July 10, 2013

(3) Khi doanh nghiệp phải trực diện khủng hoảng

LỜI NHẮN CỦA TÔN TỬ
(Bài 3 trong loạt bài “Khi Doanh Nghiệp Phải Trực Diện Khủng Hoảng)
T/S Alan Phan
30/6/2013
Sau khi doanh nhân đã có một tầm nhìn chiến lược dài hạn và tìm ra một sản phẩm hay dịch vụ sáng tạo, bước kế tiếp là hoạch định một kế hoạch bài bản để thực hiện ý tưởng mình. Hai yếu tố cốt lõi trong quy trình này (a) nghiên cứu và vẽ ra một sơ đồ cho hành trình sắp đến, càng chi tiết càng tốt và (b) biết rõ lợi thế cạnh tranh của mình để tìm nguồn lực đang thiếu cho dự án theo đuổi.
Bản đồ cho hành trình
Với tư cách một nhà đầu tư hay dù chỉ là một nhà tư vấn độc lập, tôi luôn đòi hỏi mọi đối tác hay khách hàng làm một kế hoạch kinh doanh (business plan) bài bản và xúc tích. Bạn đồng hành nào muốn tôi leo lên chiếc xe đi từ Los Angeles đến New York phải có một bản đồ rõ ràng (bây giờ là máy định vị GPS). Nếu không, tôi sẽ từ chối không đi.
Lái xe qua những đêm khuya, dưới cơn bão tố, mà không biết trước từng con đường từng bước ngoặt, thì hậu quả nhỏ nhất cũng là những cuộc đi lạc mất nhiều thì giờ. Cuộc đời (làm ăn) thì quá ngắn, lo đối phó với những đột xuất bất ngờ đã mệt cầm hơi, không ai còn tâm trí sức khỏe đâu để lo giải quyết những vấn đề bình thường có thể lên kế hoạch trước.
Một kế hoạch kinh doanh do đó là cuốn chỉ nam phải tham khảo hàng tuần cho các doanh nhân khởi nghiệp và phải được điều chỉnh mỗi ba tháng hoặc khi có những sự cố làm thay đổi con đường trước mặt. Với một doanh nghiệp đang hoạt động, đội ngũ quản lý cũng rất cần một cuốn chỉ nam như vậy để cập nhật hóa những tiến bộ thành quả; cũng như những sai trật cần điều chỉnh. Kế hoạch cho một doanh nghiệp đã hoạt động thường phải chi tiết hơn với những trải nghiệm thực tế và những kết quả rõ ràng về tài chánh hay thị trường.
Dù ở vị trí nào, đang vững mạnh, đang cầm cự, đang đuối sức hay đang bắt đầu, kế hoạch kinh doanh sẽ giúp cho mọi doanh nghiệp “định vị” mình trong biển lớn; và giúp duy trì hay cải tạo tầm nhìn chiến lược trong trận chiến, thường hay bị nhiễu sóng vì số lượng thông tin và những vấn nạn hàng ngày trong điều hành.

Sức mạnh của kế hoạch
Tôi còn nhớ khoảng 1998, tôi được một nhóm bạn Mỹ gốc Hoa mời đi theo để tư vấn khi công ty mới lập của họ, Hello Asia, đi gặp một quỹ đầu tư mạo hiểm. Tôi không có chút kỳ vọng gì vì tất cả tài sản của công ty (chưa hoạt động) chỉ là một bản kế hoạch kinh doanh. Nào ngờ trong cái môi trường bong bóng của hiện tượng dotcom, quỹ đầu tư đã đồng ý góp 10 triệu USD cho một ý tưởng trên 100 trang giấy.
Sản phẩm đầu tiên của họ là một hệ thống Email miễn phí, gọi asiamail. Đây là một cóp nhặt từ hotmail.com (Microsoft vừa mua lại) và đang triển khai rất mạnh trên thị trường (yahoo chưa tham dự và google chưa chào đời). Chúng tôi đùa nhau là mỗi trang giấy các anh viết trị giá 100 ngàn đô, hơn tác giả của bất cứ cuốn sách best seller nào.
Kế hoạch phải chi tiết nhưng khoa học
Một kế hoạch kinh doanh thường không đòi hỏi nhiều thời gian hay nguồn lực như phần lớn doanh nhân giả định. Dĩ nhiên, trong những trường hợp khởi nghiệp với sự eo hẹp về kiến thức trong ngành nghề, các doanh nhân cần một thời gian dài để nghiên cứu (ít nhất là 3 tháng trên Net và thư viện, qua các buổi hội họp với tư vấn hay đồng nghiệp, các cơ quan chánh phủ hay viện đại học…).
Còn khi đã hoạt động hay đã nắm vững nhiều kiến thức trong nghề, các doanh nhân khác chỉ cần mất hơn vài tuần là đã có những dữ kiện, thông tin…chính xác để kết cấu thành những phân tích về sản phẩm, về thị trường, về công nghệ, về tài chánh…
Bản kế hoạch kinh doanh thường chia ra thành 5 phần chính: sản phẩm hay dịch vụ, thị trường và đối thủ cạnh tranh, công nghệ hay quy trình sản xuất cùng nhu cầu về cơ sở, thiết bị, ban quản lý và nhân lực. Sau cùng là phân tích sâu rộng về thực trạng tài chánh cũng như nhu cầu và dự phóng của dòng tiền.
Chúng ta có thể dò tìm trên Google về kế hoạch kinh doanh tiêu biểu cho bất cứ ngành nào,  bất cứ tầm cỡ nào…để làm một khuôn mẫu. Quỹ đầu tư của tôi thì dùng phần mềm BusinessPlan Pro…rất dễ sử dụng, mua chỉ có hơn 400 đô la. Cả trăm phần mềm khác, rẻ hay đắt hơn, chào bán đầy trên Amazon.com (đây là nhà bán lẻ qua mạng thâu tiền của cá nhân tôi nhiều nhất). Còn nếu dị ứng (hay lười) với các cách thức trên, doanh nhân có thể thuê một công ty tư vấn để hoàn tất.
Ứng dụng vào thực tại
Có kế hoạch kinh doanh rồi, chúng ta mới có đủ dữ kiện khách quan để tiến hành một quy trình vô cùng quan trọng: đó là một phân tích SWOT. Viết tắt của bốn chữ, STRENGTH (điểm mạnh) WEAKNESS (điểm yếu) OPPORTUNITIES (cơ hội) THREATS (đe dọa rủi ro), SWOT cho ta một góc nhìn tổng thể về vị thế của doanh nghiệp trên thương trường. Hai yếu tố strength và weakness là nội tại; và hai yếu tố opportunities và threats là những tác động từ bên ngoài.
Khi làm SWOT một cách chân thực và minh bạch là khi ta biết nghe lời nhắn của Tôn Tử: “biết người biết ta, trăm trận trăm thắng”.
Bài học lớn nhất rút ra từ SWOT là chúng ta có “lợi thế cạnh tranh” gì? Làm thế nào để tối ưu hóa điểm mạnh? Làm thế nào để tăng lực và khắc phục điểm yếu? Làm thế nào để lợi dụng những cơ hội mới hay cũ? Làm thế nào để phản ứng và trung hòa các rủi ro? Khi ban quản lý của doanh nghiệp nắm vững các câu trả lời, họ sẽ có những giải pháp cho phần lớn các vấn đề mà không cần phải bỏ số tiền lớn mời chuyên gia hay tư vấn. Hơn ai hết, họ là những người biết và sống thực với các vấn đề này hàng ngày, hàng tuần…có khi cả một đời người.
Những thí dụ điển hình
Hãng Skoda của Cộng Hòa Czech sản xuất xe đạp từ 1895. Trải qua bao biến cố từ 2 thế chiến, vài cuộc khủng hoảng quốc gia và toàn cầu, bị Liên Xô hóa, Skoda vẫn âm thầm phát triển. Khi CS Đông Âu sụp đổ vào 1989, Skoda là một thương hiệu nổi tiếng và nắm vị trí số 1 ở Đông Âu. Tuy nhiên, khi đem những chiếc xe mộc mạc của XHCN mà cạnh tranh với xe Đức, xe Nhật, xe Mỹ…thì xe Skoda trở thành một trò cười.
Trực diện với khủng hoảng, Skoda thuê hãng tư vấn McKinsey làm một phân tích SWOT để định vị và tìm giải pháp. Một liên doanh thành công với Volkswagen sau đó, rồi công nghệ và thiết kế mới, cùng một ban quản trị chấp nhận cởi mở và kinh tế thị trường, đã giúp Skoda hồi phục và phát triển. Hiện nay, Skoda có 8 nhà máy khắp thế giới tại những thị trường mới nổi như Trung Quốc, Ấn Độ, Nga…với một doanh thu hơn 13 tỷ USD.
Hãng bán thức ăn nhanh của Mỹ, KFC, ngày xưa có tên gọi là Kentucky Fried Chicken. Sau khi hãng thuốc lá RJR bán cho PepsiCo, KFC đi từ khủng hoảng này đến khủng hoảng khác, vì nhiều lý do, từ sản phẩm đến ban quản lý, từ sự thua mất thị phần đến thiếu vốn khi PepsiCo bán lại cho nhóm tư nhân nhỏ. Dựa trên SWOT, ban quản lý tái cấu trúc toàn diện: thay đổi tên hiệu, cải tiến sản phẩm và đem KFC ra biển lớn, nhất là xâm nhập thật sớm vào Trung Quốc. Ngày nay, với 37 ngàn cửa tiệm, chuỗi KFC đã vượt qua McDonald để dẫn đầu ngành fast foods trên thế giới.
Một lời nữa từ Tôn Tử
Biết mình và biết người qua kế hoạch kinh doanh và SWOT là một định vị thiết yếu để sinh tồn và thăng hoa trên thương trường. Các nhà tỷ phú thế giới như Lý Gia Thành hay Donald Trump lập đi lập lại lời của Tôn Tử về ta và địch, về lấy yếu của ta biến thành mạnh và ngược lại. Tuy nhiên, tôi lại suy ngẫm và đắc ý nhiều hơn về một câu nói khác,” Cơ hội để giúp ta tránh thất bại nằm trong tay ta; nhưng cơ hội để chiến thắng đối thủ lại nằm trong tay họ”.
Alan Phan
T/S Alan Phan là tác giả của 9 cuốn sách về thị trường mới nổi, giảng viên thỉnh giảng tại các đại học Mỹ và Trung Quốc, và doanh nhân có 44 năm làm ăn tại Mỹ và Trung Quốc. Web site cá nhân của ông là www.gocnhinalan.com.

July 9, 2013

Rủi ro tài chính của Trung Hoa

Thứ hai, ngày 08 tháng bảy năm 2013
RỦI RO TÀI CHÍNH CỦA TRUNG HOA




Bài viết của bà Zhang Monan là một thành viên của Trung tâm Thông tin Trung Hoa, một thành viên của Quỹ Nghiên cứu Quốc tế Trung Hoa, và một nhà nghiên cứu tại Diễn đàn Nghiên cứu kinh tế vĩ mô Trung Hoa.


Bài viết gốc: China’s Risky Finances

BẮC KINH - Trong những năm tới, Chính phủ Trung Hoa sẽ phải đối đầu với những thách thức quan trọng để đạt được tăng trưởng kinh tế ổn định, toàn diện và bền vững. Nhưng, với việc gắn những rủi ro ngân khố và tài chính đe dọa làm hỏng những nỗ lực của mình, các nhà hoạch định chính sách phải hành động nhanh chóng để thiết kế và thực hiện thận trọng, những chính sách hướng tới tương lai.


Mối đe dọa trung và dài hạn quan trọng nhất cho vị trí ngân khố của Trung Hoa nằm trong hệ thống bảo lãnh ngầm mà chính phủ trung ương đã tạo ra cho các khoản nợ chính phủ địa phương. Trong bối cảnh của cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu, chính quyền địa phương vay mượn rất nhiều từ các ngân hàng để hỗ trợ chương trình kích thích kinh tế khổng lồ của Trung Hoa, nó lên đến 10.700 tỷ nhân dân tệ (tương đương 1.700 tỷ USD), đó là giá trị nợ vào năm 2011.

Các nhà lãnh đạo Trung Hoa hy vọng sẽ kiểm soát những rủi ro tiềm tàng bắt nguồn từ những phương tiện đầu tư của chính phủ địa phương (LGIVs: local-government investment vehicles) bằng cách hạn chế ngân hàng cho vay. Dư nợ cho vay ngân hàng đến LGIVs chỉ tăng nhẹ trong năm 2012, lên 9,3 nghìn tỷ nhân dân tệ(¥), từ 9,1 nghìn tỷ ¥ trong năm 2011. Và Ủy ban điều tiết ngân hàng Trung Hoa đã kêu gọi các ngân hàng duy trì hạn ngạch cho vay LGIVs cho năm cuối cùng 2013, và để đảm bảo sự cân bằng tổng thể của các khoản vay cho LGIVs không vượt quá tổng số của cuối năm 2011.

Nhưng LGIVs đã nhận được một số lượng lớn tài chính trong năm 2012 bằng cách phát hành trái phiếu và các khoản vay tín chấp. Điều này bao gồm 250 tỷ nhân dân tệ (¥) vào trái phiếu chính phủ địa phương, 636,8 tỷ ¥ trong trái phiếu đầu tư đô thị, và những dự án gây quỹ tin cậy hợp tác kỹ thuật tổng cộng 501,6 tỷ ¥, nó tăng so với cùng kỳ năm 2011 với con số tương ứng lần lượt là 50 tỷ ¥, 380,6 tỷ ¥ và 247,9 tỷ ¥.

Tuy nhiên, ngay cả với các quỹ này, chính quyền địa phương cũng đã phải đấu tranh chỉ để đủ sống. Những cải cách thuế thực hiện vào năm 1994 gây ra cho doanh thu thường niên của ngân khố quốc gia về thị phần của chính quyền địa phương giảm dần, từ 78% trong năm 1993 xuống còn 52% trong năm 2011. Thế nhưng, so với cùng kỳ, thị phần của tổng số chi tiêu chính phủ lại tăng từ 72% đến 85%.

Sự cần thiết phải lấp đầy khoảng trống hậu quả đã buộc chính quyền địa phương phụ thuộc vào việc bán đất. Nhưng thu nhập liên quan đến đất đã giảm mạnh trong hai năm qua, từ 32% tổng doanh thu trong năm 2010 xuống còn 20% trong năm 2012. Các biện pháp bắt buộc của chính quyền trung ương để kiểm soát làm sao cho giá bất động sản tăng mạnh sẽ tiếp tục củng cố xu hướng này, nó làm áp lực gia tăng trên doanh thu cho chính phủ địa phương.

Nguy cơ xuất phát từ nợ của chính phủ địa phương ngày càng trầm trọng hơn bởi số lượng lớn các khoản nợ không rõ ràng thu được thông qua nợ khó đòi, tín dụng và bảo lãnh. Khi chính quyền địa phương không còn khả năng lo toan nợ của nó, là lúc chính quyền trung ương sẽ phải đặt khả năng tài chính của mình bằng cách nhận lấy trách nhiệm có nguy cơ.

Ổn định ngân khố của Trung Hoa cũng đang bị đe dọa, khi người cho vay chuyển sang kênh không chính thức để phá vỡ các quy định của chính phủ chặt chẽ hơn hệ thống ngân hàng chính thức. Có lẽ là rủi ro lớn nhất xuất phát từ hệ thống tín dụng đen(shadow banking system) phát triển nhanh chóng của Trung Hoa.

Hệ thống tín dụng đen có thể được thực hiện thông qua các khoản vay tín chấp (mở rộng của các công ty uy tín), ủy thác cho vay (tín dụng từ công ty đến công ty được môi giới bỡi các tổ chức tài chính), các giấy bảo lãnh ngân hàng (công ty đã ban hành dự thảo hoặc các hóa đơn được xác nhận bởi các ngân hàng), và trái phiếu doanh nghiệp (nợ được bảo lãnh bỡi các công ty trực tiếp từ nhà đầu tư). Kết hợp giá trị các khoảng này đạt đến 5.900 tỷ ¥ vào năm 2012, dẫn đầu là trái phiếu doanh nghiệp (khoảng 2.300 tỷ ¥).

Cho vay mới của các công ty tín chấp - nó đã tăng hơn 400% trong năm 2012 - đã tạo ra nguy cơ đáng kể cho khả năng thanh toán ở Trung Hoa, người ta cho rằng đó là hậu quả của việc thường xuyên mở rộng cho các đối tượng có nguy cơ cao, bao gồm cả các nhà phát triển bất động sản và LGIVs. Một sự trói buộc trong tình trạng vỡ nợ có thể gây bất ổn cho toàn bộ hệ thống tài chính và kích hoạt một cuộc suy thoái kinh tế. Và cho vay tín chấp gắn liền với những khoảng vay cho những phương tiện đầu tư ở chính quyền địa phương được những đảm bảo ngầm tương tự từ chính quyền trung ương khi vay vốn ngân hàng chính thức.

Cũng như vậy, các ngân hàng chính quy đang cố gắng để tránh các quy định mới bằng cách cho vay giá cắt cổ(ramping up) nằm ngoài cân đối kế toán cho vay(off-balance-sheet lending). Thật vậy, tình trạng ngày càng phổ biến các khoảng cho vay bị cho ra ngoài bảng cân đối kế toán của các ngân hàng vượt quá tín dụng mới phát hành trong bảng cân đối kế toán. Trong năm 2011-2012, cho vay như vậy tăng 1.100 tỷ ¥, đạt 3.600 tỷ ¥ (chiếm 23% tổng số tài chính ngân hàng), trong khi đó cân đối kế toán cho vay chỉ tăng 732 tỷ ¥.

Nhưng tín dụng đen thường là tiềm ẩn và không chắc chắn, nó làm cho dễ bị tổn thương đến vỡ nợ(default). Nếu phải đối mặt với những mất mát, các ngân hàng có thể lựa chọn để bảo vệ danh tiếng của họ bằng cách sử dụng các quỹ chính thức để trả nợ, chuyển giao rủi ro trên bảng cân đối của họ.

Tổng quát hơn, sự mở rộng nhanh chóng của tín dụng có nguy cơ làm tăng áp lực lạm phát và thúc đẩy sự hình thành bong bóng tài sản. Ngược lại, khi các cơ quan tiền tệ thắt chặt tín dụng quá nhanh, giá tài sản trở nên dễ bốc hơi hơn, dẫn đến nợ xấu lớn hơn và gây ra những cú sốc kinh tế.

Bây giờ, chính phủ Trung Hoa phải thực hiện những chính sách kinh tế vĩ mô thận trọng để giảm thiểu sự leo thang của những rủi ro sau này. Ổn định tài chính ngân hàng trung và dài hạn sẽ đòi hỏi các chính sách tài khoản cho sự chênh lệch ngày càng tăng giữa nguồn thu ngân sách, mà GDP đang bị tăng trưởng chậm lại, và các chi phí, mà sẽ được đẩy lên do cắt giảm thuế cơ cấu và tăng chi tiêu phúc lợi xã hội.

Để quản lý áp lực ngày càng tăng về tài chính công, Trung Hoa phải thiết lập những hệ thống tài chính kiềm chế và ngân quỹ công có hiệu quả cao. Để chấm dứt tình trạng này, chính phủ phải thắt chặt giám sát tài chính, cải thiện quản lý ngân sách, và nâng cao hiệu quả hoạt động của chính sách tài khóa.

Trung Hoa cũng cần có một mô hình tài chính mới cho các dự án cơ sở hạ tầng. Hệ thống hiện tại phụ thuộc nhiều vào các khoản vay LGIVs và chi tiêu tài chính. Nhưng các chính quyền địa phương không thể tiếp tục dựa vào doanh thu từ việc bán đất để trả nợ hoặc hỗ trợ chi tiêu hiện hành. Các kênh tài chính ổn định và tăng cường hiệu lực hơn của tiêu chuẩn hoạt động là rất cần thiết để hỗ trợ cho việc đô thị hóa nhanh chóng.

Khi chính sách tài khóa và tài chính thận trọng từng bước ổn định nền kinh tế của Trung Hoa, chính sách tiền tệ phải duy trì sự trung lập. Nới lỏng chính sách tiền tệ sẽ làm tăng đáng kể nguy cơ xuất phát từ nợ chính phủ địa phương và tín dụng đen, trong khi đó chính sách thắt chặt tiền tệ sẽ thể hiện đầy đủ những rủi ro, đặt ra một mối đe dọa hệ thống nghiêm trọng.

Với sự cân bằng đúng của tầm nhìn và sự thận trọng, các nhà lãnh đạo Trung Hoa có thể giải quyết sự tích tụ rủi ro ngân khố và tài chính. Nếu không hành động dứt khoát, lãnh đạo của nền kinh tế toàn cầu trong tương lai của Trung Hoa sẽ cheo leo trong thế cân bằng.


@Project Syndicate 04 July, 2013

Bánh Mì Và Sự Thật

Tác giả: Tưởng N Tiến


Sứ mệnh cao cả của nhà báo là kiếm tìm sự thật. Sự thật ấy phải được phản ánh đạt tính chân thật, tức là “đúng hiện thực khách quan”. Và sự thật ấy phải được soi dọi bằng lương tâm chức nghiệp. Tôi nhớ người Nga có một câu ngạn ngữ vô cùng chí lí: “Một nửa cái bánh mỳ vẫn là bánh mỳ, nhưng một nửa sự thật đã là sự giả dối!”
-Ngọc Niên, Tổng Biên Tập trang Nhà Báo & Công Luận – Cơ Quan Trung Ương Hội Nhà Báo Việt Nam

Phần 1 của Sự Thật

Cái gì chớ “nửa cái bánh mì” thì tui ăn đều đều, còn “nửa sự thực” thì tới bữa rồi mới được thưởng thức qua một bài viết (Người đàn bà tặng hơn 5.000 lượng vàng cho cách mạng) của nhà báo Hoàng Thuỳ, trên trang Tin Nhanh Việt Nam:

“Hơn 90% số tiền buôn vải được vợ chồng bà Hồ dùng để ủng hộ cách mạng. Có khi trong nhà không sẵn tiền mà đúng lúc cách mạng cần, bà sẵn sàng bán phá giá vải để gom đủ tiền đưa cho cán bộ.

Ở tuổi 97, bà Hoàng Thị Minh Hồ vẫn giữ nét đẹp của người phụ nữ Hà Nội gốc: Gương mặt phúc hậu, nước da trắng, giọng nói ấm áp và thái độ điềm đạm. Trong ngôi nhà số 34 Hoàng Diệu (Hà Nội), nơi bà sống cùng hai con trai, hai chiếc huân chương độc lập hạng nhất được đặt nơi trang trọng nhất. Bà cho hay, đó là phần thưởng cao quý mà nhà nước dành tặng người chồng quá cố Trịnh Văn Bô và bà vì những đóng góp to lớn cho cách mạng.

Giữ giọng chậm rãi, bà Hồ kể, ngôi nhà số 48 Hàng Ngang của bà trước kia là tiệm vải Phúc Lợi, thuộc loại lớn nhất Hà Nội thời bấy giờ.

Có điều kiện dư dả, hai ông bà thường xuyên làm từ thiện, giúp đỡ người nghèo. Thấy vậy, cán bộ Việt Minh đã đến nhà vận động ông bà đi theo cách mạng. Việt Minh khó khăn, không có tiền ra báo, bà đã ủng hộ 8 vạn rưỡi tiền Đông Dương. Ngôi nhà số 48 Hàng Ngang cũng được chọn làm trụ sở hoạt động của cách mạng.

Bà Hồ cho biết, thân sinh ra bà là cụ Hoàng Đạo Phương và Nguyễn Thị Lợi cũng như thân sinh của chồng bà, cụ Trịnh Phúc Lợi, đều là những nhà Nho yêu nước, từng tham gia Đông Kinh Nghĩa Thục. Tất cả đều đỗ đạt mà không ai làm quan. Cụ Phương khi gần 80 tuổi đã gọi các con lại nói rằng: “Ta đã già mà chưa làm trọn việc nước, sau này con nào có điều kiện giúp nước thì hãy làm thay ta”.

“Lời căn dặn của cha tôi luôn khắc ghi trong lòng. Và khi có điều kiện là tôi giúp nước ngay mà không hề suy nghĩ”, bà Hồ tâm sự.

Ngôi nhà số 48 Hàng Ngang được xây theo kiểu nhà ống cổ, gồm 4 tầng. Tầng một là cửa hàng vải Phúc Lợi nổi tiếng khắp vùng. Khách đến mua đông đúc, xung quanh lại tấp nập người qua lại nên được chọn làm nơi ở cho Bác Hồ cùng những nhà lãnh đạo cách mạng từ chiến khu trở về.

Bà Hồ nhớ, vào một buổi tối cuối tháng 8 năm 1945, ông Nguyễn Lương Bằng đến nhà bảo vợ chồng bà thu xếp một phòng đón cán bộ cách mạng đến ở. Ông bà dọn một phòng tầng 3 tươm tất để đón khách. Tuy nhiên, người khách mới đến lại dọn xuống tầng 2 để ở cùng mọi người cho tiện.

“Ấn tượng đầu tiên của tôi về người khách mới là sự giản dị. Ông cụ hơi gầy, vầng trán cao, râu dài, tóc bạc. Cụ mặc áo nâu, quần soóc nâu, đội mũ dạ, đi dép cao su hiệu con hổ trắng, tay cầm can. Để đảm bảo bí mật, chúng tôi nói với gia nhân rằng họ là người nhà ở dưới quê lên chơi và tất cả đều không được lên tầng 2 làm phiền”, bà Hồ nhớ lại.

33 ngày Bác ở nhà bà (từ 24/8 đến 27/9), bà đều trực tiếp chỉ đạo nhà bếp nấu ăn phục vụ Người. Sau đó, hai vợ chồng bà thay nhau bê lên. Vào 9h hằng ngày, bà thường bê cháo và hoa quả lên cho Bác. Một hôm bà đang định quay gót thì Bác hỏi “Cô tên gì?”. Sau khi bà trả lời, Bác lại nói “Cô còn trẻ mà đã có cơ đồ sự nghiệp, có chồng con, tiền bạc. Cô chẳng có gì khổ cả”.

Nghe vậy bà Hồ khẳng khái nói: “Cháu vẫn có một điều khổ, đó là nỗi nhục mất nước”. Bác cười: “Vậy thì kiên trì và nhẫn nại nhé!”
 

Ông bà Trịnh Văn Bô. Ảnh: Xuân Ba

Phần 2 của Sự Thật

Sau khi “cách mạng” thành công, ông Hồ Chí Minh trở thành chủ tịch nước thì bà Hoàng Thị Minh Hồ lại lâm vào cảnh … mất nhà. Đó là nửa phần sự thực còn lại của câu chuyện mà nhà báo Hoàng Thuỳ đã không kể kết, hay nói một cách không mấy lịch sự là ông ấy “nhất định dấu biến đi cứ y như là mèo dấu cứt” vậy.

Phần nửa sự thực này mới được công luận biết đến qua một tác phẩm mới (Bên Thắng Cuộc) của một nhà báo khác, Huy Đức:

“Năm 1954 từ nơi tản cư trở về, gia đình ông Trịnh Văn Bô không còn một căn nhà nào để ở, cho dù trước đó, ông sở hữu biệt thự nổi tiếng 48 Hàng Ngang và nhiều dinh thự khác như 34 Hoàng Diệu, 24 Nguyễn Gia Thiều, 56-58 Tràng Tiền… Ông Trịnh Văn Bô (1914-1988) là một doanh nhân Việt Nam nổi tiếng giữa thế kỷ 20. Cha ông, ông Trịnh Văn Đường và cha vợ ông, ông Hoàng Đạo Phương, đều là những nhà nho cùng thời với cụ Lương Văn Can, từng đóng góp rất nhiều cho phong trào Đông Kinh Nghĩa Thục.

Ông Trịnh Văn Bô cùng vợ là bà Hoàng Thị Minh Hồ, trong 10 năm, kinh doanh thành công, đưa tài sản của hãng tơ lụa Phúc Lợi tăng lên 100 lần so với ngày thừa kế hãng này từ cha mình. Tơ lụa do Phúc Lợi sản xuất được bán sang Lào, Campuchia, Thái Lan, được các thương nhân Pháp, Anh, Thuỵ Sĩ, Thuỵ Điển, Ấn Độ, Trung Quốc và Nhật Bản tìm kiếm.

Từ năm 1944, gia đình ông nằm trong sự chú ý của những người cộng sản. Ngày 14-11-1944, hai vợ chồng ông bà cùng người con trai cả đồng ý tham gia Việt Minh. Vài tháng sau, ông bà đã mang một vạn đồng Đông Dương ra ủng hộ Mặt trận Việt Minh và từ đó, gia đình ông Trịnh Văn Bô trở thành một nguồn cung cấp tài chánh to lớn cho những người cộng sản. Đến trước Cách mạng tháng Tám, gia đình ông đã ủng hộ Việt Minh 8,5 vạn đồng Đông Dương, tương đương 212,5 cây vàng. Khi những người cộng sản cướp chính quyền, ông bà Trịnh Văn Bô được đưa vào Ban vận động Quỹ Độc lập(298).

Ngày 24-8-1945, khi Chính phủ lâm thời về Hà Nội, Hồ Chí Minh, Trường Chinh, Phạm Văn Đồng, Lê Đức Thọ, Hoàng Quốc Việt, Hoàng Tùng đều đã ở hoặc qua lại ngôi nhà 48 Hàng Ngang. Ba đêm đầu Hồ Chí Minh ngủ trên giường của ông bà Trịnh Văn Bô, sau đó, ông xuống tầng hai, ngủ trên chiếc giường bạt còn các nhà lãnh đạo khác thì kê ghế da hoặc rải chiếu ngủ. Ở tầng trệt, cửa hàng vẫn hoạt động bình thường, ngay cả bảo vệ của Hồ Chí Minh cũng không xuống nhà để tránh gây chú ý. Mọi việc ăn uống đều do bà Trịnh Văn Bô lo, thực khách hàng ngày ngồi kín chiếc bàn ăn 12 chỗ.

Trong suốt từ 24-8 cho đến ngày 2-9-1945 Chủ tịch Hồ Chí Minh hiếm khi ra khỏi nhà 48 Hàng Ngang. Mỗi buổi sáng, cứ sau khi ông tập thể dục xong, bà Trịnh Văn Bô lại đích thân mang thức ăn sáng lên. Bà nhớ, có lần Hồ Chí Minh đã giữ bà lại và hỏi: “Cô bao nhiêu tuổi mà có được gia tài lớn thế này?”

Năm ấy bà 31 tuổi, dù có 4 đứa con nhưng vẫn còn xinh đẹp. Hồ Chí Minh ở lại đây cho đến ngày 27-9-1945. Mỗi khi ra khỏi nhà, Hồ Chí Minh thường xuống tầng dưới vấn an bà mẹ ông Trịnh Văn Bô và gọi bà là mẹ nuôi. Ở 48 Hàng Ngang, Hồ Chí Minh đã ngồi viết bản Tuyên Ngôn Độc Lập và tiếp các sĩ quan OSS (tiền thân của CIA) như Archimedes Patti và Allison Thomas.

Quần áo mà các lãnh đạo Việt Minh bận trong ngày lễ Độc lập, đều do gia đình ông bà cung cấp. Các ông Phạm Văn Đồng, Võ Nguyên Giáp thì mặc đồ của ông Trịnh Văn Bô còn áo của Chủ tịch Hồ Chí Minh thì may bằng vải Phúc Lợi.

Khi Pháp tái chiếm Đông Dương, ông Trịnh Văn Bô theo Chính phủ Kháng chiến lên Việt Bắc còn vợ ông thì mang 5 người con, trong đó có một đứa con nhỏ, cùng với mẹ chồng lên “vùng tự do” Phú Thọ. Những năm ở đó, từ một bậc trâm anh, thế phiệt, bà đã phải cuốc đất trồng khoai và buôn bán để nuôi con.

Năm 1955, gia đình ông Trịnh Văn Bô trở về Hà Nội. Ông bà tiếp tục xoay xở và bắt đầu phải bán dần đồ đạc cũ để nuôi sống gia đình. Lúc này, toàn bộ biệt thự, cửa hàng đều đã bị các cơ quan nhà nước sử dụng hoặc chia cho cán bộ nhân viên ở. Lúc đầu, Nhà nước “mượn” sau tự làm giấy nói gia đình xin hiến, nhưng cụ bà Trịnh Văn Bô bảo: “Tôi không ký”.

Năm 1958, Chủ tịch Hồ Chí Minh cho tiến hành “cải tạo xã hội chủ nghĩa” trên toàn miền Bắc, các nhà tư sản Việt Nam buộc phải giao nhà máy, cơ sở kinh doanh cho Nhà nước. Bà Trịnh Văn Bô lại được kêu gọi “làm gương”, đưa xưởng dệt của bà vào “công tư hợp doanh”. Bà Bô cùng các nhà tư sản được cho học tập để nhận rõ, tài sản mà họ có được là do bóc lột, bây giờ Chính phủ nhân đạo cho làm phó giám đốc trong các nhà máy, xí nghiệp của mình. Không chỉ riêng bà Bô, các nhà tư sản từng nuôi Việt Minh như chủ hãng nước mắm Cát Hải, chủ hãng dệt Cự Doanh cũng chấp nhận hợp doanh và làm phó.

Cho dù được ghi nhận công lao, trong lý lịch các con của ông Trịnh Văn Bô vẫn phải ghi thành phần giai cấp là “tư sản dân tộc”, và rất ít khi hai chữ “dân tộc” được nhắc tới. Con trai ông Trịnh Văn Bô, ông Trịnh Kiến Quốc kể: “Ở trường, các thầy giáo, nhất là giáo viên chính trị, nhìn chị em tôi như những công dân hạng ba. Vào đại học, càng bị kỳ thị vì lượng sinh viên người Hà Nội không còn nhiều.

Trong trường chủ yếu là sinh viên con em cán bộ thuộc thành phần cơ bản từ Nghệ An, Thanh Hoá… những người xếp sinh viên Hải Phòng, Hà Nội vào thứ hạng chót. Chị tôi vào Đại học Bách Khoa, năm 1959, phải đi lao động rèn luyện một năm trên công trường Cổ Ngư, con đường về sau Cụ Hồ đổi thành đường Thanh Niên, và sau đó là lao động trên công trường Hồ Bảy Mẫu”.

Cả gia đình ông Trịnh Văn Bô, sau khi về Hà Nội đã phải ở nhà thuê. Năm 1954, Thiếu tướng Hoàng Văn Thái có làm giấy mượn căn nhà số 34 Hoàng Diệu của ông với thời hạn 2 năm. Nhưng cho đến khi ông Trịnh Văn Bô qua đời, gia đình ông vẫn không đòi lại được.

Bánh mì có thể biến mất sau khi vào dạ dày; nhưng sự thật thì vẫn trường tồn …nhất là trong các đám mây Internet.

July 8, 2013

TS. Alan Phan: Càng nhiều tồn kho, người dân càng thêm lợi


(ĐVO) – “Tôi không biết gì về các Nghị Quyết của chánh phủ. Nhưng nếu họ muốn bơm tiền để xây thêm nhà mới thì cũng chẳng sao vì tiền đã lỡ in và phân phát rồi. Càng nhiều tồn kho thì cơ hội “vỡ” bong bong càng nhiều, giá sẽ xuống và người tiêu dùng sẽ lợi thêm” – Chuyên gia kinh tế TS. Alan Phan cho biết.

30.000 tỷ sẽ không ảnh hưởng gì đến thị trường BĐS
 
PV: NHNN triển khai gói tín dụng kích cầu 30.000 tỷ đã được hơn 1 tháng, nhưng mới chỉ có 2 khách hàng ở BIDV và 6 khách hàng ở Vietcombank tiếp cận được gói này. Trong khi đó đã có 2 doanh nghiệp được giải ngân vốn và 10 doanh nghiệp khác đã được ký kết cho vay 30% của gói 30.000 tỷ. Ông có nhận xét gì về diễn biến này?
TS. Alan Phan: Tôi đã nói nhiều lần là những gói kích cầu BĐS của chánh phủ hoàn toàn không tạo ra một hiệu ứng gì lâu dài cho khủng hoảng BĐS hay nợ xấu. Một vài doanh nghiệp sân sau có thể hưởng lợi, nhưng nói chung, gói 30.000 tỷ này sẽ không ảnh hưởng gì đến giá thị trường của BĐS hay lực mua của người thu nhập thấp.
Tôi đã tránh né bình lụân nhưng đây là lối xài tiền cho một chuyện bất khả thi, đòi hỏi nhiều vốn chính trị và tài chính từ nhiều bộ ngành.
Bên cạnh đó, nhóm lợi ích của ngân hàng cũng đã đưa ra nhiều gói cứu trợ dài suốt mấy năm qua, và Ngân hàng Nhà nước đã hết sức giúp, nhiều khi quá khả năng mình, nhưng đâu vẫn vào đấy: tỷ lệ nợ xấu vẫn quá cao, các báo cáo tài chánh vẫn che giấu nhiều “bộ xương”, sở hữu chéo vẫn lùm xùm, vốn vẫn teo tóp và tổng số tín dụng vẫn yếu kém.
Tôi cho rằng, lý do phần lớn các gói cứu trợ thất bại là vì có quá nhiều vòi bạch tuộc nhảy vào băm xẻ miếng bánh “tiền người khác” nên mục tiêu ban đầu thường bị lãng quên và mọi người liên quan chỉ muốn kiếm phần chia càng lớn càng tốt.
Thực trạng kinh tế hiện tại có thể xem là một cơ hội vàng cho các nhóm lợi ích, vì nhìn đâu cũng thấy nhu cầu cứu trợ: bất động sản, ngân hàng, chứng khoán, doanh nghiệp sản xuất, nông hải sản, doanh nghiệp nhà nước…
PV: Có ý kiến cho rằng: “Coi chừng gói 30.000 tỷ hiện nay người dân không vay được. Coi chừng những thủ tục cho người dân vay khó quá rồi cuối cùng tập trung cho DN vay. Cho DN vay có thể có rất nhiều quyền lợi cho ngành xây dựng và ngân hàng. Cho dân vay thì rất khó, lấy tiền của người dân là người ta la lên ngay. Nhưng cho DN vay thì đảm bảo gói này không dưới 10%”.
Là một chuyên gia kinh tế, ông có đánh giá gì về ý kiến này?
TS. Alan Phan: Có quá nhiều mâu thuẫn và thủ tục trong gói kích cầu để nó có thể được triển khai nhanh chóng và hiệu quả. Chính phủ rót 30.000 tỷ đồng chỉ cứu được một vài đối tượng. Thị trường bất động sản ViệtNam chỉ cầm máu một chút và vết thương sẽ không khỏi. Phương thức can thiệp này chỉ lợi cho một nhóm người.
Ngoài ra, khi bơm tiền ra sẽ có ít nhất vài ba chục phần trăm lượng tiền biến mất vì phí quản lý, sự không minh bạch, thiếu kiểm soát nghiêm túc. Phải nhớ rằng, ở đâu cũng thế, tiền của người khác thì ta luôn có sự cẩu thả trong tiêu xài. Không có sự kiểm soát chặt chẽ thì luôn có những đối tượng lợi dụng, đó là tình trạng chung của mọi xã hội, “thừa nước đục thả câu”.
Ở Mỹ (2007) hay ờ Thái (1997) , Chính phủ không cứu BĐS mà để giá địa ốc xuống ồ ạt. Khi ngân hàng lớn lâm nguy, Chính phủ phải rót tiền vào để có thăng bằng nhưng sau đó chính ngân hàng phải tự tìm vốn để bù vào. Sau khi có thêm nguồn vốn mới, ngân hàng phải trả lại Chính phủ.
Càng nhiều tồn kho thì vỡ bong bóng càng nhiều, người dân càng lợi
PV: Mới đây, ông Nguyễn Văn Đực, Phó Giám đốc Công ty Địa ốc Đất Lành đã khẳng định: Hiệu ứng đổ vỡ BĐS mới chỉ bắt đầu. Ông nghĩ thế nào về nhận định này?
TS. Alan Phan: Tôi không nắm rõ toàn thể câu nói của ông Đực nên không trả lời được. Tuy nhiên, bong bong BĐS đã xì hơi từ 2 năm nay, và chánh phủ cùng các công ty BDS đang cố gắng “bơm” trở lại. Họ sẽ không thành công.
PV: Rất nhiều ý kiến cho rằng, chúng ta đang đi lệch hướng Nghị quyết 02, khi hàng tồn kho cũ chưa được giải quyết thì lại tiếp tục xây dựng thêm rất nhiều nhà ở xã hội mới. Xin ông cho biết ý kiến của mình về vấn đề này?
TS. Alan Phan: Tôi không biết gì về các Nghị Quyết của chánh phủ. Nếu họ muốn bơm tiền để xây thêm nhà mới thì cũng chẳng sao vì tiền đã lỡ in và phân phát rồi. Càng nhiều tồn kho thì cơ hội “vỡ” bong bong càng nhiều, giá càng xuống và người tiêu dùng sẽ lợi thêm.
PV: Với kiến thức của một chuyên gia và kinh nghiệm của một người đã từng hoạt động trong lĩnh vực BĐS, theo ông, chúng ta cần phải làm gì để tháo gỡ khó khăn cho thị trường BĐS hiện nay ạ?
TS. Alan Phan: Nói ra thì “cực kỳ thiếu văn hóa”, nhưng tôi vẫn cho giải pháp duy nhất là hãy để các zombies chết đi.
Dĩ nhiên khi bong bóng BĐS nổ, vài chục ngân hàng thương mại có thể phá sản vì nợ xấu, chỉ số chứng khoán sẽ rơi chút đỉnh và các nhà giàu sẽ thấm thía bài học của kinh tế thị trường.
Đổi lại, phần lớn người dân sẽ vỗ tay, vì cơ hội làm chủ một căn nhà có thể thành hiện thực. Và những ảnh hưởng tích cực từ hiệu ứng trên sẽ quay về giúp nền kinh tế tiến về một định hướng bền vững hơn.
Giá nhà sẽ giảm thêm 30-50% để “bắt kịp” thu nhập của người dân và sẽ tạo ra một tầng lớp trung lưu có đủ điều kiện mua nhà. Người dân sẽ có thêm niềm tin và đây chính là một cú hích tạo ra sự kích cầu lớn. Giống như nền kinh tế Mỹ nợ ngập đầu nhưng vẫn rất năng động, bởi người dân phải “kéo cày” làm việc tới 10-15 tiếng mỗi ngày để trả nợ khi sở hữu nhà xe.
Tất nhiên, khi để BĐS rơi thì nợ xấu ngân hàng sẽ tăng, vài ngân hàng có thể “chết” nhưng không sao cả vì số lượng ngân hàng hiện dư chứ không thiếu. Bên Mỹ. mỗi tuần đều có vài ngân hàng phá sản, cũng không sao, miễn là Chính phủ bảo đảm người dân sẽ không mất tiền khi gởi dưới giới hạn (bên Mỹ là 100 ngàn đô). Vài ngân hàng chết, chứng khoán sẽ tụt nhưng sau đó niềm tin sẽ lấy lại và đi tới một chu kỳ kinh tế mới.
Chính sách của chánh phủ phải kiên định. Khi cho giá BDS lên trời vào thập kỷ 1995 – 2006, chánh phủ nói là để mặc cho thị trường quyết định. Bây giờ, giá xuống thì họ muốn can thiệp để không doanh nghiệp BDS nào chết. Tính bất nhất này có thể tạo một “rủi ro đạo đức” cho các nhà đầu tư.
Xin chân thành cảm ơn ông!
Duyên Duyên

July 4, 2013

Những gói kích cầu có định hướng

BLOG CỦA ALAN PHAN NGÀY THỨ NĂM 4 JULY 2013
Tôi đang viết một loạt bài về các giải pháp mà doanh nhân có thể sử dụng để vượt qua khủng hoảng hiện tại. Cốt lõi là phải tìm ra một sản phẩm hay dịch vụ nào có tính chất sáng tạo và đặc thù (innovation and differentiation).
Ở một bình diện khác, chánh phủ đang “quyết liệt” tìm giải pháp để cứu nguy nền kinh tế. Bước đầu là gói kích cầu 30 ngàn tỷ để cứu BDS, bước tiếp là lập ra VAMC để đổi hết nợ xấu của ngân hàng bằng trái phiếu (giấy lại hoàn giấy). Giải pháp độc quyền mua bán vàng của NHNN để thu gom tài sản còn nhàn rỗi (chẳng bao lâu chúng sẽ chạy quýnh đít) của dân là một phương thức khác. Tuy có thủ thuật hơn là việc in tiền rồi phân phát cho các đàn em, những gói kích cầu này hoàn toàn không hiệu quả. Nhất là khi các đàn em cứ có được đồng nào là đem dấu hay chuyển qua đầu tư nơi khác (Myanmar rồi Lào hay Kampuchia), không đem ra xài ở nội địa cho người dân nhờ.
Sáng nay tình cờ đọc báo thấy các đồng chí bên Bắc Triều Tiên có nhiều sáng kiến thần kỳ. Nếu đem áp dụng ở Việt Nam, tôi tin chắc lả các gói kích cầu tôi đề nghị dưới đây sẽ gây nhiều đột phá cho kinh tế nước nhà:
  1. 1.      Bắt người dân khi ra đường là phải đeo huy hiệu cố lãnh tụ.
Bài báo còn ghi rõ là khi phu nhân Đại Lãnh Tụ mà quên đeo huy hiệu cũng bị “phê và tự phê” và bị cấm ra đường vài ngày gì đó. Thử tính, một huy hiệu giá khoảng 10 USD (hy vọng là không nhập từ Trung Quốc và dán nhãn Made in Vietnam), kinh tế sẽ có gần 1 tỷ USD kích cầu.
Theo chiều hướng này, nếu bắt người dân phải mang 5 huy hiệu của 5 cố lãnh tụ, chúng ta sẽ tạo ra 5 tỷ USD, cùng với những tác động cộng hưởng khác. Ở một góc nhìn khác, không ai còn dám phê bình là dân ta “suy thoái tư tưởng”.
  1. 2.      Xây nhà vệ sinh khắp nước
Đây là một nhu cầu thiết thực vì tôi còn nhớ đọc ở đâu đó rằng 60% dân số Việt không có nhà vệ sinh “chuẩn”? Giựt nước thay vì đổ xô, cuốn giấy đi cầu thay vì nhật báo (báo nào nhỉ?) hay lá chuối? Tóm lại, toàn dân phải sở hữu một nhà vệ sinh chuẩn. Đây là một nhân quyền có ghi trong…hiến pháp?
Một bài báo từ Vietnamnet cho biết các quan chức tốn khoảng 6 tỷ để xây 13 nhà vệ sinh, tính ra 500 triệu VND mỗi cái. Nếu Bộ Xây Dựng xây cho 60% dân số (khoảng 1.2 triệu nhà vệ sinh), nền kinh tế sẽ được kích cầu đến 600 ngàn tỷ. Các công ty xây dựng và sản xuất vật liệu sẽ lồm cồm mò dậy, cả nước sẽ tràn ngập hạnh phúc với…vệ sinh và Việt Nam sẽ hóa rồng nhanh chóng.
Theo chiều hướng “lo” cho dân (như trong vụ mũ bảo hiểm *), một bạn BCA đề nghị là nhà nước nên bắt mỗi người dân ra đường phải đeo “kính râm” khi trời nắng. Một bạn khác biết tính người Việt luôn quan tâm đến hậu sự, yêu cầu nhà nước ra nghị định mỗi người dân phải mua sẵn ..”một quan tài” để trong nhà, phòng khi hữu sự không phải chạy quanh…
Tóm lại, có rất nhiều phương thức để kích cầu nền kinh tế này. Chúng ta có thể lấy ý kiến của toàn dân như kỳ đóng góp cho hiến pháp vừa qua. Với khoảng 26 triệu người tham dự “sáng tạo tập thể”, tôi tin là chúng ta sẽ qua mặt Bắc Triều Tiên về việc xài tiền OPM.
Thay vì để đầu óc nghèo nàn của một vài công chức ngồi không dãi g.., rồi đẻ ra trăm gói kích cầu hoàn toàn vô ích, sự “sáng tạo tập thể” sẽ đem toàn dân đến một đỉnh cao mới.
Alan Phan

July 3, 2013

Super investors day 2012

THÔNG BÁO
SUPER INVESTORS ‘DAY 2012

Một BCA, bạn Lê Tấn Phát, đã cất công biên tập và xuất bản trên YouTube toàn bộ cuộc nói chuyện của 22 diễn giả vào ngày Super Investors’s Day (16/2/2012). Các bạn nào muốn nghe lại những phân tích cũ (độ chính xác?) của 22 chuyên gia này, xin mời “click” vào links sau đây:
  1. 1.      Super Investors’ Day 2012 – TS. Lê Đăng Doanh:
  1. 2.      Super Investors’ Day 2012 – TS. Alan Phan:
  1. 3.      Super Investors’ Day 2012 – Ông Lê Thành Ân:
  1. 4.      Super Investors’ Day 2012 – Ông Đặng Doãn Kiên: 
  1. 5.      Super Investors’ Day 2012 – Ông Đặng Lê Nguyên Vũ: 
  1. 6.      Super Investors’ Day 2012 – Ông Lê Quốc Vinh: 
  1. 7.      Super Investors’ Day 2012 – Ông Chu Tiến Dũng:
  1. 8.      Super Investors’ Day 2012 – TS. Nguyễn Mạnh Hùng: 
  1. 9.      Super Investors’ Day 2012 – TS. Hồ Công Hưởng:

  1. Super Investors’ Day 2012 – Ông Lê Hùng Dũng và ông Phạm Đỗ Chí:



  1. 11.  Super Investors’ Day 2012 – TS. Phạm Đỗ Chí:



12-13. Super Investors’ Day 2012 – Ông Nguyễn Văn Đực và Ông Lương Trí Thìn:
http://www.youtube.com/watch?v=B5dDw8rCg-A
13. Super Investors’ Day 2012 – Ông Lương Trí Thìn:



14. Super Investors’ Day 2012 – Ông David Jensen: 



            15. Super Investors’ Day 2012 – Ông Nguyễn Tấn Thắng:



16-17. Super Investors’ Day 2012 – Ông David Đỗ Dũng và Ông Ngô Đức Chí: 



18. Super Investors’ Day 2012 – Ông Nguyễn Đình Nhơn:



19. Super Investors’ Day 2012 – Ông Trần Lương Thanh Tùng:
           


20.1. Super Investors’ Day 2012 – Bà Phạm Thị Mỹ Lệ: 



20.2. Super Investors’ Day 2012 – Bà Phạm Thị Mỹ Lệ:



            21.1. Super Investors’ Day 2012 – Ông Nguyễn Văn Cường:



21.2. Super Investors’ Day 2012 – Ông Nguyễn Văn Cường:



22. Super Investors’ Day 2012 – Ông Trương Tấn Thành:
           


23. Super Investors’ Day 2012 – TS. Alan Phan – Tổng kết Chương trình: 

John Maynard Keynes

(Nguồn: nghiencuulichsu.com)
Robert B. Reich*, Tạp chí Time
Ngọc Lan biên dịch
Keynes
John Maynard Keynes (5 tháng 6 1883 – 21 tháng 4 1946) là một nhà kinh tế học người Anh. Những ý tưởng của ông, hình thành nên Kinh tế học Keynes, có ảnh hưởng lớn tới kinh tế học hiện đại và chính trị cũng như các chính sách tài chính của nhiều chính phủ. Ông ủng hộ cho sự can thiệp của chính phủ vào kinh tế, bởi nhờ đó chính phủ sẽ sử dụng chính sách tài chính và chính sách tiền tệ để làm giảm đi những ảnh hưởng bất lợi do suy thoái kinh tế hay bùng nổ kinh tế gây ra. Ông là người khai sinh kinh tế học vĩ mô hiện đại.
Ông dường như chẳng có vẻ gì của một nhà cách mạng của người lao động. Một hiệu trưởng trường đại học Cambridge với khả năng kiếm tiền nhạy bén, tốt nghiệp trường dự bị Eton duy nhất ở Anh, một người sưu tầm nghệ thuật hiện đại, người yêu của Virginia Woolf và nhóm tri thức tiên phong Bloomsbury của bà, chủ tịch một công ty bảo hiểm, một giám đốc Ngân hàng Anh sau đó, cưới một nữ diễn viên ba-lê, John Maynard Keynes – cao, duyên dáng và tự tin – tuy nhiên đã biến đổi khoa kinh tế chính trị thành một phương tiện cách mạng cho tiến bộ xã hội.
Trước Keynes, các nhà kinh tế học thường buồn thảm nói không. “Không thể làm gì được”, “Đừng can thiệp”, “Nó sẽ chẳng có kết quả gì đâu”, họ ngâm nga sự bi quan kiểu Eeyore . Nhưng Keynes là một người lạc quan kiên định. Tất nhiên chúng ta có thể xóa bỏ thất nghiệp! Chẳng có lý do gì phải chịu đựng sự suy thoái và đình trệ! “Khó khăn trong kinh tế không phải – nếu chúng ta nhìn vào tương lai- một vấn đề thường trực của con người”, ông viết.
Sinh ra tại Cambridge, Anh, vào năm 1883, năm mà Karl Marx qua đời, Keynes hầu như chắc chắn đã cứu chủ nghĩa tư bản từ chính nó và chắc chắn đã giữ không cho những mác-xít hiện đại tới gần. Bố của ông- John Neville Keynes- là một nhà kinh tế học nổi tiếng của Cambridge. Mẹ ông – Florence Ada Keynes – trở thành thị trưởng của Cambridge. Chàng thanh niên John là một sinh viên xuất sắc nhưng không mong ước ngay lập tức một sự nghiệp học thuật hay một đời hoạt động cho xã hội. Anh đã muốn quản lý một đường tàu. “Làm chủ những nguyên tắc của chúng thật là dễ dàng và… lôi cuốn”, anh nói với một người bạn, với sự khiêm tốn vốn có. Nhưng không đường ray nào xuất hiện, và Keynes kết thúc bằng cuộc thi tuyển công chức. Điểm thấp nhất của ông là ở môn Kinh tế. “Tất nhiên tôi biết nhiều về Kinh tế hơn là người chấm điểm”, về sau ông giải thích như vậy.
Keynes nộp đơn vào Văn phòng Ấn độ , nhưng công việc dân chính tỏ ra chán ngắt và buồn tẻ, và ông sớm từ chức. Ông giảng dạy tại Cambridge, biên tập một tờ báo có ảnh hưởng, giao thiệp với những người bạn trong nhóm Bloomsbury, bao quanh bởi những nghệ sĩ và nhà văn và sống một cuộc sống nghiệp dư đầy đủ cho đến khi Hoàng tử Francis Ferdinand của nước Áo bị ám sát tại Sarajevo và châu Âu chìm ngập vào Thế chiến thứ nhất.
Keynes được gọi đến Ngân khố Anh làm việc về tài chính nước ngoài, nơi ông nhanh chóng tỏa sáng. Ngay cả những khiếu nghệ sĩ của ông cũng trở nên có ích. Ông đã tính cách cân đối các khoản chi thu ngân sách Pháp bằng việc Gallery quốc gia Anh mua các tác phẩm hội họa của Manet, Corot và Delacroix với giá hời.
Danh tiếng của ông lần đầu tiên được thực sự biết đến ngay sau cuộc chiến, khi ông được chọn được làm người đại diện cho Hội thảo Hòa Bình Paris năm 1918-1919. Người trẻ tuổi Keynes giữ im lặng khi Woodrow Wilson, David Lloyd Goerge và GoergesClemenceau áp đặt bồi thường chiến tranh không khoan nhượng lên nước Đức. Nhưng ông đã tạo tiếng vang khi quay trở lại Anh lập tức viết một cuốn sách ngắn, Những Hệ quả Kinh tế của Hòa bình.
Người Đức, ông viết một cách gay gắt, sẽ không thể trả những gì những kẻ thắng trận đòi hỏi. Gọi Wilson là một “Đông Ki sốt mù, điếc” và Clemenceau là một kẻ bài ngoại với “một ảo tưởng – nước Pháp, và một sự vỡ mộng – loài người” (và chỉ đến phút cuối lướt qua một lời văn hoa mỹ ông đã dành cho Lloyd George: “kẻ thi sĩ chân dê, khách mời nửa người nửa ngợm này tới thời đại của chúng ta từ phép thuật phù thủy và những khu rừng bị bùa mê của thời Celtic cổ đại”), một Keynes giận dữ đã tiên đoán rằng những bồi thường thiệt hại chiến tranh sẽ khiến Đức bần cùng và rút cục sẽ đe dọa toàn châu Âu.
Cuốn sách nhỏ của ông bán được 84.000 bản, gây xôn xao lớn và khiến Keynes nổi tiếng ngay tức khắc. Nhưng tầm quan trọng của nó chỉ được thực sự cảm nhận sau nhiều thập kỷ, khi Thế chiến thứ hai kết thúc. Thay vì lặp lại sai lầm mắc phải ba thập kỷ trước, Mỹ và Anh nhớ tới lời cảnh báo sớm của Keynes. Họ hiểu rằng con đường chắc chắn nhất cho một hòa bình vững bền là giúp đỡ kẻ thua trận xây dựng lại. Đầu tư công trên quy mô lớn sẽ tạo ra những đối tác thương mại có thể quay vòng lại mua sản phẩm xuất khẩu của các nước thắng trận, và như vậy sẽ xây dựng những xã hội dân chủ trung lưu vững chắc ở Đức, Ý và Nhật.
Tuy nhiên, ảnh hưởng lớn nhất của Keynes đến từ một tác phẩm cầu kỳ, bố cục lộn xộn và nhiều chỗ gần như không thể hiểu được, xuất bản năm 1936, trong những năm vực thẳm của thời kỳ khủng hoảng tồi tệ nhất (Great Depression). Cuốn sách đó được gọi là “Học thuyết chung về Việc làm, Quyền lợi và Tiền tệ” .Ý tưởng cơ bản của Keynes rất đơn giản.
Để cho toàn dân đều có việc làm, chính phủ phải chịu thiếu hụt ngân sách khi kinh tế đang chậm lại. Đó là bởi vì khu vực tư sẽ không đầu tư đủ. Khi thị trường trở nên bão hòa, các hãng thương mại giảm đầu tư, khởi đầu sự vận động của một vòng quay nguy hiểm: giảm đầu tư, ít việc làm hơn, ít tiêu dùng hơn và lại càng thiếu lý do cho các nhà kinh doanh đầu tư. Kinh tế có thể đạt tới sự cân bằng hoàn hảo, nhưng với cái giá là tình trạng thất nghiệp cao và sự nghèo khổ xã hội. Tốt hơn là chính phủ nên tránh đau thương ngay từ đầu bằng cách tiếp sức nơi cần thiết.
Khái niệm rằng sự thiếu hụt ngân sách của chính phủ là tốt nghe thật kỳ lạ vào thời điểm đó. Trong hai thập kỷ trước, nỗi lo lắng lớn nhất của Mỹ là lạm phát gây ra bởi nhu cầu cao quá mức.
Lạm phát tăng cao tới mức hai con số vào những năm 70, thiếu hụt ngân sách tăng phồng vào những năm 80, và bây giờ một Tổng thống (thuộc đảng) Dân chủ tự chúc mừng vì số thặng dư ngân sách mà ông ta muốn dùng để trả nợ. Nhưng khoảng sáu mươi năm trước, khi cứ bốn người có một người không tìm được việc làm, vấn đề lại là sự thiếu nhu cầu (tiêu dùng).
Mặc dù thế, Keynes gặp phải sự thất vọng lớn. Hầu hết các nhà kinh tế học thời ấy gạt bỏ ý tưởng của ông và ủng hộ ngân sách cân đối. Hầu hết các chính khách không hiểu ý tưởng của ông để có thể bắt đầu. “Những người thực dụng, những người tin rằng bản thân họ không hề chịu ảnh hưởng nào từ các trí thức, lại thường là nô lệ cho những nhà kinh tế học quá cố”, Keynes viết.
Trong kỳ bầu cử tổng thống năm 1932, Franklin D. Roosevelt đã nguyền rủa Herbert Hoover vì gây ra thiếu hụt ngân sách, và hứa hẹn một cách nghiêm túc rằng ông sẽ cân đối ngân sách nếu thắng cử. Cuộc thăm viếng của Keynes đến Nhà Trắng hai năm sau đó để cố thuyết phục F.D.R chi nhiều khoản thâm hụt hơn đã không phải là một thành công sáng lạn. “Anh ta để lại toàn những hình minh họa dông dài”, F.D.R bối rối phàn nàn với Bộ trưởng Bộ Lao động Frances Perkins. “Đáng lẽ anh ta nên làm một nhà toán học hơn là một nhà kinh tế chính trị học”. Keynes cũng chán nản, nói với Perkins rằng ông “tưởng rằng Tổng thống có nhiều học thức hơn, về mặt kinh tế mà nói”.
Khi khủng hoảng tiếp diễn, Roosevelt thực hiện các công trình công cộng, hỗ trợ nông dân và nhiều phương sách khác để khởi động lại nền kinh tế, nhưng ông chưa bao giờ hoàn toàn từ bỏ nỗ lực cân đối ngân sách. Năm 1938, Khủng hoảng trở nên trầm trọng. Một cách miễn cưỡng, Roosevelt đi theo ý tưởng mới duy nhất mà ông còn chưa thử, ý tưởng của nhà “toán học” gây bối rối người Anh. Như Tổng thống giải thích trong một buổi nói chuyện với nhân dân Mỹ, “Chúng ta phải chịu đựng sự thất bại trong nhu cầu tiêu dùng chủ yếu bởi sự thiếu sức mua”. Vì vậy chính phủ sẽ “tạo sự cải thiện kinh tế” bằng cách “bổ sung chosức mua của quốc gia”.
Thế nhưng chỉ đến khi Mỹ bước vào Thế chiến thứ hai thì F.D.R mới thực hiện ý tưởng của Keynes ở quy mô cần thiết, để đưa đất nước ra khỏi tình trạng buồn nản – và Roosevelt, tất nhiên, không có nhiều sự lựa chọn. Năng suất của Mỹ đạt đến mức nào đã thực sự gây ngạc nhiên lớn một khi cơ hội được mang đến.
Trong khoảng 1939 và 1944 (đỉnh điểm của sản xuất thời kỳ chiến tranh), lượng hàng hóa toàn quốc tăng lên gấp đôi, và thất nghiệp tụt hẳn xuống – từ hơn 17% xuống hơn 1%.Chưa bao giờ một học thuyết kinh tế được thử nghiệm đột ngột như thế. Cứ tính cả hoàn cảnh đặc biệt của huy động chiến tranh, nó dường như hoạt động chính xác như những gì Keynes đã tiên đoán. Sự thử nghiệm lớn thậm chí đã lan ra nhiều nước Cộng hòa khác. Luật Lao động Mỹ năm 1946 – năm Keynes qua đời – soạn thành luật sự hiểu biết mới, khiến nó trở thành “chính sách liên tục và trách nhiệm của Chính phủ Liên bang … trong việc thúc đẩy tới mức tối đa việc làm, sản xuất và sức mua”.
Và cứ như vậy Chính phủ Liên bang đã làm trong một phần tư thế kỷ tiếp theo. Vì kinh tế Mỹ bùng nổ, chính phủ trở thành người quản lý kinh tế quốc gia và Tổng thống là Tổng giám đốc. Một lẽ phải thông thường đã được chấp nhận, rằng chính phủ có thể “điều chỉnh” kinh tế, nhấn cặp chân ga chính sách thuế và tiền tệ để tránh giảm sức sản xuất, và đạp phanh khi cần thiết để tránh sự quá nhiệt. Năm 1964, Lyndon Johnson giảm thuế để mở rộng sức mua và tăng công ăn việc làm. “Chúng ta bây giờ đều là những Keynesians”, Richard Nixon tuyên bố thật hay. Người Mỹ vẫn giữ thói quen cho rằng Washington có trách nhiệm lèo lái kinh tế ra khỏi khó khăn, mặc dù bây giờ Chủ tịch Cục dự trữ Liên bang Alan Greenspan chứ không hẳn Tổng thống mới là người gánh vác trách nhiệm nhiều nhất.
Keynes không có một chút kiên nhẫn với những lý thuyết gia kinh tế cho rằng mọi thứ sẽ thực hiện trong một thời gian dài. “Thời gian dài đó là một chỉ dẫn sai lầm cho những công việc hiện tại”, ông viết từ rất sớm trong sự nghiệp của mình. “Trong thời gian dài, tất cả chúng ta đều chết”.
Nếu Keynes còn sống tới ngày nay, chắc hẳn ông sẽ thán phục sự mạnh mẽ của nền kinh tế Mỹ, nhưng ông cũng sẽ nhận thấy rằng khoảng 40% nền kinh tế toàn cầu đang trong tình trạng suy thoái và nhiều nền kinh tế còn lại đang đi chậm lại: Nhật Bản, trì trệ; Đông Nam Á, nghèo hơn thời điểm hai năm về trước; Brazil, bấp bênh; Đức, bị đè nặng bởi tỷ lệ thất nghiệp hai con số và một nền kinh tế chậm lại; và giá cả tuột dốc toàn cầu cho dầu và nguyên liệu.
Dưới ánh sáng của tất cả những điều này, Keynes có thể sẽ thấy khó hiểu khi thấy Quỹ Tiền tệ Quốc tế đang đòi hỏi những nước khó khăn thuộc Thế giới Thứ ba tăng thuế và giảm chi tiêu, rằng quy chế thành viên của “euro” yêu cầu sự nghiêm khắc trong ngân sách, và rằng Tổng thống Mỹ muốn bám chặt vào một ngân sách có thượng dư. Bạn có thể đánh cược rằng Keynes sẽ không giữ im lặng. Nhanh nhẹn và xuất sắc như ông đã từng, có lẽ ông sẽ bước vào cuộc ẩu đả với cả nắm đấm và một tiếng gầm vĩ đại.
_________
* Robert B. Reich, giáo sư về kinh tế và chính sách xã hội tại Brandeis, đã từng là Bộ trưởng Bộ Lao động Mỹ từ năm 1993 tới năm 1997.
Bài viết đã được đăng trên tạp chí Time, 1999
Chú thích bởi người dịch :
1. Virginia Woolf(1882-1941), nhà viết tiểu thuyết và nhà văn tiểu luận người Anh, được coi như một trong những gương mặt nhà văn hiện đại lỗi lạc nhất của thế kỷ 20.
2. Một cộng đồng người Anh của những người bạn thân thiết và người thân, sống ở gần Luân Đôn trong nửa đầu thế kỷ 20. Tác phẩm của họ có ảnh hưởng lớn tới văn học, óc thẩm mỹ, óc phê bình, và kinh tế, cũng như tới những quan điểm hiện đại về thuyết nam nữ bình quyền, chủ nghĩa hòa bình, và tình dục.
3. Một chú lừa nhồi bông bi quan, u sầu, già nua, phiền muộn – nhân vật trong sê-ri truyện Winnie-the- Pooh của A.A. Milne
4. Một bộ của Chính phủ Anh chịu trách nhiệm về chính phủ thuộc địa Ấn Ðộ.
5. Người theo thuyết kinh tế của Keynes
6. Khu vực sử dụng đồng tiền chung châu Âu ‘euro’
———–&&———-