quan trọng đối với những người làm kinh doanh.


Những con số là ngôn ngữ của kinh doanh, là yếu tố cuối cùng quyết định làm nên thành công của công ty. Kinh doanh đơn giản có thể hiểu là một trò chơi với những con số, vậy những con số bạn nên biết là gì?

Dưới đây là 7 số liệu giúp đo lường và quản lý doanh số và lợi nhuận tốt hơn:

1.Giá trị suốt đời của mỗi khách hàng

Có nhiều công thức phức tạp hơn để xác định giá trị này, tuy nhiên dưới đây là phiên bản đơn giảnnhất:
Nếu trung bình khách hàng mỗi lần mua hàng chi 20 USD , mua ba lần một năm và trung thành với doanh nghiệp trong năm năm, giá trị suốt đời của khách hàng cho doanh nghiệp là 300 USD.
20 USD x 3 doanh số bán hàng = 60 USD
60 USD x 5 năm = 300 USD

2. Phải tốn bao nhiêu để thu hút một khách hàng mới?

Đây có thể gọi là chi phí để thu hút khách hàng (CPA) nó có thể giúp xác định công ty cần chi bao nhiêu vào bất kỳ thị trường hay chiến dịch quảng cáo nào. Giả dụ công ty đã đặt một quảng cáo trong tờ báo địa phương với giá 200 USD. Sau đó, họ nhận được 20 câu trả lời và 10 khách hàng nhận mua. Chi phí mua lại cho mỗi khách hàng là 20 USD (200/10 = 20).

Nếu mỗi lần bán đem lại lợi nhuận ít nhất 20 USD thì bạn đã chạy một chiến dịch thành công. Nhưng nếu CPA của bạn là 20 USD và bạn có ít hoặc không có lợi nhuận thì đây là lúc để đánh giá lại chiến dịch marketing của bạn.

3. Tỷ lệ chuyển đổi

Giả dụ bạn phát tờ rơi trên đường phố. Trong khoảng thời gian 2 tuần , chiến dịch quảng cáo này mang lại cho bạn 1.000 khách hàng tiềm năng và trong đó có 100 người đã thực sự mua hàng . Tỷ lệ lúc này là 10% ( 1000/100 khách hàng mới = 10% tỷ lệ khách thanh toán mua hàng).
Hãy cố gắng tính toán sai sót trong quá trình bán hàng của bạn, tăng dịch vụ khách hàng, thu hẹp mục tiêu của bạn hoặc tạo ra một lời đề nghị tốt hơn. Biết mình đang ở đâu sẽ giúp bạn đi tới thành công.

4. Doanh thu trung bình

Giá trị của mỗi lần bán hàng đóng vai trò quan trọng trong việc xoay vòng vốn hay gia tăng doanh số bán ra , nói cách khác đó là chiến lược “Bạn có muốn dùng kèm thêm gì không?”.
Những sản phẩm đi kèm thêm đơn giản có thể làm doanh thu tăng một cách nhanh chóng. Ví dụ, một bữa ăn với khuyến mại và đồ uống đi kèm có thể tăng doanh thu trung bình từ 5,42 USD đến 13,11 USD. Chỉ với 1 thủ thuật đơn giản, bạn có thể dễ dàng làm cho tổng doanh thu tăng lên 144% chỉ trong một vài tuần.

5. Tỷ lệ phản hồi

Tỷ lệ trả lời email thông thường sẽ thay đổi từ 1% (trường hợp sử dụng danh sách email khách hàng từ một nhà môi giới) lên đến 5% (trường hợp sử dụng danh sách các khách hàng trong quá khứ và hiện tại).

Tỷ lệ trả lời email xấp xỉ khoảng 1%. Điều đó có nghĩa là để nhận được 50 phản hồi cho một lần gửi thư trực tiếp thông thường, bạn sẽ cần phải gửi ít nhất đến 5.000 khách hàng với một lời đề nghị tuyệt vời.

Như vậy để có được 50 phản hồi từ một chiến dịch gửi email, bạn sẽ cần ít nhất 50.000 địa chỉ hòm thư của 50.000 khách hàng, và tất nhiên những phản hồi này sẽ không chỉ kết thúc trong một lần giao dịch.

6. Hiệu suất mua hàng

Nếu bạn đang trong 1 mô hình B2B (B2B là viết tắt của thuật ngữ Business To Business – mô hình kinh doanh thương mại điện tử trong đó giao dịch xảy ra trực tiếp giữa các doanh nghiệp với nhau) cung ứng các loại hình dịch vụ chuyên nghiệp hoặc sở hữu một chu trình bán hàng dài hạn. Hiệu suất mua hàng sẽ giúp bạn khoanh vùng những khách hàng tiềm năng có khả năng mua hàng cao.

Hãy thử tưởng tượng bạn thành lập một công ty bảo hiểm, công ty của bạn cần 10 khách hàng triển vọng để thiết kế 5 cuộc hẹn và có được 1 khách hàng thực sự . Vậy thì để có được 1.000 khách hàng bạn cần khảo sát 10.000 người.

Nếu tỷ lệ chuyển đổi là 20%, bạn có thể thêm giá trị, bảo hiểm hoặc một số cách khác để giảm thiểu rủi ro thực sự hay nhận thức để tăng tỷ lệ chuyển đổi của bạn đến một tỷ lệ 05:02 hoặc 05:03.

7. Gặp mặt và liên lạc để bán hàng

Khách hàng tiềm năng cần bao nhiêu lần gặp gỡ hay liên lạc trước khi mua hàng? Quy luật nói chung trong kinh doanh là:
· 2% doanh số bán được thực hiện trên số liên lạc đầu tiên
· 3% doanh số bán được thực hiện trên số liên lạc thứ hai
· 5% doanh số bán được thực hiện trên số liên lạc thứ ba
· 10% doanh số bán được thực hiện trên số liên lạc thứ tư
· 80% doanh số bán được thực hiện trên số liên lạc thứ năm

Như vậy trung bình bạn cần ít nhất 4-7 lần gặp mặt hoặc liên lạc với khách hàng để bán được sản phẩm. Tuy nhiên bạn cần biết khi nào nên dừng lại đúng lúc để thực hiện giao dịch với khách hàng, đó là khi họ quan tâm và chủ động tìm đến bạn.

Kết luận:
Nắm rõ con số và biết sử dụng chúng đúng nơi đúng chỗ thực sự giúp bạn đưa ra những quyết định sáng suốt, cũng như có thể dự đoán doanh nghiệp của bạn sẽ ra sao trong tương lai một cách dễ dàng hơn.

Phong Linh
Theo Trí Thức Trẻ/Entrepren