June 5, 2013

Đơn Xin Hẹn Hò


Sau khi tụi mình học chung với nhau gần hết năm, tớ nhận ra cậu thật sự rất là dễ thương nhé.

***

Không phải vì cậu cho tớ mượn vở Văn hôm tớ nghỉ học, hay chỉ bài kiểm tra Sử cho tớ sáng nay mà tớ nói vậy đâu. Lời khen này hoàn toàn trung thực và không mang ý định nhờ vả hay vụ lợi. Nó xuất phát từ trái tim tớ, bắt đầu từ lần cậu cho tớ miếng băng dán cá nhân và xuýt xoa nhìn khi tớ bị ngã oạch trên sân cỏ. Tớ đã nghĩ hay là tớ đến xin phép cậu cho một buổi hẹn hò hoàn toàn là trong sang.

Mà thật ra tụi mình mang tiếng là bạn bè, nhưng vẫn chưa có một cuộc hẹn hò trong sáng nào nhỉ. Lần nào cũng có cả lớp ba mươi đứa với ngần ấy những cặp mắt tò mò, làm sao tớ có thể đứng gần cậu hơn một tí hay đưa cho cậu cái áo khoác của tớ, dù rằng động cơ của tớ hoàn toàn là trong sáng.

Chưa kể, khi tớ chỉ mới chớm bước ra cùng cậu ngoài hành lang thì thằng Hải tồ đã nhảy ra kéo tớ đi đá banh và nhỏ Hột mít chạy lại rủ cậu xuống căn tin ăn sáng. Cứ như tụi nó nhìn thấy điều gì mờ ám ở tớ ấy nhỉ?

Cậu ạ, lịch trình cuộc hẹn hò trong sáng của hai đứa mình sẽ bắt đầu bằng việc ăn tối, rồi xem phim, và đi dạo. Hay là đi dạo một lát rồi ăn gì đấy, sau đó vào rạp chiếu phim? Hay là đón xem suất phim sớm nhất, rồi sau đó kiếm gì bỏ bụng và đi dạo cùng nhau? Tớ đang suy nghĩ xem điều gì là tốt nhất. Và thứ tự nào là không chiếm của tụi mình nhiều thời gian rỗng, tất cả chỉ để tớ có thể ở bên cạnh cậu lâu hơn.

Nhưng nếu cậu không thích những gì tớ lên lịch, cậu hoàn toàn có thể thay đổi chúng. Bởi vì cậu là con gái nên chắc chắn cậu sẽ được chiều ý, được toàn quyền chọn bộ phim Hàn sướt mướt mặc dù tớ cực kỳ kết phim hành động Mỹ. Cậu cũng sẽ được tớ chở đi ăn từ bò bía tới há cảo, từ chè Thái tới sữa chua, mặc dù tớ hoàn toàn chỉ thích ăn những món nóng sốt nghi ngút khói.

Còn nếu như cậu ngại ngùng vì sợ ba mẹ mắng, thì tớ sẽ đến nhà xin phép ba mẹ cậu đàng hoàng. Tớ cam kết thực hiện ngoan ngoãn giờ giấc và hứa sẽ chở cậu về nhà đúng hẹn. Và mặc dù ba mẹ cậu có khó tính, tớ hy vọng mình có thể khiến hai bác tin tưởng vào những gì tớ nói và tớ sẽ làm. Cũng bật mí là tớ đã dành một tuần đứng trước gương để tập độc thoại cho màn ra mắt ba mẹ cậu, nên hy vọng dù tớ có run đến thế nào cũng sẽ không gây ra hậu quả gì trầm trọng.

Cậu lo lắng là tụi mình sẽ nói với nhau những gì khi đi chơi riêng ư? Đừng lo, tớ cũng đã nghĩ đến chuyện đó. Tụi mình sẽ nói về mấy đứa nhắng nhít trong lớp, về trận bóng chiều mai của lớp mình, cả chuyện báo tường mừng ngày tổng kết.

Hoặc là về chuyện bài kiểm tra Lý tuần sau với đề nghị nếu cậu không hiểu gì thì cứ mang sang tớ nhận dạy kèm mọi nơi mọi lúc. Rồi tớ sẽ kể cho cậu nghe những gì tớ mơ ước, đấu tranh và đang từng ngày không ngừng phấn đấu. Và tớ cũng hy vọng sẽ được nghe lại những chia sẻ ấy từ cậu để có thể thêm gần và hiểu cậu hơn.

Ngày hôm đó tớ sẽ dậy thật sớm để chuẩn bị sao cho mình sạch sẽ và tươm tất. Tớ sẽ diện một cái áo thật đẹp và tự hỏi không biết cậu có thích nó hay không.

Nếu cậu thích áo sơ mi trắng thì tớ có rất nhiều, nhưng một cái áo thun màu hồng thì hơi làm khó tớ quá nhóc ạ. Điều này chỉ vì để có thể nhận được từ cậu một lời khen.

Nếu cậu sợ mình phải chờ đợi, thì tớ khẳng định là hoàn toàn không có chuyện đó. Tớ sẽ đến sớm hơn dự định để chờ cậu. Dù sao, tớ cũng là con trai, và để không sốt ruột có lẽ tớ sẽ hát một vài bài hát và giữ cho mình vui vẻ dù cho có phải chờ cậu lâu đến thế nào đi nữa. Miễn là cậu đến, có muộn cũng không sao mà.

Tớ sẽ chở cậu thật an toàn, không còn cảnh phóng vù vù như mấy lần đi học trễ. Tớ sẽ dừng đúng vạch dành cho người đi bộ, chấp hành nghiêm túc biển báo tín hiệu, và nhường đường cho những chiếc xe muốn vượt lên từ phía sau. Vì tớ muốn cậu thật sự được an toàn, mặc dù những lúc cậu sợ chắc chắn buộc phải vịn eo tớ, nhưng tớ không muốn để lòng cậu lúc nào cũng hồi hộp bất an.

Nếu cậu sợ trời mưa hay khuya về gió lạnh. Hãy cứ yên tâm là tớ có mang theo áo mưa cho cả hai đứa mình, là tớ sẵn lòng nhường cậu cái áo khoác màu xanh mà tớ đang mặc đây. Và thậm chí tớ còn mang theo cả một vỉ Paradol nữa. Tất cả những gì cậu cần làm chỉ là ngồi yên sau lưng tớ mà thôi. Đừng cười bảo chuyến đi chơi sặc mùi bệnh hoạn. Tất cả chỉ để cậu có thể không lo lắng là ngày mai bị cảm và không thể đến lớp.

Cậu ạ, trên đường trở về tụi mình sẽ lại tiếp tục nói chuyện và đùa giỡn cùng nhau. Tớ hứa mình sẽ làm cho cậu cười cho đến vào tận giấc ngủ. Mà có thể đêm đó tớ vui quá lại thao thức chẳng ngủ được mà nhắn những cái tin vớ vẩn cho cậu. Để cậu nhăn mặt trách" Khuya rồi không ngủ đi, nhắn...truyện cười vô máy tui chi, giờ này ai mà đọc?"

Sau khi cậu đọc xong những điều này, xin hãy hiểu nó là những lời chân thành nhất từ trái tim tớ. Nói hay không nói, thật sự là một vấn đề gây đau đầu và gây...tổn hại nhan sắc tớ ghê gớm. Con trai tụi tớ, dù là là tên nhóc chưa dậy thì mười một tuổi, hay đã là một gã con trai trưởng thành như tớ lúc này đây, thì việc nói ra những điều bé nhỏ ấy vẫn rất khó khăn.

Vì vậy, nếu có từ chối, xin cậu hãy phủ quyết nó một cách nhẹ nhàng, được không?

END

Từ vứt bỏ sách cũ có giá trị đến… ồ ạt làm ra sách mới sách rởm

Nhà nghiên cứu Vương Trí Nhàn, 

Tiếp tục câu chuyện về nỗi thê thảm của sách

Tại sao lại có tình trạng thê thảm của sách như tôi đã nói ? Ta hãy cùng tìm tới những nguyên nhân đã lùi về xa.
Nỗi thê thảm của trí tuệ
Năm 1954, khi Hà Nội đón đoàn quân từ Việt Bắc trở về, các trường trung học cũ chuyển thành trường cấp II cấp III, trong số những điều nhiều thanh niên học sinh mới lớn chúng tôi được truyền thụ và phải nhập tâm là tinh thần thực tiễn.

Cái anh này có vẻ sách vở quá! Từ lúc nào tất cả đều hiểu đó là cái câu dùng để chê nhau, mặc dầu chúng tôi đang sống với sách.
Trong chốn học đường, không gì lố bịch hơn là một người thích đọc sách.
Mấy chục năm qua đi, rồi cái tinh thần vô sư vô sách ấy đã được chính thức hóa trong tất cả các cấp học trong mọi bộ môn. 
Thà một cây chông trừ giặc Mỹ
Hơn ngàn trang sách luận văn chương 
Một trong những câu thơ Tố Hữu mà tôi nhớ nhất là cái câu chà đạp lên sách như vậy.
Sài Gòn sau 30-4, hẳn nhiều người còn nhớ giữa những phố xá bán đầy hàng cũ, có cả những con đưởng sách. Sách cũng được bày bán như mọi thứ hàng tầm tầm khác
Trước đó ở đồng bằng Bắc bộ và khu bốn cũ sau Cải cách ruộng đất, sách vở trong các gia đình địa chủ có học cũng bị mang nhóm bếp tất.
Bởi sách vở là tinh hoa nên phải chịu chung số phận với mọi bộ phận ưu tú trong xã hội là người giàu ( tinh hoa trên phương diện làm ăn) và kẻ sĩ (tinh hoa trên phương diện nhận thức cuộc sống.)

Từ tạm thời bỏ sách 
đến đoạn tuyệt với kiểu sống cần sách vở 
Khi mới bước vào cách mạng và kháng chiến, nhiều thanh niên VN lúc ấy tự nhủ: nay là thời vứt sách. Tức một thời điểm bất thường. Chỉ có hành động là quan trọng. Không được trù trừ phân vân. Không được tính trước tính sau gì cả. Chẳng những phải vứt sách mà phải quên hết những điều sách vở đã nói với mình đã dạy dỗ mình.
Cái tinh thần xấu hổ mà bọn tôi tiếp thu được ở HN sau 1954 vốn có nguồn gốc là thế.
Với hoàn cảnh nước sôi lửa bỏng hô hào vứt sách lúc đó là cần thiết. 
Chỉ có điều cách mạng cứ khó khăn mãi. Cái khẩu hiệu đáng lẽ chỉ có quyền trương lên tạm thời biến thành khẩu hiệu vĩnh viễn. 
Có cả một phong trào bài bác trí tuệ bài bác sách vở, trên thực tế là triệt hạ mọi sách vở tử tế, triệt hạ mọi đầu óc có suy nghĩ.
Để rồi khi cần lại tạo ra một loại sách vở mới, tạo ra lớp người viết sách mới. 
Chỉ có điều, do đã cắt đứt hết mọi mối liên lạc với lịch sử nên cái mới này sẽ mang bộ mặt thê thảm và một chất lượng kém cỏi hiếm thấy.

Những cuốn sách bị cấm 
Bài trước tôi đã kể ấn tượng mãi về những cuốn sách Pháp gọn gàng mộc mạc mà lại nuột nà, sách của những nhà Gallimard, Grasset, Hachette. Sách vừa đẹp vừa nhã, giấy không trắng quá, chữ in rõ ràng. Cầm quyển sách cứ nhẹ bỗng mà đọc vào lại thấy một nội dung thật nặng, thật nghiêm chỉnh.
Đó là số sách mà trong chiến tranh chống Mỹ Đại sứ quán Pháp ở Hà Nội tặng cho Hội nhà văn VN. Hồi ấy còn nhiều nhà văn biết tiếng Pháp nên đó là cả một kích thích thú vị cho những người ham hiểu biết. 
Nhưng có lệnh từ trên là không được cho dịch đã đành, mà cũng không được phổ biến rộng rãi. Tổng thư ký Nguyễn Đình Thi dặn bà Huệ phụ trách Thư viện , chỉ những nhà văn cỡ trung kiên được gọi là thường vụ và những người được ông Thi trực tiếp đồng ý mới được mượn. 
Cái có giá trị và được cả thế giới công nhận phải được coi cái xa lạ hơn thế nữa, hư hỏng sai lạc, không bằng những cái ta làm ra(!).
Sự tự cô lập về mặt trí tuệ là đầu mối của mọi thảm họa trên mọi phương diện khác.
Sau chiến tranh, số phận những cuốn sách của những tác giả nổi tiếng trong văn học phương Tây hiện đại ấy đã có phần thay đổi. 
Nay là lúc các nhà làm sách đua nhau tìm xem có loại nào đang trở thành thời thượng ở phương Tây thì dịch ngấu dịch nghiến, tung ra cho độc giả xài. 
Nhưng lớp độc giả nghiêm chỉnh xưa đâu còn nữa và cái mà ta tưởng đáng tiếp thu nhận ngay có khi lại là những bọt bèo rác rưởi của một phương Tây đến ngày nay ta vẫn chưa thật hiểu. 
Tôi kể những chuyện này để lưu ý rằng nền sách vở mà chúng ta xây dựng về sau ở vào một độ lùi đáng kể với sách thế giới, và chúng ta cứ thế mà tụt hậu mãi.

Việc nào tác hại hơn?
Chỗ đau nhất của sách thời nay như vậy là ở sự lộn sòng giữa sách thực và sách giả, giữa cái không phải là sách và sách thực sự. Và theo tôi hiểu không thời nào sự lộn sòng đó công khai và tràn lan như bây giờ. 
Ai cũng có thể rút ra kết luận đó nếu có lần vào đọc ở các thư viện công cộng. Ở đó, sách cũ sách có giá trị thì bị xếp xó. Sách mớ , những cuốn sách cạn cợt nông nổi thì được trưng ra thật đẹp và sự thực là trở thành cần thiết với một lớp trẻ chỉ biết lao vào thi cử, nghĩa là nói y hệt điều người ta đã nhét vào đầu mình để ăn điểm.
Giá mang đặt lên bàn cân hai sự kiện, một là việc rẻ rúng những cuốn số sách cũ có giá trị và hai là việc làm ra vô vàn những cuốn sách mới nghèo nàn mỏng mảnh kém coỉ giả dối rồi lại thượng chúng lên như những tài sản vô giá mà con ngưởi thời nay gửi cho tương lai, không rõ việc nào gây tác hại hơn.

Thời nay sách đã được viết như thế nào?
Tại một tỉnh nọ khi có chủ trương lập ra Hội văn nghệ thì một cán bộ tuyên huấn được cử sang phụ trách. Anh em xì xào ông này không phải nhà văn. Ông ta tức lắm, liền bỏ tiền ra thuê một người viết một cuốn tiểu thuyết.
Tiền in đã có cơ quan lo.
Còn tiền trả cho người làm thuê? Ông ta đã có cách là lập ra một Hội đồng xét giải rồi tự cho mình giải thưởng. Sau này ông ta còn dùng cuốn sách đi thuê người viết nói trên làm bằng để xin vào Hội cấp trên nữa. Tính ra có cả lãi đơn lãi kép. 
Trường hợp trên, tôi chỉ nghe kể, chứ không tận mắt chứng kiến. Sở dĩ tôi sẵn sàng tin và muốn mọi người cùng tin, vì nó chỉ là biểu hiện tập trung của một sự thực.
Là thời nay, mối quan hệ giữa sản phẩm là sách và các chủ thể viết sách, mối quan hệ ấy đang có một sự đứt gẫy đổ vỡ hoặc nói như một thuật ngữ xã hội học – đang bị tha hóa. Người ta viết sách rất cẩu thả, không phải viết bằng con người lao động chăm chỉ trong mình mà viết như làm hàng, viết như ăn cướp. 
Thỉnh thoảng báo chí đã nêu đích danh những vụ đạo văn. Nhưng đó chỉ là phần nổi của tảng băng. 
Còn rất nhiều trường hợp khác, tuy không dùng lại câu cú chữ nghĩa của người khác, nhưng tinh thần của toàn bộ cuốn sách người ta đứng tên là đi mô phỏng đi thuổng đi nhặt nhạnh rồi mông má lắp ghép lại, chữ hồi trước gọi là cao đan hoàn tán .
Đã không thấy sự có mặt của một tác giả trong những cuốn sách làm hàng ấy. 
Thế thì có khác chi ông cán bộ đi gọi người viết thuê vừa nói ở trên?
Sự thê thảm bộc lộ ngay trong những cuốn sách bề ngoài hào nhoáng.

Một loại tác giả “ăn khách” chỉ có ở thời nay
Nhà thơ nọ công tác ở một vùng công nghiệp. Luôn luôn anh có thơ in ra và số lượng in các tập thơ của anh thường hơn hẳn các đồng nghiệp ở TW. 
Hỏi ra mới biết sở dĩ thơ anh “bán” chạy như vậy nhờ tác giả có mối quen thân với những người làm công tác tuyên truyền và thi đua trong vùng. Sách anh in được đưa vào tủ sách của các công đoàn cơ sở và làm phần thưởng cho các cá nhân có thành tích trong các đợt thi đua địa phương. Tích lại nhiều năm số lượng in lớn có gì là lạ.

Sách dùng để làm gì? 
Thời nay có nhiều nhà văn người ta chỉ nghe tên mà không ai kể ra được là ông ta có tác phẩm nào cụ thể. Không phải đó là người lười viết. Tổng cộng sách đứng tên ông cũng vô khối. Chỉ có điều đó là sách nắm sách mớ, sách in ra mà như đứa trẻ hữu sinh vô dưỡng. 
Thế sách các nhà văn đó viết đi đâu?
Nhớ một mẩu chuyện vui vui.
Tại quầy cho mượn sách ở một thư viện, người ta thấy một độc giả lùn tịt mè nheo với người thủ thư:
-- Tôi đã bảo chị cho tôi mượn một trong những cuốn sách dày kia cơ. Cuốn nào cũng được, càng dày càng tốt.
-- Ơ cái anh này! Đó đâu phải là sách dùng cho chuyên ngành của anh?
-- Không, tôi không cần đọc. Tôi chỉ cần mượn để kê cao chỗ ngồi.
Nhiều cuốn sách ngày nay sở dĩ là được in ra, được đọc , được trích dẫn được trao giải thưởng nữa, nếu hiểu kê cao theo nghĩa bóng, thì cũng chỉ là để kê cao chỗ ngồi của người viết và người sử dụng mà thôi!

Tình hình kinh tế Việt Nam đang như thế nào?

Nguyễn Vạn Phú, 
Một câu hỏi thường trực trong tâm trí nhiều người là sức khỏe kinh tế thực sự đang ra sao mà thấy sao có nhiều dấu hiệu trái ngược nhau quá. Nhìn quanh, ai cũng nói chuyện doanh nghiệp tư nhân rơi rụng đến con số hàng chục ngàn, thậm chí cả trăm ngàn, ai cũng có quen biết với một người vừa mới thất nghiệp và ai cũng thấy làm ăn ngày càng khó khăn, thậm chí đến chỗ bế tắc. Các đại biểu Quốc hội than nghe còn bi đát hơn như “Tình hình kinh tế gay go lắm rồi”.
Nhưng lùi lại một chút, nhìn vào các chỉ số quan trọng thì thấy tình hình đang cải thiện: lạm phát được kềm chế, tỷ giá ổn định, cán cân thương mại tương đối cân bằng, xuất khẩu tăng trưởng tốt, và đặc biệt thị trường chứng khoán đang ấm dần lên.
Tìm đâu ra một góc nhìn khách quan, có thể tin cậy được!
Trong một tài liệu bằng tiếng Anh tôi được đọc qua, Chương trình giảng dạy kinh tế Fulbright kết hợp với Trung tâm Ash thuộc trường Harvard Kennedy School lại một lần nữa đưa ra những nhận định sắc bén, phân tích thẳng những vấn đề của nền kinh tế.
Trước hết bản báo cáo cho rằng Việt Nam vừa thoái khỏi một tình hình nguy cấp, nền kinh tế suýt đổ vỡ cách đây khoảng 12 tháng. Nhưng nền kinh tế không phải đang phục hồi mà đúng hơn là rơi vào tình trạng trì trệ kéo dài. Muốn thoái khỏi tình trạng này, Việt Namphải dọn dẹp hệ thống ngân hàng, tiếp tục cải tổ khối doanh nghiệp nhà nước và hồi sức cho khu vực tư nhân trước khi thành tựu của 14 năm qua bị xóa sạch.
Tuy nhiên dường như không ai muốn hành động gì, không muốn thay đổi hiện trạng vì 5 nhầm tưởng (myths) khá phổ biến trong giới lãnh đạo.
-          Nhầm rằng: Khủng hoảng đã qua, tình hình đang dần cải thiện (nên không cần làm gì cả);
-          Nhầm rằng: Giải quyết nợ xấu của hệ thống ngân hàng không cần phải dùng đến ngân sách Chính phủ (nên vốn VAMC chỉ có 500 tỷ đồng);
-          Nhầm rằng: Các tập đoàn, tổng công ty có thể tự tái cấu trúc bằng các kế hoạch do chính họ soạn thảo (theo kiểu tự mình nắm đầu tóc kéo lên khỏi bùn);
-          Nhầm rằng: Có thể phục hồi khu vực tư nhân bằng các biện pháp tài khóa (giảm thuế) và tiền tệ (giảm lãi suất) (trong khi thực tế các thành tựu của Luật Doanh nghiệp đang gần như bị xóa sổ dần);
-          Nhầm rằng: Khu vực nông nghiệp có thể tiếp tục là tấm đệm, giảm sốc cho nền kinh tế, thu nhận hết lượng lao động công nghiệp bị mất việc (thực tế nền nông nghiệp rất dễ bị tổn thương, môi trường đang ô nhiễm, sức nông dân đã cạn).
Khác với lần khủng hoảng cuối thập niên 1990, lúc đó Việt Nam đã đưa ra những cải cách mạnh mẽ, nhất là việc cho ra đời Luật Doanh nghiệp năm 2000 nên kinh tế phục hồi nhanh chóng và bền vững trong nhiều năm liền, lần này chính sách chỉ thấy xoay quanh hai chuyện “nới lỏng” và “thắt chặt” nên nền kinh tế cứ giật cục, tăng trưởng cao thì lạm phát nhiều, kềm chế lạm phát thì kinh tế trì trệ. Ba chương trình cải cách lớn về doanh nghiệp nhà nước, hệ thống ngân hàng và đầu tư công hầu như chưa triển khai được gì cụ thể. Nợ xấu mà giải quyết theo cách như hiện nay chỉ là tạm thời khoanh nó lại, chuyển sang tương lai.
Nếu cứ để yên như thế này thì nền kinh tế sẽ chỉ còn tăng trưởng khoảng 3%, khó khăn kéo dài, doanh nghiệp tư nhân tiếp tục phá sản, thất nghiệp tiếp tục lan rộng.
Riêng tôi chỉ bổ sung thêm một ý: Nền kinh tế Việt Nam trước nay phát triển chủ yếu nhờ yếu tố vốn. Nay tín dụng không tăng thì làm sao có tăng trưởng? Tín dụng chắc chắn sẽ không tăng mạnh vì ngân hàng đang lo dọn dẹp lại bảng cân đối tài chính cho lành mạnh, doanh nghiệp cũng không còn sử dụng đòn bẩy nợ mạnh mẽ như trước, sức lực cũng không còn để đi vay chịu rủi ro. Nợ xấu mà giải quyết theo cách kéo dài trong năm năm thì ngân hàng càng không có sức lực hay động lực đâu để cho vay. Trong bối cảnh đó, như một quy luật bù trừ về khoản trống vốn, nhiều lãnh vực quan trọng của nền kinh tế tiếp tục rơi vào tay đầu tư nước ngoài, kể cả trực tiếp lẫn gián tiếp.

June 4, 2013

Tình yêu







Paul Krugman – Nhà kinh tế học được giải Nobel phá sản vì đuổi theo bong bóng

03/06/2013, Sue Smiley tổng hợp, Theo Book HunterNhà kinh tế học và cũng là nhà bình luận có tiếng trên tờ New York Times, Paul Krugman, đã chính thức tuyên bố phá sản cá nhân vào ngày 06/03/2013, sau mọi nỗ lực để thoát khỏi cảnh nợ nần của ông đã thất bại.

Trong bản khai theo điều khoản của Chương 13 gửi cho Tòa án Phá sản Mỹ (United States Bankruptcy Court) ở hạt miền Nam New York, các luật sư của Krugman đã kê khai khoản nợ 7,346,000 đô la Mỹ đối trọng với tổng giá trị tài sản ông sở hữu 33,000 đô la Mỹ.
Danh sách trên cho biết, khoản nợ chính của ông đến từ khoản vay mua nhà – mortgage financing (một hình thức vay nợ ngân hàng để mua nhà, được trả chậm hàng tháng) để mua một căn hộ 8.7 triệu đô ở khu Lower Manhattan, cùng với 621,537 đô la Mỹ nợ thẻ tín dụng và nợ công ty trang sức Tiffanys and Co. danh tiếng tổng cộng 33,642 đô bằng dịch vụ “in store financing” (một dịch vụ cho phép người mua hàng được mua trước hàng hóa mà không phải trả bất kỳ một khoản gốc hay lãi nào trong môt thời gian nhất định, có thể từ 12 đến 24 tháng. Quá thời hạn này, lãi suất có thể rất cao).



Bản khai cũng tiết lộ rằng, Krugman đã bắt đầu vướng mắc vào vấn đề nợ nần bằng thẻ tín dụng từ năm 2004, sau khi tiêu tán hết 84,000 đô trong thẻ American Express black trong vòng một tháng cho việc săn lùng những chai rượu Bồ Đào Nha quý hiếm và hàng dệt của Anh từ thế kỷ 19.

Nhưng thay vì việc thắt chặt hầu bao và trả các khoản nợ, nhà kinh tế học theo trường phái kinh tế học Keynes mới, lại quyết định “kích thích” để phục hồi tình hình tài chính cá nhân bằng cách tiếp tục đầu tư vào các khoản chi phí của mình, với hi vọng một ngày nào đó, việc làm này sẽ làm tăng cao thu nhập của ông.

Con gián và chủ nợ

Giữa những năm 2004 và 2007, Krugman phô trương phong cách mới của mình bên những chiếc xe hơi đắt tiền, quần áo hàng hiệu và những chuyến chu du đó đây, với hi vọng lối sống xa hoa này sẽ thuyết phục được những ông chủ của tờ New York Times, chấp nhận đề bạt ông lên một vị trí thật cao. Krugman lý giải rằng “Họ đã luôn luôn nói là phải luôn ăn mặc cho xứng với vị trí công việc mà anh mong muốn. Nên tôi đã nghĩ là nếu tôi có thể trưng diện trong bộ đồ vest 70,000 đô của thương hiệu Alexander Amosu, họ sẽ cho tôi cơ hội sở hữu một phần công ty. Chỉ cần tôi được giao cho một phần của New York Times thôi, tôi đã có thể trả được hết nợ rồi”.

Ngay cả khi Krugman đã nhận ra rằng sẽ không có một cuộc chia chác cổ phần nào diễn ra, ông vẫn tiếp tục hi vọng một cách mù quáng rằng hình ảnh long lanh của mình, cùng với sự xuất hiện trên phương tiện truyền thông sẽ làm tăng nhu cầu cho tên tuổi của ông và khiến sách của ông bán chạy.

Ông đã phạm phải một sai lầm nghiêm trọng nhất vào năm 2007 – vào thời điểm được cho là đỉnh cao của những màn vỡ bong bóng tài chính, khi ông quyết định đầu tư vào một bất động sản cao cấp tại thành phố New York. Căn hộ hàng triệu đô của ông đã mất giá tới 40% ngay vài tháng sau đó và nó đã trượt giá xuống mức thấp nhất chưa từng có.

Herman Minsky – một quan chức cấp cao của đài truyền hình đã nghỉ hưu – người đã mua được nhà của Krugman với một khoản hời lớn, nói rằng: “Bạn có bao giờ nghĩ là một nhà kinh tế học từng được trao giải Nobel về kinh tế có thể nhận định được về bong bóng nhà đất”. Và ông còn nói thêm “Nhưng này, tôi chẳng có gì để kêu ca phàn nàn cả”.

Lương tri của một kẻ lừa bịp

Krugman, một nhà kinh tế học nổi tiếng với các lý thuyết về thương mại, đã gia nhập tờ New York Times từ năm 2000 với tư cách là một nhà bình luận. Kể từ khi cuộc khủng hoảng tài chính bắt đầu diễn ra, ông đã tận dụng nền tảng này để lớn tiếng tranh cãi cho khái niệm mà ông gọi là “Keynesian deficit spending” – thâm hụt ngân sách theo trường phái Keynes.

Tuy nhiên, Keynes không hề ủng hộ việc vay nợ để kích thích nền kinh tế. Hơn thế nữa, ông còn bảo vệ quan điểm Chính phủ nên tiết kiệm trong thời kỳ hưng thịnh và chi tiêu trong thời kỳ đi xuống của nền kinh tế.

Krugman, thông qua vị luật sư của ông là Bertil Ohlin, đưa ra lời giải thích rằng mặc dù ông đang gặp khó khăn về những vấn đề tài chính cá nhân với những khoản chi tiêu và nợ nần, nhưng ông vẫn bảo vệ những chính sách theo trường phái Keynes mới của ông.

“Tôi vẫn bảo vệ những phân tích của mình ở mức độ vĩ mô, rằng Chính phủ hoàn toàn có thể cải thiện những khủng hoảng nợ công bằng cách tăng cường vay nợ để dịch chuyển đường tổng cầu. Tuy nhiên, tôi thừa nhận, ở mức độ vi mô thì chiến lược này đã thất bại thảm hại”.

June 3, 2013

Bao giờ nền kinh tế Việt sẽ phục hồi?

BAO GIỜ NỀN KINH TẾ VIỆT SẼ PHỤC HỒI?
T/S Alan Phan
3 June 2013
 
Tôi thích tạo ra rất nhiều dự đoán kinh tế. Người ta sẽ quên những dự đoán sai và chỉ cần họ nhớ một lần khi tôi trúng (Alan Cox)
Tuần qua tôi ra Hà Nội để nói chuyện ở 3 cuộc hội thảo nhỏ với khoảng 2 ngàn người. Câu hỏi đầu môi ở khắp nơi là “bao giờ kinh tế chúng ta mới phục hồi?”. Ngoài các quan chức, ai cũng muốn đánh giá và đo lường sức chịu đựng của họ trước cường độ và thời gian của cuộc khủng hoảng.
Lại chuyện dự đoán kinh tế
Tôi nghiêm túc lập lại các lý do tôi không còn làm những dự đoán kinh tế cho Việt Nam là vì (a) các số liệu thống kê toàn dựa trên thành tích và chỉ tiêu thay vì thực tế hay khoa học (b) nền kinh tế ngầm lớn hơn 30% sẽ làm sai lạc mọi kết luận và (c) phần lớn quyết định kinh tế đều xuất phát từ nhu cầu chính trị, trung ương đến địa phương.
Tôi tin rằng ngay cả những quan chức lãnh đạo kinh tế xứ này cũng không chắc chắn về quy trình để hoàn thành quyết định và chính sách hay cả về sự hữu hiệu của việc thực thi. Kiếm một vài tỷ đô la cho ngân sách qua việc mua bán độc quyền vàng và đô la; hay in tiền mà không gây lạm phát (vì suy thoái về tổng cầu quá nặng) không có nghĩa là “vận may” hay các “thủ thuật bùa phép” sẽ có những kết quả tương tự trong tương lai.
Mâu thuẫn của mô hình
Trong khi đó, căn bản yếu kém của nền kinh tế vẫn là một cấu trúc cốt lõi “kinh tế thị trường với định hướng xã hội”. Thực ra, ngay cả các nền kinh tế tự do của Âu Mỹ Úc đều chứa đựng những chất tố lẫn lộn giữa thị trường và xã hội. Nhưng chỉ tại Việt Nam mới có sự áp đặt “tùy tiện” của chính quyền trong vấn đề thực thi.
Như bất động sản, để bảo vệ quyền lợi cho các đại gia BDS, chúng ta để giá cả nhẩy múa thăng tiến theo giá thị trường. Khi dân không đủ tiền để trả giá cao như vậy thì chánh phủ bơm ngay 30,000 tỷ đồng ngân sách để cứu trợ. Khi ngân hàng kiếm tiền vô tội vạ bằng cách cho vay bừa bãi không kể đến rủi ro, chúng ta tôn vinh quy luật thị trường. Khi nợ xấu đe dọa sự sống còn của vài ngân hàng, chính phủ phát trành trái phiếu quốc gia với mệnh giá 100% để chuyển đổi dùm nợ xấu. Mọi ngành nghề khác trong nền kinh tế đều được quản lý tương tự.
Thông điệp của chánh phủ khá rõ ràng,” chúng ta sẽ cứu vài nhóm giàu có quyền lực bằng tiền thuế của toàn dân”. Điều này được biện minh là sự sụp đổ của nhóm nhỏ sẽ kéo theo sự sụp đổ chung của mọi người; do đó, nếu lấy 330 ngàn đồng mỗi người (nghèo đi không bao nhiêu), chúng ta sẽ có 30 ngàn tỷ đồng để kích cầu và phục hồi BDS.
Nhân cách suy nghĩ này lên 100 lần cho các gói cứu trợ khác, chúng ta sẽ có một bức tranh khá chính xác về nền kinh tế Việt Nam. Danh từ để gọi mô hình kinh tế vĩ mô này là “dở dở ương ương” hay “nửa đực nửa cái, nửa đồng bóng”.
Giải pháp rất đơn giản
Thực ra giải pháp cho sự phục hồi của nền kinh tế rất đơn giản nếu các nhà lãnh đạo xác quyết một con đường sẽ chọn. Nếu đây là một nền kinh tế thị trường đúng nghĩa, thì việc đầu tiên là bán hết các doanh nghiệp nhà nước qua các cuộc đấu giá quốc tế công khai minh bạch. Ước lượng của một công ty kiểm toán đa quốc là ngân sách sẽ thu về khoảng 70 tỷ đô la. Ngoài tiền bạc, hiệu ứng lớn nhất là niềm tin sẽ quay trở lại với các nhà đầu tư nội cũng như ngoại. Với 60 tỷ đô la trong dân và khoảng 30 tỷ FDI, dòng tiền sẽ khai thông phần lớn bế tắc hiện nay, kể cả BDS.
Nếu chúng ta nhất quyết giữ mô hình kinh tế chỉ huy, thì việc đầu tiên là đánh thuế thật nặng các doanh nghiệp và đại gia tư nhân, đẩy dòng tiền về các dự án xã hội, hạ tầng và để cho các doanh nghiệp nhà nước đầu tư tràn lan. Hậu quả là nạn lạm phát bùng nổ mạnh, mọi người dân sẽ nghèo đi một ít, tiêu dùng sẽ co cụm, GDP suy giảm, nhưng tựu trung xã hội sẽ thâu ngắn khoảng cách giầu nghèo, chánh phủ sẽ nắm chặt quyền bính và chúng ta có ổn định kiểu bao cấp. Viễn cảnh cũng nhận được khá nhiều ủng hộ từ 3 triệu công chức và gia đình. Họ muốn quên chuyện biển lớn để ta có thể về tắm ao ta. An toàn hơn.
Lựa chọn nào thì cũng cần một quyết tâm chánh trị và một sự ban phép về quyền lực từ trung ương. Tôi hoàn toàn không có thông tin nội bộ, cũng không là thầy bói biết số tử vi của các lãnh đạo để đoán mò. Cho nên, tôi thực tình không biết bao giờ thì chúng ta mới bắt đầu một chu kỳ phục hồi. Cũng có thể tương quan quyền lực sẽ không cho phép một đổi thay gì và chúng ta sẽ dậm chân tại chỗ trong vài năm tới?
Con thiên nga đen
Tuy nhiên trong 2 cuộc hội thảo vừa rồi, tôi có dịp thảo luận phân tích tình hình với anh Trương Đình Tuyển, cựu bộ trưởng. Anh vừa được thủ tướng bổ nhiệm làm đặc sứ trong cuộc đàm phán TPP (Hiệp định Đối tác Kinh tế Chiến lược xuyên Thái Bình Dương) ở Peru. Theo dự tính, nếu Việt Nam gia nhập TPP sau khi quốc hội Mỹ thông qua, GDP của Việt Nam có thể tăng trưởng 11% trong khi xuất khẩu gia tăng 26% mỗi năm. Đây sẽ là một cú hích quan trọng tương đương với việc gia nhập WTO.
Vài ba rào cản khá lớn trong tiến trình này:
-          Vì các điều khoản mậu dịch và mục tiêu của 12 nước thành viên chứa nhiều khác biệt, hiệp định sẽ không hoàn tất vào cuối 2013 như dự định mà có lẽ phải dời đến cuối 2014.
-          Hiệp định là một thủ thuật của Mỹ để kéo vài nước ASEAN và Nhật khỏi ảnh hưởng kinh tế của Trung Quốc (và từ đó, địa chánh trị). Gần như 80% thương mại và sản xuất của Việt Nam tùy thuộc vào Trung Quốc. Chắc chắn Trung Quốc sẽ không khoanh tay ngồi yên nhìn Mỹ lấy mất miếng mồi béo bở này.
-          Những điều kiện đòi hỏi từ các thành viên là sự minh bạch của quy chế thị trường, khó thực thi cho bối cảnh Việt Nam.
-          Quốc hội Mỹ quàng thêm điều kiện tự do và nhân quyền vào hiệp định. Dù chánh phủ Mỹ coi Việt Nam như đồng minh chiến lược (Đại sứ David Shear tuần rồi đến Little Saigon để “dân vận” cộng đồng Việt kiều), chưa chắc Obama sẽ có sự đồng thuận mong muốn.
Nếu TPP được thông qua với Việt Nam là thành viên vào cuối 2014, tôi nghĩ kinh tế Việt sẽ phục hồi mạnh mẽ vào giữa 2014. Hai quỹ đầu tư lớn của Mỹ dường như đánh cuộc vào kịch bản này khi KKR rót vào Masan 200 triệu USD và Warburg Pincus theo gương, đầu tư 200 triệu USD vào Vincom Retail.
Trong khi đó, chúng ta vẫn phải tiếp tục xin Ơn Trên phù hộ.
Alan Phan
P.S. Một câu hỏi bên lề hội thảo là gói kích cầu 30 ngàn tỷ chủ chánh phủ có thể vực dậy ngành BDS đang ngủ đông? Câu trả lời của Alan: KHÔNG.
T/S Alan Phan là tác giả của 9 cuốn sách về thị trường mới nổi, giảng viên thỉnh giảng tại các đại học Mỹ và Trung Quốc, và doanh nhân có 44 năm làm ăn tại Mỹ và Trung Quốc. Web site cá nhân của ông là www.gocnhinalan.com.

Khi cơn sốt Nick Vujicic lắng xuống

Blog GS. Nguyễn Văn Tuấn, 
Mấy ngày qua, cộng đồng báo chí và một số người có vẻ “sốt” lên với một nhân vật rất đặc biệt: Nick Vujicic, 31 tuổi. Tên anh có thể đọc là "Vooy-chíc". Người ta có vẻ như trông đợi những phát ngôn mang tính truyền cảm hứng cho giới trẻ và những lời khuyên về cách sống cho người kém may mắn. Giới báo chí viết về cuộc đời kém may mắn nhưng đầy thử thách của anh. Nhưng sau những lời nói truyền cảm đó, chúng ta phải quay về với thực tại và đương đầu với những thực tế có khi khó hơn là khi nghe ...    
Nick Vujicic sinh năm 1982 ở thành phố Brisbane (miền bắc nước Úc) trong một gia đình gốc Serbian. Chẳng may anh mắc hội chứng tetra-amelia, tức không có chân tay. Nhưng với nỗ lực phi thường, anh đã tốt nghiệp cử nhân về kế toán và tài chính từ Đại học Griffith University. Ngay từ tuổi 19, anh đã có ý định trở thành một nhà thuyết trình truyền cảm hứng, và chia sẻ chứng từ cá nhân của anh về Thượng đế có thể thay đổi cuộc đời. Anh là người tin vào Thượng đế, và tin rằng mỗi một cuộc đấu tranh trong cuộc sống đều có một mục đích. Anh quả quyết rằng thái độ của chúng ta trước những cuộc đấu tranh đó, cùng với niềm tin vào Thượng đế, là những chìa khoá để vượt qua những trở ngại và thách thức trong cuộc sống. Do đó, không ngẫu nhiên khi Wikipedia mô tả Nick Vujicic như là một người truyền giáo.
Một điều thú vị là Nick Vujicic nổi tiếng ở Việt Nam hơn là quê hương của anh (Úc). Tôi ở Úc đã hơn 32 năm mà chưa nghe đến tên anh ấy. Nhiều bạn tôi cũng chưa bao giờ biết đến tên anh ấy như là một public speaker – nhà diễn thuyết. Điều này có lẽ không ngạc nhiên, vì năm 2007, Nick Vujicic đã chuyển sang định cư ở California (Mĩ), và lập công ti “Life Without Limbs” (Cuộc đời không có tay chân). Từ đó, anh chu du khắp thế giới để chia sẻ câu chuyện đời của anh, và truyền cảm hứng cho học sinh, sinh viên, nhà giáo, doanh nhân, và nhà thờ. Anh đứng ngang hàng với những người chuyên nói chuyện truyền cảm hứng như Giám mục Desmond Tutu, Richard Branson, Mikhail Gorbachev, v.v. Dù anh được biết đến ở nhiều nơi, nhưng ở Úc thì ít người biết đến tên của anh.
Tôi chỉ nghe đến tên anh khi về Việt Nam tuần vừa qua. Hôm tôi ghé Nhà xuất bản Tổng Hợp, chị giám đốc hỏi tôi có nghe đến Nick Vujicic bên Úc, và tôi trả lời là chưa. Chị giám đốc cho biết báo chí Việt Nam đang lên cơn sốt về anh ấy. Một tập đoàn Việt Nam chi 31.7 tỉ đồng (tức hơn 1.5 triệu USD) để mời anh ấy đến Việt Nam thuyết trình. Hết sức ấn tượng! Con số này làm không ít người kinh ngạc.
Người khuyết tật dễ được sự cảm thông của công chúng, và câu chuyện của họ dễ làm cho chúng ta rung động. Nhưng cảm tính là một chuyện, còn lí trí và tài năng là một chuyện khác. Còn nhớ trong cuộc tranh tài MasterChef ở Mĩ, có một ứng viên gốc Việt là Christine Hà chiếm giải nhất. Chị chẳng may bị bệnh và mù. Đáng chú ý trong phần chấm thi là tuyên bố của một người trong ban giám khảo nói với Christine rằng ban giám khảo sẽ chấm giải dựa trên chất lượng món ăn do cô nấu, chứ không thiên vị cho người khuyết tật. Con số 31.7 tỉ đồng dành cho chuyến thuyết trình của Nick Vujicic là rất cao, nhưng chắc không phải vì anh là người khuyết tật.
Không biết có bao nhiêu người được nghe và hiểu những gì anh ấy nói. Có bao nhiêu trẻ em dị tật bẩm sinh như anh ấy ở Việt Nam có thể cảm nhận những trải nghiệm của anh ấy khi mà môi trường sống ở Việt Nam rất rất khác so với Úc. Những đứa trẻ em bán vé số hay đang ăn xin ngoài đường chắc chẳng bao giờ nghe được, hay có nghe được chưa chắc đã hiểu những câu nói mang tính triết lí cuộc đời của Nick Vujicic.
Cách đây 4 tuần, Viện nghiên cứu y khoa Garvan của chúng tôi có mời một nhà khoa học từng được trao giải Nobel đến giảng và “truyền lửa”. Ông được trả tiền vé máy bay nhưng không có thù lao. Tuy nhiên, một số tổ chức khác ở Úc nhân dịp mời ông nói chuyện để truyền cảm hứng, và thù lao cũng chỉ ở mức độ tượng trưng (cao lắm là 2000 USD). Theo tôi biết, chưa một siêu sao khoa học nào được trả thù lao lên đến 10 ngàn USD cho những buổi nói chuyện.
Những người “truyền lửa” có cái hay là họ có thể làm cho chúng ta hào hứng và tự tin hơn. Nhưng sau những giây phút hào hứng, nồng nhiệt, vỗ tay, chúng ta lại phải trở về thực tại và đối đầu với thực tế. Thực tế có khi không giống với những ví von, không đồng nghĩa với những danh từ hoa mĩ, không phù hợp với những lời khuyên giống như hiền triết. Chẳng hạn như nghe câu “cuộc đời của bạn ngày hôm nay phần lớn là biểu hiện của những trải nghiệm của bạn trong quá khứ”, hay “hãy nhận dạng, quản lí và làm chủ niềm tin của bạn; đó là di truyền, là lựa chọn của bạn” thoạt đầu nghe qua cũng hay hay, nhưng nếu chịu khó suy nghĩ cẩn thận, phân tích kĩ, và đặt vào bối cảnh thì có khi đó chỉ là những câu nói bồng bềnh, những sáo ngữ trơn tru để ru ngủ chúng ta mà thôi. Nói theo Dostoievski là chúng ta tự làm chủ và chịu trách nhiệm cho những việc mình làm, chứ chẳng có thế lực siêu hình nào hoán biến chúng ta từ nghèo thành giàu (hay ngược lại) được.
Bài đã đăng trên Tuổi trẻ cuối tuần 31/5/2013.

“Chém gió” bốn phương, làm ta ba lô thì sợ

Đi nước ngoài không chỉ là tới xem vịnh Phu Khet đẹp thế nào mà cái chính là để học cách người ta suy nghĩ, suy ngẫm, tranh luận, cách nào để người ta vươn lên nền kinh tế văn minh sáng tạo như vậy.

TS Alan Phan: “Trong cuộc hội thảo tại một trường ĐH, tôi đã ngạc nhiên khi thấy quá ít sinh viên Việt có hộ chiếu và đã từng xuất ngoại. Họ dành quá nhiều thời gian ngồi quán cà phê, quán nhậu “chém gió” lảm nhảm chứ không muốn làm… ta ba lô để đi tìm kiến thức và kinh nghiệm từ thế giới bên ngoài. Giới trẻ Việt Nam đa phần hiện nay lười làm việc, lười suy nghĩ, lười thay đổi...”.
. Phóng viên: Nếu như theo ông nhận định thì giới trẻ Việt Nam đang dậm chân tại chỗ chứ không phát triển và nên khuyến khích việc đi du lịch, thưa ông?
+ TS Alan Phan: 20 năm trước, tại các nước Âu, Mỹ tôi khó tìm ra một du khách Trung Quốc, Việt Nam hay Liên Xô. Hộ chiếu để xuất ngoại là một ân huệ và quyền lợi của “con ông cháu cha”. Bây giờ thì khắp thế giới đâu cũng có dấu ấn của các công dân của những nước này. Tuy nhiên, phần lớn họ thuộc hai loại sau: Thứ nhất vẫn là các quý tử con ông cháu cha hay tiêu xài hàng hiệu và khoe khoang thật “sốc” với dân địa phương; thứ hai là các ông bà già chắt chiu tiền tiết kiệm để đi những tour giá rẻ.
Tôi thấy người Việt, ngoài hai thành phần vừa kể, rất ít du khách là những… ta ba lô muốn đi tìm kiến thức và kinh nghiệm về thế giới bên ngoài. Tôi chắc chắn là chúng hào hứng và quý giá hơn các lớp học lý thuyết buồn tẻ.

Thiếu ước muốn và can đảm
. Muốn xuất ngoại phải có tiền và phải biết tiếng Anh mà sinh viên Việt Nam không phải ai cũng giàu, thưa ông?
+ Tôi tin là hơn nửa số sinh viên có mặt hôm hội thảo đó chắc có nhiều tiền hơn phần lớn các Tây ba lô mà chúng ta gặp ở Sài Gòn. Tiền tiêu cho những giờ “chém gió” tại các quán cà phê và các quán nhậu có thể nhiều hơn tiền tiêu mỗi ngày tại Thái Lan hay Myanmar. Vé máy bay đi nhiều nơi ở ASEAN rẻ hơn vé máy bay đi Hà Nội hay Đà Nẵng. Nếu họ chịu khó tìm tòi, học hỏi thì việc “chém gió phương xa” này sẽ khuếch trương được kiến thức của họ. Còn ngồi một chỗ “chém gió” về những cái mình không hiểu biết mà nói bậy thậm chí còn hậu quả trái ngược là nó giữ con người ở lại tầm thấp.
Trong buổi chiều tà, một anh chàng ta ba lô say mê ngắm 
nhìn cuộc sống ở Dubar Square, Kathmandu, Nepal.
Còn tiếng Anh thì chỉ cần học sáu tháng là có thể nói chuyện được. Nó cũng chỉ có những mẫu câu và một ít vốn từ là có thể nói chuyện. Còn phát âm, cứ nói nhiều thì người ta cũng hiểu được mình mà thôi. Về tiền bạc, ngay cả khi không có tiền thì một chân làm bếp hay dọn dẹp trên một con tàu cũng có thể cho bạn một chuyến đi miễn phí qua Âu, Úc hay Mỹ. Chỉ cần biết tìm tòi trên mạng thì sẽ tìm ra cả trăm cách thức để làm… ta ba lô.
. Theo ông, giới trẻ ở Việt Nam khác với các nước trên thế giới như thế nào?
+ Khác nhau hoàn toàn, không chỉ trong vấn đề du lịch mà nằm ở chỗ năng động, yêu thích tìm tòi. Họ luôn tìm kiếm những cái gì lạ, hay, mới để học hỏi. Còn cái học hỏi này có áp dụng được hay không là chuyện khác. Điều thiếu sót lớn nhất của giới trẻ Việt hiện nay là “ước muốn” và “can đảm”.
Học trò có thể giỏi hơn giáo sư
. Như ông nói, giới trẻ ỷ lại, chỉ lặp đi lặp lại những thứ xung quanh mình như con vẹt… và vấn đề này nằm trong giáo dục từ gia đình đến trường học, thưa ông?
+ Tất nhiên rồi, giáo dục có rất nhiều cách nhưng tôi muốn nói là tạo ra những đứa trẻ có tinh thần tự lập không chỉ về tiền bạc, kiến thức, trí tuệ, đạo đức… mà cho nó nền giáo dục toàn hảo. Chứ không phải chỉ là đến lớp mà thầy nói sao trò lặp lại. Các trường học ở Mỹ họ luôn khuyến khích học trò tự tìm tòi để hỏi lại, chất vấn giáo sư. Họ luôn luôn nói rằng chưa chắc giáo sư giỏi hơn học trò. Nếu học trò nghiên cứu kỹ một đề tài chuyên sâu thì họ cũng có khả năng sẽ giỏi hơn thầy. Ở Việt Nam, chúng ta phải chấp nhận ông thầy là đúng.
. Nhưng đấy là Mỹ, một số nước châu Âu thôi, còn các nước lân cận Việt Nam chắc cũng như ta, thưa ông?
+ Tôi không nghĩ vậy. Những đứa trẻ được sinh ra và lớn lên từ Singapore, Malaysia, Philippines ngay từ nhỏ đã có tư duy độc lập, ý thức không ỷ lại vào người khác. Ở những nước này cũng có nền học vấn rất cởi mở, khuyến khích sự sáng tạo, đột phá…
. Vậy liệu có nước nào nhờ sự năng động, cởi mở của giới trẻ mà trở nên phát triển, thưa ông?
+ Hàn Quốc tiến triển rất mạnh như ngày hôm nay là do sự cởi mở. Đã có thời Hàn Quốc còn độc tài thì nước họ như trại quân đội. Nhưng sau đó sự cởi mở, tiến bộ đã thúc đẩy nước này phát triển khá nhanh. Hồi đó Hàn Quốc chỉ có hơn 20 triệu người nhưng số sinh viên đi du học ở Mỹ là đông nhất.
Hay như Thái Lan, giới trẻ ở nước này dường như khác hoàn toàn với Việt Nam. Họ tò mò hơn, tìm hiểu nhiều hơn, ĐH “mở” hơn… Đề tài khoa học tại các trường đều được khuyến khích tranh luận, kể cả các vấn đề chính trị-xã hội. Dường như những buổi tranh luận để đưa ra góc nhìn khác nhau hoàn toàn thiếu vắng ở các trường ĐH Việt Nam.
. Nghĩa là chính sự thiếu cởi mở và không cởi bỏ tư duy giáo dục cũ đã kìm hãm sự phát triển?
+ Đúng vậy, người ta sợ, thành ra đây là rào cản lớn nhất cho trí tuệ Việt Nam phát triển. Nên giới trẻ khi lớn lên học chỉ lặp lại kiến thức cũ mèm. Dù các kiến thức đó vẫn hiện diện trên mạng và có nhiều cách để tìm tòi.
Không dám bước ra cái vỏ của mình
. Không thể đổ lỗi hoàn toàn do nhà trường giáo dục, còn việc giáo dục là từ gia đình, thưa ông?
+ Ở mỗi con người, trường học và gia đình có ảnh hưởng nhất định đến đời sống và suy nghĩ của cá nhân đó. Con cái ỷ lại cha mẹ, vợ ỷ vào chồng, chồng ỷ vào bạn bè… Mình phải thay đổi lối tư duy ỷ lại gia đình, trường học. Nếu cầm tiêu những đồng tiền mình kiếm ra thì mình sẽ trân trọng hơn. Kiến thức của mình tìm được nó sâu xa hơn ông thầy truyền lại… tất cả cái đó là hành động tạo ra sự tự lập, sau này sẽ giúp họ rất nhiều trong vấn đề công ăn việc làm, sống với gia đình, xã hội… Cái chính vẫn là tự mình.
. Nhưng thưa ông, phải chờ học từ cấp 1 lên cấp 3, rồi tốt nghiệp ĐH mới xin việc. Còn việc làm thêm đa số chỉ là của mấy sinh viên nghèo tỉnh lẻ và cũng chỉ là công việc phụ không ổn định?
+ Vấn đề không phải là việc làm thêm mà ý thức tự lập, trách nhiệm của bản thân và cộng đồng của giới trẻ. Họ không sáng tạo trong tư duy, lười biếng và ỷ lại. Ở các nước châu Âu, tất cả trẻ em đều được đến trường và trong phạm vi từ khoảng 8 giờ sáng đến 5 giờ chiều chẳng hạn là giờ học thì nghiễm nhiên là trẻ con đi học. Còn lại thời gian khác thì cha mẹ đều khuyến khích con mình làm việc để biết giá trị của lao động.
Từ những gia đình giàu có, trung lưu hay hạ lưu, con cái họ đều biết kiếm tiền từ thuở bé. Khi còn bé ra quét vườn, giặt đồ giúp mẹ thì được mẹ cho vài đồng. Chúng dùng chính số tiền này để mua những món đồ mình thích chứ không phải muốn gì được nấy. Sau này nhiều đứa trẻ không muốn nhờ cha mẹ thì chúng lại xin những công việc khác để có tiền tiêu vặt. Chúng ta vẫn thấy những em học sinh đạp xe đạp vào sáng sớm giao báo dài hạn cho những gia đình khu vực lân cận. Có nhiều đứa trẻ thứ Bảy, Chủ nhật ra công viên bày ra một lô nước chanh bán vài ba chục xu cho người nào khát. Chính vì thế giới trẻ của Mỹ luôn năng động và sáng tạo ngay từ niên thiếu. Còn tư duy của giới trẻ Việt Nam không dám bước ra khỏi cái hộp của mình.
. Nhưng nhiều gia đình khá giả ở Việt Nam không muốn con mình phải nhọc công vất vả, thưa ông?
+ Đó là cách giáo dục sai. Việt Nam mắc bệnh sĩ diện rất cao, không gia đình giàu có nào lại chịu để con đi quét rác. Còn ở Mỹ, người đi hốt rác là đi hốt rác, có gì mà xấu hổ. Thậm chí ở Mỹ có những nghề kiếm ra nhiều tiền không kém gì các sinh viên tốt nghiệp ĐH như nghề thợ sửa ống nước.
. Xin cảm ơn ông.
Bắt đầu với 2 USD/giờ với chân phục vụ
TS Alan Phan kể, khi còn nhỏ, dù sống ở Việt Nam nhưng ông cũng đã đi đến rất nhiều nơi. Đến năm 17 tuổi, ông du học Mỹ với gói học bổng bao ăn ở và học phí mỗi tháng là 180 USD. Để có tiền tiêu vặt, TS Alan Phan đi làm bồi bàn, thời những năm 1963-1964 họ trả là 2 USD/giờ. Như vậy mỗi tháng ông kiếm được 80 USD. Thường cứ ba tháng có một kỳ nghỉ hè 10 ngày thì ông gom số tiền này đi du lịch.
TS Alan Phan kể, có lần ông hàng xóm kêu vườn cây tốt quá nhờ Alan cắt rồi trả công 10 USD. Nói chung ai kêu gì làm cái đó. “Đến năm thứ ba, tôi được một giáo sư trong trường ĐH thuê làm việc trong trường. Công việc là lau dụng cụ, sửa soạn bàn học cho sinh viên. Công việc này cũng dính tới chút chuyên môn nên ông ấy trả 3-3,5 USD/giờ. Nên một tháng lại nhiều hơn nhưng cũng vẫn là làm việc tay chân” - TS Alan Phan kể.
YÊN TRANG  thực hiện

June 1, 2013

Lời bộc bạch của một trí thức hèn nhát


LỜI BỘC BẠCH CỦA MỘT TRÍ THỨC “HÈN NHÁT”

Một bản bộc bạch rất hay, rất đúng với tâm trạng của tôi và cũng đúng với phần lớn các tiến sĩ khác được đào tạo ở nước ngoài và đã có giai đoạn về Việt Nam làm việc. 

Chúng tôi muốn cống hiến, những cống hiến có ích thực sự cho sự phát triển của dân tộc Việt Nam, đất nước Việt Nam, cho hai chữ Việt Nam nổi bật trên nền học thuật của khu vực và thế giới, cho thế hệ con cháu chúng ta mai sau chứ không phải là những cống hiến phục vụ một đảng phái hay một thế lực nào.
Tuy nhiên chẳng thể nào cống hiện được khi sự thực thật bị bưng bít, chân lý bị bẻ cong, mọi thứ không được minh bạch, quyền lực không bị kiểm soát...
Vì thế mà các tiến sĩ thời này chỉ còn cách "thích đọc" để giải sầu thay vì "thích viết" ra những điều có ích cho đất nước..


LỜI BỘC BẠCH CỦA MỘT TRÍ THỨC “HÈN NHÁT”

Tác giả: một tiến sĩ trẻ, đẹp trai, nhưng tự nhận mình “hèn nhát ” và xin lỗi bạn đọc khi không công khai tên họ.
Tôi, có thể xem là một trí thức không? 
Tôi sinh năm 1982, một người đàn ông Việt Nam.
Tôi được sinh ra trong một gia đình khá giả, bố mẹ có chút địa vị xã hội và là doanh nhân, từ bé tôi đã được chăm sóc, nuôi nấng khá đầy đủ, có phòng riêng, có gia sư kèm cặp chuyện học hành. Tôi là con trai độc nhất của gia đình.
Tôi may mắn được bố mẹ tạo điều kiện cho tôi được du học ở trời Tây trong quãng thời gian là sinh viên theo diện tư phí. Nhờ bản chất thông minh sáng dạ nên tôi đã giành được một suất học hổng cho bậc học Thạc sỹ và liên tiếp cho bậc tiến sỹ do chính phủ cấp cho du học sinh, không phải bằng nguồn ngân sách của Việt Nam. Tôi trở thành tiến sĩ ở một cái tuổi khá trẻ giống như các bạn người bản xứ nhưng rất trẻ so với mặt bằng chung ở Việt Nam, 27 tuổi.

Tôi yêu công việc nghiên cứu nên đã qua một nước tư bản khác, làm việc với chức danh học giả (Postdoc-Fellow), mức lương dù không hẳn là rất cao nhưng cũng là cao đủ để tôi có thể sống rất thoải mái, đi du lịch nhiều nơi. Tôi nghĩ, lứa tuổi của tôi cái quan trọng là tích lũy kiến thức, thiết lập các mối quan hệ với các nhà khoa học để sau này quay về phục vụ tổ quốc của mình. Sau hai năm làm việc, tôi đã muốn trở về VN để cống hiến. Với tôi, áp lực kinh tế không phải là quá lớn và tôi muốn thực sự cống hiến.

Thế nhưng khi quay về VN, tôi đã nhận ra một thực tế đau lòng. Gần như chẳng có nghiên cứu khoa học thực sự. Họ thường tự nghĩ ra một cái “công trình” có vẻ như rất đao to búa lớn, rót vào đó tiền tỉ, chỉ để báo cáo trong hội trường. Họ nghĩ, những người như chúng tôi, hoặc là muốn trở về vì không thể ở lại nước ngoài, hoặc muốn lên làm lãnh đạo, chen vào những vị trí béo bở để có thể đút túi một cách hợp pháp những khoản tiền khủng dựa vào cái mác trí thức, một trí thức được đào tạo rất bài bản ở nước ngoài về.

Đối với trí thức như tôi, được lao động, được cống hiến, được khám phá và bảo vệ chân lý là niềm hạnh phúc. Bỏ qua những nỗi lo toan về cơm áo gạo tiền, tôi chỉ muốn làm nghiên cứu khoa học một cách nghiêm túc bởi vì tất cả những giả dối, lừa gạt và cẩu thả sẽ bị phanh phui và bị lên án không sớm thì muộn. Hãy nhìn những sự giả mạo, đạo văn của những người làm khoa học không nghiêm túc ở các nước tư bản mà xem, họ bị trừng phạt rất khủng khiếp, nếu không có những khoản tích lũy trước đó, cuộc sống gần như đóng sầm cửa lại khi họ bị gỡ bỏ các công bố trên tạp chí khoa học, bị tước chức danh khoa học, bị thôi việc. 


Ở Việt Nam, tôi ngạc nhiên đến tròn mắt khi một người có “tiếng tăm” trong làng học thuật nói với tôi rằng “muốn được xét duyệt đề tài thì phải ngoại giao, phương pháp, hiệu quả chẳng là cái mốc xì gì đâu” khi họ rỉ tai tôi trong lúc chén chú chén anh.

Thử hỏi, có đất nước nào, xã hội nào có thể phát triển được khi những kết quả nghiên cứu khoa học lại được xây dựng dựa vào sự quen biết, dựa vào sự xào nấu chế biến thậm chí bịa đặt?

Dù biết rằng cha mẹ tôi rất buồn, nhưng rồi tôi lại xách va li ra đi khi tôi tìm được một vị trí làm việc khá tốt với mức lương cũng tương đối so với mặt bằng chung (68 nghìn UDS/năm) ở một viện nghiên cứu tại một nước tư bản.

Chắc là tôi lại phải chờ đợi, chờ đợi một sự thay đổi ở Việt Nam, để rồi sau đó tôi sẽ trở về để cống hiến sức lực trong việc xây dựng đất nước với một mức lương thấp, thậm chí rất thấp. Chẳng thể nào tốt đẹp khi sự thực thật bị bưng bít, chân lý bị bẻ cong, mọi thứ không được minh bạch, quyền lực không bị kiểm soát.

Người Nhật, người Hà Lan, người Mỹ…, họ đã có những con người của nhiều thế hệ trước đó biết làm việc, biết cống hiến phụng sự hết mình cho tổ quốc, cho dân tộc họ thì họ mới có được như ngày hôm nay, chẳng có một thành quả nào tự nhiên dễ dàng có được mà không phải phấn đấu cống hiến. Vì thế, tôi muốn là một nhà khoa học chân chính chứ không muốn là một thứ trang sức dùng để trang trí cho đẹp đội hình. 

Và sự cống hiến của tôi là có thật, những cống hiến đó sẽ là có ích thực sự cho dân tộc tôi, cho hai chữ Việt Nam trên nền học thuật của khu vực và thế giới, cho thế hệ con cháu chúng ta chứ không phải là những cống hiến phục vụ một đảng phái hay một thế lực nào.

Tôi biết, bạn bè của tôi nhiều, rất nhiều người như thế. 
Liệu tôi phải chờ đợi đến bao giờ????

http://hailuablog.wordpress.com/2013/05/31/loi-boc-bach-cua-mot-tri-thuc-hen-nhat/